Tuy nhiên các thuật toán này lại vấp phải một vấn đề là các tri thức thường là kinh nghiệm của con người, do đó nó có thể chưa chính xác, đầy đủ và điều này có thể dẫn tới sự chệch hướng
Trang 2Luận văn được hoàn thành với lòng tri ân sâu sắc mà tôi xin kính gửi đến các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, đồng môn và gia đình thân yêu của tôi
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Thanh Hà,
Thầy đã định hướng cho tôi chọn đề tài, trực tiếp tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi, thầy không quản ngại thời gian, công sức để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Toán cùng các thầy cô trong trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giúp đỡ, giảng dạy, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gan học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình tôi, họ đã luôn sát cánh bên tôi, che chở động viên tôi Tôi xin cảm ơn BGH, Phòng đào tạo&NCKH, Phòng khảo thí KĐCL - Trường Cao Đẳng Y tế Phú Thọ đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi để tôi yên tâm học tập, làm việc và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng khóa cao học K17 – Đợt 2 (2013 -2015) nói chung và chuyên ngành Toán ứng dụng nói riêng đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên
Đỗ Thị Minh Phương
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Đỗ Thị Minh Phương
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Đóng góp mới của đề tài 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIẢI THUẬT DI TRUYỀN 3
1.1 Mở đầu 3
1.2 Các khái niệm cơ bản của giải thuật di truyền 4
1.2.1 Giới thiệu chung 4
1.2.2 Giải thuật di truyền đơn giản 5
1.3 Cơ chế hoạt động của giải thuật di truyền 9
Chương 2 GIẢI THUẬT DI TRUYỀN GIẢI BÀI TOÁN TỐI ƯU ĐA RÀNG BUỘC 23
2.1 Giải thuật di truyền với biểu diễn thực 23
2.1.1 Biểu diễn nhiễm sắc thể bằng số thực 23
2.1.2 Nhóm toán tử đột biến 24
2.1.3 Nhóm toán tử lai tạo 26
2.2 Vấn đề tối ưu số và xử lý ràng buộc 28
2.2.1 Bài toán tối ưu số 28
2.2.2 Đột biến đồng dạng 31
2.2.3 Đột biến biên 32
2.2.4 Đột biến không đồng dạng 32
2.2.5 Lai số học 32
Trang 5TOÁN TỐI ƯU HÓA KHẨU PHẦN THỨC ĂN CHĂN NUÔI 34 3.1 Bài toán tối ưu hóa khẩu phần thức ăn chăn nuôi 34 3.2 Xây dựng giải thuật di truyền xác định khẩu phần thức ăn chăn nuôi 40 3.2.1 Xác định hàm mục tiêu và các ràng buộc 40 3.2.2 Xây dựng giải thuật di truyền tối ưu hóa khẩu phần thức ăn lợn 42 KẾT LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6Bảng 1.1 Minh họa quá trình chọn lọc 8
Bảng 1.2 Minh họa quá trình lai ghép 9
Bảng 2.1 Minh họa quá trình đột biến 20
Bảng 2.2 Các vị trí đột biến 21
Bảng 3.1 Bảng dinh dưỡng tại các thời kỳ nuôi 35
Bảng 3.2 Khuyến cáo chất dinh dưỡng cần thiết trong một khẩu phần thức ăn 36
Bảng 3.3 Thành phần thức ăn thường sử dụng trong khẩu phần thức ăn 37
Bảng 3.4: Giá các thành phần dinh dưỡng tại Việt Nam 51
Bảng 3.5: Phân tích khẩu phần thức ăn – thử nghiệm 1 52
Bảng 3.6: Phân tích khẩu phần thức ăn – thử nghiệm 2 53
Bảng 3.7: Phân tích khẩu phần thức ăn – thử nghiệm 3 54
Bảng 3.8: Phân tích khẩu phần thức ăn – thử nghiệm 4 55
Bảng 3.9: Phân tích khẩu phần thức ăn – thử nghiệm 5 56
Bảng 3.10: Phân tích khẩu phần thức ăn – thử nghiệm 6 57
Trang 7Hình 1.1 Sơ đồ lai ghép 1 điểm cắt 6 Hình 1.2 Minh họa bánh xe Rulet 12 Hình 2.2 Biểu diễn giá trị của 25
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cho đến nay đã có nhiều thuật toán tìm lời giải tối ưu cho nhiều lĩnh vực bài toán, ví dụ như trong bài toán tìm kiếm trên danh sách, cây, đồ thị các nhà khoa học đã đưa ra thuật toán tìm kiếm quay lui, vét cạn Các thuật toán này tuy tìm được nghiệm tối ưu nhưng chỉ áp dụng được cho các bài toán có không gian tìm kiếm nhỏ
Để khắc phục các hạn chế như trên các nhà khoa học cũng đã đưa ra các thuật toán tìm kiếm heurictics, đây là thuật toán có sử dụng các tri thức về lĩnh vực bài toán để nhằm giảm thời gian tìm kiếm Tuy nhiên các thuật toán này lại vấp phải một vấn đề là các tri thức thường là kinh nghiệm của con người, do đó nó có thể chưa chính xác, đầy đủ và điều này có thể dẫn tới sự chệch hướng trong quá trình tìm kiếm
Giải thuật tiến hóa cung cấp những kỹ thuật tìm kiếm tối ưu giúp ta giải quyết được những vấn đề đã đặt ra ở trên, nó cho phép ta tìm kiếm lời giải tối
ưu trên các không gian lớn, nguyên tắc cơ bản của giải thuật tiến hóa là mô phỏng quá trình tiến hóa của tự nhiên Cho đến nay lĩnh vực nghiên cứu về giải thuật tiến hóa đã thu được nhiều thành tựu, giải thuật tiến hóa được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực phức tạp, các vấn đề khó có thể giải quyết được bằng phương pháp thông thường
Một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay là bài toán tối ưu phi tuyến tổng quát:
Tìm x để hàm f(x), x=(x1,…,x q) R q đạt giá trị tối ưu thỏa:
p≥0 phương trình g j (x)=0, j=0, ,p và
m-p bất phương trình h j (x), j=p+1, ,m
Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp nào giúp xác định cực trị cho bài
toán tối ưu tổng quát, chỉ khi hàm mục tiêu và các ràng buộc g j và h j thỏa một
Trang 9số tính chất nào đó thì đôi khi mới tìm được tối ưu toàn cục
Với khả năng tiềm tàng của giải thuật di truyền, đề tài luận văn sẽ đi nghiên cứu cơ sở toán học và xây dựng giải thuật di truyền để giải bài toán tối
ưu phi tuyến như đã đề cập Ngoài ra đề tài sẽ nghiên cứu triển khai một ứng dụng lập khẩu phần ăn cho gia súc trên cơ sở tối ưu giá thành sản xuất
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu giải thuật di truyền giải bài toán tối ưu đa ràng buộc
- Nghiên cứu ứng dụng giải thuật di truyền trong bài toán tối ưu hóa khẩu phần thức ăn chăn nuôi
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các khái niệm cơ bản và cơ sở toán học của giải thuật di truyền
- Nghiên cứu cơ chế hoạt động của giải thuật di truyền trong bài toán tìm cực trị hàm nhiều biến
- Nghiên cứu bài toán tối ưu phi tuyến đa ràng buộc và xây dựng cơ sở toán học và giải thuật di truyền giải bài toán này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các khái niệm cơ bản của giải thuật tiến hóa
- Nghiên cứu cơ chế hoạt động của giải thuật di truyền
- Xây dựng giải thuật di truyền cho bài toán tối ưu hóa hàm phi tuyến
- Nghiên cứu bài toán lập khẩu phần ăn cho gia súc và ứng dụng giải thuật di truyền trong bài toán lập khẩu phần ăn cho gia súc
5 Đóng góp mới của đề tài
Luận văn hệ thống các kiến thức về giải thuật di truyền, xây dựng giải thuật giải bài toán tối ưu hóa đa ràng buộc và ứng dụng giải thuật vào bài toán tối ưu hóa khẩu phần thức ăn chăn nuôi
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với cài đặt thực nghiệm
Trang 10Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIẢI THUẬT DI TRUYỀN
1.1 Mở đầu
Giải thuật di truyền (Gennetic Algorithm, viết tắt là GA) là giải thuật tìm kiếm, chọn lựa các giải pháp tối ưu để giải quyết các bài toán khác nhau dựa trên cơ chế chọn lọc tự nhiên của ngành di truyền học
Trong cơ thể sinh vật, các gen liên kiết với nhau theo cấu trúc dạng chuỗi gọi là nhiễm sắc thể, nó đặc trưng cho mỗi loài và quyết định sự sống còn của
cơ thể đó
Một loài muốn tồn tại phải thích nghi với môi trường, cơ thể sống nào thích nghi với môi trường hơn thì sẽ tồn tại và sinh sản với số lượng ngày càng nhiều hơn, trái lại những loài không thích nghi với môi trường sẽ dần dần bị diệt chủng
Môi trường tự nhiên luôn biến đổi, nên cấu trúc nhiễm sắc thể cũng thay đổi để thích nghi với môi trường, và ở thế hệ sau luôn có độ thích nghi cao hơn ở thế hệ trước Cấu trúc này có được nhờ vào sự trao đổi thông tin ngẫu nhiên với môi trường bên ngoài hay giữa chúng với nhau
Dựa vào đó các nhà khoa học máy tính xây dựng nên một giải thuật tìm kiếm tinh tế dựa trên cơ sở chọn lọc tự nhiên và quy luật tiến hóa, gọi là giải
Trang 11ngẫu nhiên mang tính tổng quát để giải các bài toán tối ưu hoá [1,3,4,9]
1.2 Các khái niệm cơ bản của giải thuật di truyền
1.2.1 Giới thiệu chung
Giải thuật GA thuộc lớp các giải thuật tìm kiếm tiến hoá Khác với phần lớn các giải thuật khác tìm kiếm theo điểm, giải thuật GA thực hiện tìm kiếm
song song trên một tập được gọi là quần thể các lời giải có thể
Thông qua việc áp dụng các toán tử di truyền, giải thuật GA tráo đổi thông tin giữa các cực trị và do đó làm giảm thiểu khả năng kết thúc giải thuật tại một cực trị địa phương Trong thực tế, giải thuật GA đã được áp dụng thành công trong nhiều lĩnh vực
Giải thuật GA lần đầu được tác giả Holland giới thiệu vào năm 1962
Giải thuật GA mô phỏng quá trình tồn tại của các cá thể có độ phù hợp tốt
nhất thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên, sao cho khi giải thuật được thực
thi, quần thể các lời giải tiến hoá tiến dần tới lời giải mong muốn
Giải thuật GA duy trì một quần thể các lời giải có thể của bài toán tối ưu hoá Thông thường, các lời giải này được mã hoá dưới dạng một chuỗi các
gien Giá trị của các gien có trong chuỗi được lấy từ một bảng các ký tự được định nghĩa trước Mỗi chuỗi gien được liên kết với một giá trị được gọi là độ phù hợp Độ phù hợp được dùng trong quá trình chọn lọc
Cơ chế chọn lọc đảm bảo các cá thể có độ phù hợp tốt hơn có xác suất được lựa chọn cao hơn Quá trình chọn lọc sao chép các bản sao của các cá
thể có độ phù hợp tốt vào một quần thể tạm thời được gọi là quần thể bố mẹ
Các cá thể trong quần thể bố mẹ được ghép đôi một cách ngẫu nhiên và tiến
hành lai ghép tạo ra các cá thể con
Sau khi tiến hành quá trình lai ghép, giải thuật GA mô phỏng một quá
trình khác trong tự nhiên là quá trình đột biến, trong đó các gien của các cá
thể con tự thay đổi giá trị với một xác suất nhỏ
Trang 12Tóm lại, có 6 khía cạnh cần được xem xét, trước khi áp dụng giải thuật
GA để giải một bài toán, cụ thể:
+ Mã hoá lời giải thành cá thể dạng chuỗi
+ Hàm xác định giá trị độ phù hợp
+ Sơ đồ chọn lọc các cá thể bố mẹ
+ Toán tử lai ghép
+ Toán tử đột biến
+ Chiến lược thay thế hay còn gọi là toán tử tái tạo
Có nhiều lựa chọn khác nhau cho từng vấn đề trên Phần tiếp theo sẽ đưa
ra cách lựa chọn theo J.H Holland khi thiết kế phiên bản giải thuật GA đầu
tiên Giải thuật này được gọi là giải thuật di truyền đơn giản (SGA)
1.2.2 Giải thuật di truyền đơn giản
Trong giải thuật di truyền của mình J H Holland sử dụng mã hoá nhị phân để biểu diễn các cá thể, lý do là phần lớn các bài toán tối ưu hoá đều có thể được mã hoá thành chuỗi nhị phân khá đơn giản [2,3]
Hàm mục tiêu, hàm cần tối ưu, được chọn làm cơ sở để tính độ phù hợp
của từng chuỗi cá thể Giá trị độ phù hợp của từng cá thể sau đó được dùng để tính toán xác suất chọn lọc
Sơ đồ chọn lọc trong giải thuật SGA là sơ đồ chọn lọc tỷ lệ Trong sơ đồ
chọn lọc này, cá thể có độ phù hợp f i có xác suất chọn lựa
1
i i j j
ở đây N là số cá thể có trong quần thể
Toán tử lai ghép trong giải thuật SGA là toán tử lai ghép một điểm cắt Giả sử chuỗi cá thể có độ dài L (có L bít), toán tử lai ghép được tiến hành qua
hai giai đoạn là:
+ Hai cá thể trong quần thể bố mẹ được chọn một cách ngẫu nhiên với phân bố xác suất đều
Trang 13+ Sinh một số ngẫu nhiên j trong khoảng [1, L-1] Hai cá thể con được tạo ra bằng cách sao chép các ký tự từ 1 đến j và hoán đổi các ký tự từ j + 1 đến L
Hình 1.1 Sơ đồ lai ghép 1 điểm cắt
Điều đáng lưu ý là giải thuật GA không yêu cầu toán tử lai ghép luôn xảy ra đối với hai cá thể bố mẹ được chọn Sự lai ghép chỉ xảy ra khi số ngẫu nhiên tương ứng với cặp cá thể bố mẹ được sinh ra trong khoảng [0, 1) không
lớn hơn một tham số p c (gọi là xác suất lai ghép) Nếu số ngẫu nhiên này lớn hơn p c, toán tử lai ghép không xảy ra Khi đó hai cá thể con là bản sao trực tiếp của hai cá thể bố mẹ
Tiếp theo, J H Holland xây dựng toán tử đột biến cho giải thuật SGA
Toán tử này được gọi là toán tử đột biến chuẩn Toán tử đột biến duyệt từng
gien của từng cá thể con được sinh ra sau khi tiến hành toán tử lai ghép và
tiến hành biến đổi giá trị từ 0 sang 1 hoặc ngược lại với một xác suất p m được
gọi là xác suất đột biến
Cuối cùng là chiến lược thay thế hay còn gọi là toán tử tái tạo Trong giải thuật SGA, quần thể con được sinh ra từ quần thể hiện tại thông qua 3 toán tử
là chọn lọc, lai ghép và đột biến thay thế hoàn toàn quần thể hiện tại và trở thành quần thể hiện tại của thế hệ tiếp theo
Trang 14Sơ đồ tổng thể của giải thuật được thể hiện qua thủ tục GSA() trình bày dưới đây:
Thủ tục SGA() /* Giải bài toán tối ưu */
do { // Chuyển đổi giá trị hàm mục tiêu thành giá trị độ phù hợp và
// tiến hành chọn lọc tạo ra quần thể bố mẹ P parent
Pparent = chọn_lọc (Pk );
// Tiến hành lai ghép và đột biến tạo ra quần thể cá thể con P child
Pchild = đột_biến (lai_ghép (Pparent));
// Thay thế quần thể hiện tại bằng quần thể cá thể con
k = k + 1;
Pk = Pchild; tính_hàm_mục_tiêu (Pk);
// Nếu giá trị hàm mục tiêu obj của cá thể tốt nhất X trong quần // thể P k lớn hơn giá trị hàm mục tiêu của X best thì thay thế lời giải
X = tốt_nhất (Pk);
Trang 15if ( obj (X) > obj (Xbest) ) Xbest = X;
} while ( k < G); /* Tiến hành G thế hệ */
return (Xbest); /* Trả về lời giải của giải thuật GA*/
}
Giải thuật di truyền phụ thuộc vào bộ 4 (N, p c , p m , G), trong đó:
N - số cá thể trong quần thể; p c - xác suất lai ghép; p m - xác suất đột biến; G - số thế hệ cần tiến hoá
Đó chính là các tham số điều khiển của giải thuật SGA Cá thể có giá trị hàm mục tiêu tốt nhất của mọi thế hệ là lời giải cuối cùng của giải thuật SGA Quần thể đầu tiên được khởi tạo một cách ngẫu nhiên
Ví dụ: xét bài toán tìm max của hàm f(x) = x2 với x là số nguyên trên
đoạn [0,31]
Để sử dụng giải thuật di truyền ta mã hóa mỗi số nguyên x trong đoạn [0,31] bởi một số nhị phân có độ dài 5, chẳng hạn chuỗi 11000 là mã của số nguyên 24
Hàm thích nghi được xác định chính là hàm f(x)=x2
Quần thể ban đầu gồm 4 cá thể (kích thước quần thể n=4)
Thực hiện quá trình chọn lọc ta có bảng sau, trong bảng này ta thấy cá thể 2 có độ thích nghi cao nhất nên nó được chọn 2 lần, cá thể 3 có độ thích nghị thấp nhất không được chọn lần nào, mỗi cá thể 1 và 4 được chọn 1 lần
Bảng 1.1 Minh họa quá trình chọn lọc
Số lần được chọn
Trang 16Thực hiện quá trình lai ghép với xác suất lai ghép pc=1, cả 4 cá thể sau chọn lọc đều được lai ghép
Kết quả lai ghép được cho trong bảng sau, trong bảng này, chuỗi thứ nhất được lai ghép với chuỗi thứ hai với điểm lai ghép là 4, hai chuỗi còn lại được lai ghép với nhau với điểm ghép là 2
Bảng 1.2 Minh họa quá trình lai ghép Quần thể sau
chọn lọc
Điểm ghép
Quần thể sau
Độ thích nghi f(x)=x 2
Để thực hiện quá trình đột biến, ta chọn xác suất đột biến pm=0.001, tức
là ta hy vọng có 5 x 4 x 0.001 = 0.02 bit được đột biến, do đó sẽ không có bit nào được đột biến
Như vậy thế hệ quần thể mới là quần thể sau lai ghép
Ta thấy rằng trong thế hệ ban đầu độ thích nghi cao nhất là 576 và độ thích nghi trung bình là 292 Còn trong thế hệ mới, độ thích nghi cao nhất là
729 và độ thích nghi trung bình là 438 Như vậy chỉ qua một thế hệ, các cá thể
đã “tốt lên” rất nhiều
1.3 Cơ chế hoạt động của giải thuật di truyền
Giải thuật di truyền với biểu diễn nhiễm sắc thể bằng mã hóa nhị phân đã được đề cập sơ bộ trong chương 1 Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về giải thuật di truyền này thông qua một bài toán tối ưu số [4,9]
Không làm mất tính tổng quát, ta giả định bài toán tối ưu là bài toán tìm
cực đại của hàm nhiều biến f Bài toán tìm cực tiểu hàm g chính là bài toán
Trang 17tìm cực đại hàm f = -g, hơn nữa ta có thể giả định hàm mục tiêu f có giá trị
dương trên miền xác định của nó, nếu không ta có thể cộng thêm một hằng số
Để đạt được độ chính xác như vậy mỗi miền D i cần được phân cắt thành
(b i - a i) 10n miền con bằng nhau, gọi m là số nguyên nhỏ nhất sao cho
1 2 10 )
i
i a b
Như vậy mỗi biến x i được biểu diễn bằng một chuỗi nhị phân có chiều
dài m i Biểu diễn như trên rõ ràng thoả mãn điều kiện về độ chính xác theo yêu cầu Công thức sau tính giá trị thập phân của mỗi chuỗi nhị phân biểu
diễn biến x i
1 2 )
i
a b string decimal
a x
Trong đó hàm decimal(string2) cho biết giá trị thập phân của chuỗi nhị phân đó
Bây giờ, mỗi nhiễm sắc thể (là một lời giải) được biểu diễn bằng một chuỗi nhị phân có chiều dài k
i m i m
1 , m1 bit đầu tiên biểu diễn giá trị trong
khoảng [a1,b1], m2 bit kế tiếp biểu diễn giá trị trong khoảng [a2,b2], …
Để khởi tạo quần thể, chỉ cần đơn giản tạo pop_size nhiễm sắc thể ngẫu
nhiên theo từng bit
Phần còn lại của giải thuật di truyền rất đơn giản, trong mỗi thế hệ, ta
lượng giá từng nhiễm sắc thể (tính giá trị hàm f trên các chuỗi biến nhị phân đã
được giải mã), chọn quần thể mới thoả mãn phân bố xác suất dựa trên độ thích nghi và thực hiện các phép đột biến và lai để tạo ra các cá thể thế hệ mới
Trang 18Sau một số thế hệ, khi không còn cải thiện thêm được gì nữa, nhiễm sắc thể tốt nhất sẽ được xem như lời giải của bài toán tối ưu (thường là toàn cục) Thông thường ta cho dừng giải thuật sau một số bước lặp cố định tuỳ ý tuỳ thuộc vào điều kiện tốc độ và tài nguyên máy tính
Đối với tiến trình chọn lọc (chọn quần thể mới thoả phân bố xác suất dựa trên các độ thích nghi), ta dùng bánh xe quay Rulet với các rãnh được định kích thước theo độ thích nghi
Ta xây dựng bánh xe Rulet như sau (giả định rằng các độ thích nghi đều dương)
+ Tính độ thích nghi eval(v i ) của mỗi nhiễm sắc thể v i (i = 1,…, pop_size)
+ Tìm tổng giá trị thích nghi toàn quần thể:
pop size
i eval v i F
+ Tính xác suất chọn p i cho mỗi nhiễm sắc thể v i , (i = 1,…, pop_size):
F v eval
Tiến trình chọn lọc thực hiện bằng cách quay bánh xe Rulet pop_size
lần, mỗi lần chọn một nhiễm sắc thể từ quần thể hiện hành vào quần thể mới theo cách sau:
+ Phát sinh ngẫu nhiên một số r trong khoảng [0 1]
+ Nếu r q1 thì chọn nhiễm sắc thể đầu tiên v1, ngược lại thì chọn nhiễm
sắc thể thứ i, v i (2 i pop_size) sao cho q i-1 rq i
Như vậy có thể có một số nhiễm sắc thể được chọn nhiều lần, điều này là phù hợp vì các nhiếm sắc thể tốt nhất cần có nhiều bản sao hơn, các nhiễm sắc thể trung bình không thay đổi, các nhiễm sắc thể kém nhất thì chết đi
Trang 19Hình 1.2 Minh họa bánh xe rulet
Bây giờ ta có thể áp dụng phép toán di truyền: kết hợp và lai ghép các cá thể trong quần thể vừa đƣợc chọn từ quần thể cũ nhƣ trên
Một trong những tham số của giải thuật là xác suất lai p c Xác suất này
cho ta số nhiếm sắc thể pop_sizep c mong đợi, các nhiễm sắc thể này đƣợc dùng trong tác vụ lai tạo Ta tiến hành theo cách sau đây:
Đối với mỗi nhiễm sắc thể trong quần thể mới:
+ Phát sinh ngẫu nhiên một số r trong khoảng [0,1]
+ Nếu r p c, hãy chọn nhiễm sắc thể đó để lai tạo
Bây giờ ta ghép đôi các nhiễm sắc thể đã đƣợc chọn một cách ngẫu nhiên: đối với mỗi cặp nhiễm sắc thể đƣợc ghép đôi, ta phát sinh ngẫu nhiên
một số nguyên pos trong khoảng [1, m-1] (m là tổng chiều dài - số bit - của một nhiễm sắc thể) Số pos cho biết vị trí của điểm lai Hai nhiễm sắc thể:
(b1b2…b pos b pos+1 …b m ) và (c1c2.…c pos c pos+1 …c m) đƣợc thay bằng một cặp con của chúng:
(b1b2…b pos c pos+1 …c m ) và (c1c2.…c pos b pos+1 …b m)
eval(v n)
eval(v 2)
eval(v 1)
Trang 20Phép toán kế tiếp là phép đột biến, được thực hiện trên cơ sở từng bit
Một tham số khác của giải thuật là xác suất đột biến p m, cho ta số bit đột biến
p mmpop_size mong đợi Mỗi bit (trong tất cả các nhiễm sắc thể trong quần
thể) có cơ hội bị đột biến như nhau, nghĩa là đổi từ 0 thành 1 hoặc ngược lại
Vì thế ta tiến hành theo cách sau đây:
Đối với mỗi nhiễm sắc thể trong quần thể hiện hành (nghĩa là sau khi lai)
và đối với mỗi bit trong nhiễm sắc thể:
+ Phát sinh ngẫu nhiên một số r trong khoảng [0,1]
+ Nếu r<p m hãy đột biến bit đó
Sau quá trình chọn lọc, lai và đột biến, quần thể mới đến lượt lượng giá
kế tiếp của nó Lượng giá này được dùng để xây dựng phân bố xác suất (cho tiến trình chọn lựa kế tiếp), nghĩa là để xây dựng lại bánh xe Rulet với các rãnh được định kích thước theo các giá trị thích nghi hiện hành Phần còn lại của tiến hoá chỉ là lặp lại chu trình của những bước trên
Toàn bộ tiến trình sẽ được minh hoạ trong một ví dụ cực đại hoá hàm:
)20sin(
)4sin(
5.21),(x1 x2 x1 x1 x2 x2
Giả sử kích thước quần thể pop_size = 20, các xác suất di truyền tương ứng là P c = 0.25 và P m = 0.01
Giả sử cần tính chính xác đến 4 số lẻ đối với mỗi biến Miền của biến x1
có chiều dài 15.1, điều kiện chính xác đòi hỏi đoạn [-3.0, 12.1] cần được chia thành các khoảng có kích thước bằng nhau, ít nhất là 15.110000 khoảng, điều này cần 18 bit làm phần đâu tiên của nhiễm sắc thể: 217 151000 218
Miền của biến x2 có chiều dài là 1.7, điều kiện chính xác đòi hỏi đoạn [4.1,5.8] cần được chia thành các khoảng có kích thước bằng nhau là 1.710000 khoảng, điều này nghĩa là cần 15 bit làm thành phần cuối của nhiễm sắc thể: 214 17000 215
Chiều dài toàn bộ nhiễm sắc thể (vectơ lời giải) là m =18+15 = 33
Trang 21Để cực đại hoá hàm f bằng giải thuật di truyền ta tạo ra một quần thể có pop_size = 20 nhiễm sắc thể Cả 33 bit trong tất cả các nhiễm sắc thể đều
đƣợc khởi tạo ngẫu nhiên
Giả sử sau tiến trình khởi tạo ta có quần thể sau đây:
Trong giai đoạn lƣợng giá ta giải mã từng nhiễm sắc thể và tính giá trị
hàm thích nghi từ các giá trị (x1, x2) mới giải mã, ta có:
eval(v1) = f(6.084492,5.652242) = 26.019600
eval(v2) = f(10.348434,4.380264) = 7.580015
Trang 22Rõ ràng nhiễm sắc thể v15 mạnh nhất và nhiễm sắc thể v2 yếu nhất
Tiếp theo ta xây dựng bánh xe Rulet cho tiến trình chọn lọc Tổng độ thích nghi của quần thể là:
776822
387 ) (
20
i eval v i F
Xác suất chọn lọc p i của mỗi nhiễm sắc thể v i (i = 1,…,20) là:
p1 = eval(v1)/F = 0.067099
p2 = eval(v2)/F = 0.019547
p3 = eval(v3)/F = 0.050355
p4 = eval(v4)/F = 0.044889
Trang 24Tiếp theo ta quanh bánh xe Rulet 20 lần, mỗi lần chọn một nhiễm sắc thể cho quần thể mới Giả sử thứ tự (ngẫu nhiên) của 20 số trong khoảng [0,1] đƣợc phát sinh là:
Số đầu tiên r = 0.513870 lớn hơn q10 và nhỏ hơn q11, nghĩa là nhiễm sắc
thể v11 đƣợc chọn vào quần thể mới, số thứ hai r = 0.175741 lớn hơn q3 nhỏ
hơn q4, nghĩa là v4 đƣợc chọn cho quần thể mới,…
Nhƣ vậy quần thể mới gồm các nhiễm sắc thể sau:
Trang 25Tiếp theo ta sẽ áp dụng phép toán kết hợp, lai cho những cá thể trong
quần thể mới (các véc tơ v’i) Xác suất lai ghép Pc = 0.25 vì thế ta hy vọng
25% nhiễm sắc thể sẽ tham gia lai tạo Ta tiến hành theo cách sau:
+ Đối với mỗi nhiễm sắc thể trong quần thể mới ta phát sinh ngẫu nhiên
một số r trong khoảng [0,1],
+ Nếu r 0.25 ta chọn một nhiễm sắc thể cho trước để lai tạo
Giả sử thứ tự các số ngẫu nhiên là
Trang 26Cặp nhiễm sắc thể đầu tiên là:
Trang 27Phép toán kế tiếp, đột biến thực hiện trên cơ sở từng bit một Xác suất
đột biến p m = 0.01, vì thế ta hy vọng 1/100 số bit sẽ qua đột biến Có 660 bit
(mpop_size = 3320) trong toàn quần thể, ta hy vọng có 6.6 đột biến ở mỗi thế hệ
Mỗi bit có cơ hội đột biến ngang nhau, nên với mỗi bit trong quần thể ta
phát sinh một số ngẫu nhiên r trong khoảng [0,1], nếu r 0.01 thì ta đột biến bit này
Điều này có nghĩa ta phát sinh 660 số ngẫu nhiên Giả sử có 5 trong 660
số này nhỏ hơn 0.01 (bảng dưới)
Bảng 1.3 Minh họa quá trình đột biến
Vị trí bit Số ngẫu nhiên
Trang 30Chương 2 GIẢI THUẬT DI TRUYỀN GIẢI BÀI TOÁN TỐI ƯU ĐA RÀNG BUỘC
2.1 Giải thuật di truyền với biểu diễn thực
2.1.1 Biểu diễn nhiễm sắc thể bằng số thực
Trong biểu diễn thực, mỗi véc tơ nhiễm sắc thể được mã hoá thành vectơ thực có cùng chiều dài với véc tơ lời giải Mỗi phần tử được chọn lúc khởi tạo sao cho thuộc miền xác định của nó, và các toán tử được thiết kế để bảo toàn các ràng buộc này [1,3,4] (không có vấn đề như vậy trong biểu diễn nhị phân, nhưng thiết kế của các toán tử này khá đơn giản, ta không thấy điều đó là bất lợi, mặt khác nó lại cung cấp các lợi ích khác được trình bày dưới đây)
Ví dụ: Xét bài toán cực đại hàm 4 biến f(x1, x2,…, x4) với miền ràng buộc:
Trang 31Sự chính xác của cách tiếp cận như thế chỉ tuỳ thuộc máy tính nhưng nói chung là tốt hơn nhiều so với biểu diễn nhị phân Đương nhiên ta luôn có thể tăng độ chính xác của biểu diễn nhị phân khi thêm các bit, nhưng điều đó làm giải thuật chậm đi đáng kể như đã thảo luận ở phần trước
Thêm nữa biểu diễn thực có khả năng biểu diễn một miền rất rộng (hoặc các trường hợp miền xác định không biết trước cụ thể) Mặt khác trong biểu diễn nhị phân, độ chính xác sẽ giảm khi tăng kích thước miền, do chiều dài nhị phân cố định cho trước
Các toán tử ta sẽ sử dụng rất khác các toán tử cổ điển, vì chúng làm việc trong một không gian khác (có giá trị thực) Hơn nữa một vài toán tử không đồng bộ, nghĩa là hành động của chúng phụ thuộc vào tuổi của quần thể (tuổi của quần thể hiện tại là số thứ tự của thế hệ đang xét)
2.1.2 Nhóm toán tử đột biến
+ Đột biến đồng bộ:
Đột biến đồng bộ được định nghĩa tương tự với định nghĩa của phiên bản
cổ điển: nếu s v =<v1, …, v n > là nhiễm sắc thể, thì mỗi phần tử v k có cơ hội trải qua tiến trình đột biến ngang nhau
Kết quả của một lần ứng dụng toán tử này là véc tơ s t
v =<v1, …,v’ k,…,
v n > và v’ k là giá trị ngẫu nhiên trong miền tham số tương ứng
Ví dụ: Giả sử phần tử thứ 3 của véc tơ
s3 = (-0.221, -0.901, -4.361, -0.010) được chọn cho đột biến
Biết x3 [-4.631, -3.631]
Do đó x’3 được chọn ngẫu nhiên trong [-4.631, -3.631], chẳng hạn x’3 = -4.12
+ Đột biến không đồng bộ:
Đột biến không đồng bộ là một trong những toán tử có nhiệm vụ về tìm
độ chính xác của hệ thống Nó được định nghĩa như sau: nếu s t
v =<v1, …, v m>
là nhiễm sắc thể và phần tử v k được chọn đột biến này (miền của v k là [l k ,u k ])
Trang 32Kết quả của đột biến không đồng bộ là một vectơ s t+1
,(
0)
,('
la nhien ngau so chu neu l
v t v
la nhien ngau so chu neu v
u t v
v
k k k
k k k
k
Trong đó, hàm (t, y) trả về giá trị trong khoảng [0, y] sao cho xác suất
của (t, y) gần bằng 0 sẽ tăng khi t tăng Xác suất này buộc toán tử tìm kiếm không gian thoạt đầu là đồng bộ (khi t nhỏ) và rất cục bộ ở những giai đoạn
sau Ta sử dụng hàm sau:
) 1
( )
,
b T t r y
y
, với r là số ngẫu nhiên trong khoảng [0 1], T là
số thế hệ tối đa và b là tham số hệ thống xác định mức độ không đồng bộ Hình dưới đây biểu diễn giá trị của đối với hai lần được chọn, hình này hiển thị rõ ràng cách ứng xử của toán tử
Hình 2.1 Biểu diễn giá trị của Hơn nữa ngoài cách áp dụng đột biến chuẩn ta có một số cơ chế mới: đột biến không đồng bộ cũng được áp dụng cho một vectơ lời giải thay vì chỉ một phần tử duy nhất của nó
Ví dụ: Giả sử phần tử thứ 2 của vectơ
s4 = (-0.370, -0.950, -4.071, -0.051) được chọn cho đột biến
Trang 33Biết x2 [-1.851, -0.815], lúc đó:
Vì k chẵn nên: x’2 = x2 - (t, (0.950-(-1.815))) = x2 - (t, 0.865)
Giả sử r = 0.4, t / T = 0.5, b = 2 ta có:
519.06.0865.0)4.01(865.0)865.0,
Do đó x’2 =-0.950 - 0.519 = -1.469 [-1.851, -0.815]
2.1.3 Nhóm toán tử lai tạo
+ Lai đơn giản: Phép lai đơn giản đƣợc xác định nhƣ sau:
Nếu s t
v =<v1, …, v m > và s t w =<w1, …, w m > đƣợc lai ghép ở vị trí thứ k, thì kết quả là: s t
), , max(
] 0 , 0 [
)]
, min(
), , [max(
Trong đó:
= (l k –w k )/(v k –w k), = (u k –v k )/(w k –v k)
= (l k –v k )/(w k –v k), = (u k –w k )/(v k –w k)