Việt Nam với hiệp định TPP I. Giới thiệu chung 1. TPP là gì? TPP, viết tắt của từ TransPacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương) Là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. 2. Thành viên • 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản + Chiếm 37,7% GDP của cả thế giới, + 11,1% về dân số, + 24,9% diện tích thế giới, + 19,3% về xuất khẩu, + 21,1% về nhập khẩu trên toàn thế giới Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác đang có ý định tham gia vào TPP. TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New Zealand và Brunei vào năm 2009, trước khi Hòa Kỳ quyết định tham gia và dẫn đầu 3. Mục tiêu chính của TPP + Xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. + Thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động. + Mỹ muốn TPP sẽ là điểm chốt mới của họ tại Châu Á sau nhiều năm Mỹ đã lún quá sâu vào khu vực Trung Đông. + Ngoài ra, nhiều học giả còn cho rằng Mỹ muốn sử dụng TPP để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá nhanh của Trung Quốc. Trung Quốc đã có lúc thể hiện ý định muốn tham gia TPP, nhưng nhiều điều khoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hội tham gia vào. 4. Quá trình hình thành và phát triển 2002 New Zealand, Singapore và Chile bàn thảo Pacific Three Closer Economic Partnership (p3 CEP) 042005 Brunei tham gia và thỏa thuận được đổi tên thành Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TransPacific ......
Trang 1Bài thuyết trình
VIỆT NAM VỚI HIỆP ĐỊNH TPP
Nội dung Trang
I Giới thiệu chung về hiệp định
TPP 3
1. TPP là
gì? 3
2. Thành viên của
TPP 3
3. Mục đích của
TPP 3
4 Quá trình hình thành và phát triển của
TPP 3
II Việt Nam với hiệp định
TPP 4
1. Vị trí của Việt Nam trong
TPP 4
2. Cơ hội, thách
thức 5
3. Giải pháp chiến
lược 8
III Đánh giá
chung 11
Trang 3I.Giới thiệu chung
1. TPP là gì?
- TPP, viết tắt của từ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương)
- Là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
2. Thành viên
• 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia,
Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản
+ Chiếm 37,7% GDP của cả thế giới,
+ 11,1% về dân số,
+ 24,9% diện tích thế giới,
+ 19,3% về xuất khẩu,
+ 21,1% về nhập khẩu trên toàn thế giới
*Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan,
và nhiều nước khác đang có ý định tham gia vào TPP.
*TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New
Zealand và Brunei vào năm 2009, trước khi Hòa Kỳ quyết định
tham gia và dẫn đầu
3. Mục tiêu chính của TPP
+ Xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên
+ Thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động + Mỹ muốn TPP sẽ là điểm chốt mới của họ tại Châu Á sau nhiều năm Mỹ đã lún quá sâu vào khu vực Trung Đông
+ Ngoài ra, nhiều học giả còn cho rằng Mỹ muốn sử dụng TPP
để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá nhanh của Trung Quốc
* Trung Quốc đã có lúc thể hiện ý định muốn tham gia TPP, nhưng
nhiều điều khoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hội tham gia vào.
Trang 44 Quá trình hình thành và phát triển
- 2002 New Zealand, Singapore và Chile bàn thảo Pacific Three
Closer Economic Partnership (p3- CEP)
- 04/2005 Brunei tham gia và thỏa thuận được đổi tên thành Hiệp
định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement – P4)
- 03/06/2005 Hiệp định được kí kết bởi bốn thành viên và bắt đầu
có hiệu lực từ tháng 05/2006
- 09/2008 Mỹ (dưới quyền G.W.Bush) tuyên bố tham gia đầm phám
phán hiệp định này để mở của thị trường, đầu tư và dịch vụ, tài chính
- 11/2008 Việt Nam, Úc, Peru bày tỏ ý muốn tham gia đàm phán và nâng tổng số thành viên lên 8 (Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên
bố tham gia đàm phán với tư cách thành viên đầy đủ)
- 11/2009 Các vòng đàm phán bị hoãn do cuộc bầu cử Tổng thống mới tại Mỹ Tổng thống Obama tuyên bố Mỹ tiếp tục tham gia TPP
- 03/2010 Vòng đàm phán đầu tiên diễn ra tại Melbourne, Úc
- 10/2010 Malaysia tham gia đàm phán và trở thành thành viên thứ
9 của Hiệp định
- 06/2011 Vòng đàm phán thứ 7 diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh
- 06/2012 Canada và Mexico tuyên bố sẽ tham gia đàm phán Hiệp định và trở thành thành viên chính thức vào tháng 10/2013
- 03/2013 Trung Quốc tỏ ý định muốn tham gia Hiệp định nhưng Mỹ yêu cầu phải đạt được các tiêu chuẩn cao đề ra
- 07/2013 Nhật Bản trở thành quốc gia thứ 12 gia nhập Hiệp định
- 11/2013 Hàn Quốc đưa ra mong muốn tham gia Hiệp định sau khi
từ chối lời mời chính thức vào năm 2010
- 03/2015 Đại diện của Úc cho rằng 9 chương của hiệp định đã được
đàm phán xong (Tuy nhiên chưa được các nước xác nhận)
- 04/2015 Cuộc đàm phán mới nhất tại Maryland, Mỹ bàn bạc về vấn đề sở hữu trí tuệ, thâm nhập thị trường, đầu tư
- 05/2015 Đại diện của Chile tuyên bố các đàm phán của TPP đang vào gian đoạn cuối Lịch đàm phán cuối có thể được thảo luận khi đại diện các nước gặp nhau vào cuối tháng này ở một cuộc họp APEC
- 08/2015 Hy vọng kí kết trong vòng đàm phán tại Hawaii thất bại sau khi các nước không đạt được thỏa thuận về ngành công nghiệp
ô tô, đường, sữa và dược phẩm Tuy nhiên các thành viên cho rằng TPP đã xong tới 98%
Trang 5- 05/10/2015 Tại vòng đàm phán tại Atlanta, sau nhiều ngày, giờ trì hoãn với vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ cho ngành dược phẩm, Hiệp định TPP đã được thỏa thuận cuối cùng!
II. Việt Nam với hiệp định TPP
- 11/2008 Việt Nam, Úc, Peru bày tỏ ý muốn tham gia đàm phán và nâng tổng số thành viên lên 8 (Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên
bố tham gia đàm phán với tư cách thành viên đầy đủ)
1. Vị trí của Việt Nam trong TPP
• Nếu các nước thành viên muốn Việt Nam mở cửa thị trường cho họ thì họ cũng phải mở cửa thị trường cho Việt Nam!
•Quy mô thị trường Việt Nam khoảng 800 triệu dân chiếm 11% dân
số thế giới
•Về GDP danh nghĩa năm 2014, Việt Nam đạt 186 tỷ USD, đứng ở gần vị trí cuối bảng, xếp thứ 11/12 nước và chỉ hơn Brunei (đạt 17
tỷ USD)
•Thu nhập trung bình của người Việt năm 2014 đạt 2.052 USD và là nước có GDP đầu người thấp nhất Trong khi đó thu nhập của người
Úc gấp 30 lần người Việt, thu nhập của người người Mỹ, Canada gấp 25 lần, Nhật Bản gấp 13 lần Nước ở vị trí gần cuối bảng như Peru cũng gấp Việt Nam hơn 3 lần với 6.551 USD/người
•Việt Nam chiếm 38,8% tỷ trọng xuất khẩu vào các nước TPP, trong
đó xuất khẩu nhiều nhất ở thị trường Mỹ với 20,6% Đứng thứ hai
là thị trường Nhật Bản 8,7% Các thị trường còn lại, Việt Nam chưa tiếp cận được nhiều, tỷ trọng xuất khẩu còn hạn chế Trong đó với Brunei, chưa có sản phẩm nào của Việt Nam đặt chân tới thị
trường này Chuyên gia kinh tế Phạm Minh Đức cho rằng thách thức lớn nhất của Việt Nam là có tận dụng được cơ hội để mở rộng thị trường trong TPP hay không TPP chắc chắn thúc đẩy đầu tư và thương mại Việt Nam phát triển nhưng Việt Nam có thể rơi vào nguy cơ "bẫy giá trị gia tăng thấp" đang hiện hữu
Trang 6•Tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ các nước TPP đạt 22,2% trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ Nhật Bản với 8,7% và nhập khẩu 4,8% từ thị trường Mỹ Tỷ lệ này sẽ thay đổi lớn khi TPP
đi vào có hiệu lực với thuế suất ưu đãi về 0 ở nhiều mặt hàng
•Các chuyên gia kinh tế cho rằng, TPP có thể trở thành mô hình quản trị thương mại toàn cầu của thế kỉ 21
•Để tạo thuận lợi thương mại, Việt Nam cần nâng cao hạ tầng cơ
sở, hạ tầng thương mại, các dịch vụ logistic, các dịch vụ cung ứng
để hỗ trợ, phát huy đầu tư và tăng trưởng
•Chuyên gia cao cấp của World Bank nhấn mạnh, TPP thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu thực dần qua các nước Theo dự đoán, năm
2020 xuất khẩu thực của Việt Nam tăng trưởng hơn 5% nhờ TPP,
và con số này sẽ tăng lên 17,1% vào năm 2030
2 Cơ hội và thách thức
a) Cơ hội và thuận lợi của Việt Nam khi gia nhập TPP
-Lợi ích mà TPP mang lại tùy thuộc vào hai yếu tố quan trọng
+ Kết quả đàm phán : kết quả đàm phán phù hơp với sức vươn lên của doanh nghiệp Việt Nam, đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp Việt Nam
+ Những nỗ lực, chuẩn bị cho việc thực thi những cải cách và thực thi được định mệnh các nhà xuất khẩu đầu tư khi đã gia nhập TPP
-Theo nghiên cứu một số chuyên gia đầu ngành thì Việt Nam là nước hưởng lợi nhiều nhất trong 12 nước thành viên
Dựa trên những cách nhìn khác nhau thì thông thường những nước
mà có mưc phát triển thấp hơn thì lợi thế so sánh phát triển mạnh
mẽ hơn vì vậy trong những nghiên cứu định lượng Việt Nam được coi là một trong những nước hưởng lợi ích rất lớn từ TPP
- Theo đánh giá của GS_Pietri: nếu như các nước khác được hưởng lợi khoảng 1-2% GDP từ TPP thì con số đó của Việt Nam vào khoảng 5% GDP
Trang 7- Trong 11 đối tác thì Việt Nam đã có quan hệ thương mại tự do với 7 đối tác và chưa có quan hệ thương mại tự đối với 4 đối tác là Hoa
Kỳ, Canada, Mexico và Peru cho nên cơ hội chủ yếu trên 4 thị trường này vì 7 thị trường kia đã giảm thuế về 0% cho Việt Nam rồi
-Một số ngành có triển vọng khi thuế xuất khẩu giảm xuống còn 0% + Dệt may:trên 17% xuống 0% tạo ra lực đẩy rất lớn cho xuất khẩu dệt may Việt Nam
+ Da dày: 1 số mặt hàng trên 32% xuống 0% tạo ra cú hích rất lớn cho ngành da dày Việt Nam
-Mức độ lớn hay nhỏ về lợi ích phụ thuộc vào mức thuế hiện hành của các nước Thuế hiện hành cao thì lợi ích lớn khi thuế về 0% nên
2 mặt hàng trên sẽ đứng trước cơ hội lớn với điều kiện nắm bắt được cơ hội
-Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tăng cường thu hút đầu tư giúp tăng trưởng GDP, tăng trưởng về công ăn việc làm
-Trong các nước TPP có 5 nước tiên tiến nên TPP là một nguồn chuyển giao công nghệ quan trọng đồng thời là nguồn chuyển giao kinh nghiệm về giá trị doanh nghiệp và những kinh nghiệm khác hết sức quý báu đối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng hội nhập có tính sâu rộng, toàn diện và có mối quan hệ với các nhà nhập khẩu
b) Thách thức và khó khăn khi Việt Nam gia nhập TPP
-Thách thức khó khăn của Việt Nam chính nằm ở 2 mảng Việt Nam đang đợi ở TPP giúp cho Việt Nam phát triển
+ Việt Nam chưa có hệ thống kinh tế thị trường đầy đủ,thể chế của Việt Nam còn rất nhiều những nội dung cải cách khác để nền kinh
tế Việt Nam đi theo nền kinh tế thị trường đầy đủ hơn
+ Tình trạng phát triển thấp, trong TPP 12 nước đàm phán thì chỉ có Việt Nam ở ngưỡng mức thu nhập trung bình thấp và do đó năng lực cạnh tranh của hầu hết các doanh nghiệp của họ cũng lớn hơn hẳn so với Việt Nam
- Cơ hội mở ra rất lớn và tiềm năng để có một cú hích là có nhưng chúng ta phải chú ý rằng chúng ta có khả năng nắm bắt được nó hay không bởi vì hiện nay Việt Nam đang có những nút thắt cổ chai
Trang 8+ Nút thắt thứ nhất là hệ thống ngân hàng:các ngân hàng Việt Nam chưa đủ mạnh, đủ sức để tài trợ cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu
+ Nút thắt thứ hai là lực lượng lao động có tay nghề đã tới hạn (VD:ngành gỗ, may mặc, da dày) nên cơ hội mở ra rất to lớn nhưng
có tạo nên cú hích hay không thì ta phải giải quyết được nút thắt cổ chai
-Nhập khẩu: xét cơ cấu kinh tế các nước đang đàm phán TPP với chúng ta họ có cơ chế kinh tế bổ sung cho Việt Nam nhiều hơn là cạnh tranh trực tiếp cho nên tác động cạnh tranh có thể có nhưng không lớn như chúng ta lo ngại đối với Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản
-Một số ngành gặp khó khăn:
+ Ôtô : ngành ôtô của Việt Nam sẽ gặp khó khăn nếu ta mở cửa hoàn toàn thị trường cho ôtô của Hoa Kỳ và Nhật Bản
+ Nông nghiệp: giá thành của Việt Nam rất cao nên khi mở cửa sẽ gặp khó khăn
-Phạm vi phụ thuộc nhiều vào những vấn đề tiêu chuẩn và chính sách sau đường biên giới cho nên nó phụ thuộc vào việc ta chuẩn bị
và cải cách trong nước như thế nào gắn với quá trình tái cấu trúc của chúng ta như thế nào Đây được coi là thách đố lớn nhất của Việt Nam để đón nhận được cơ hội chưa từng có đối với phát triển nền kinh tế Việt Nam
-Việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuôn khổ đàm phán Hiệp định TPP sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ, đặc biệt là sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp của Việt Nam vốn còn yếu, khả năng quản lý còn nhiều bất cập Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ
có thể sẽ gặp khó khăn.ngoài ra kết quả đàm phán nội dung lao động trong hiệp định TPP, có thể sẽ có tác động đến môi trường lao động ở Việt Nam bên cạnh đó để thực thi cam kết trong hiệp định TPP Việt Nam có thể phải điều chỉnh ,sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại ,đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ Đây là những khó khăn đặt ra và cũng là những trở ngại chủ yếu của việc đàm phán TPP của Việt Nam.Tuy nhiên, đây chính là con đường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi qua để chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 9thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế
3. Giải pháp chiến lược
a) Quan điểm
- Tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo thông lệ quốc tế, dưới góc độ tiếp cận phát triển doanh nghiệp nhằm phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển và tăng trưởng kinh tế;
- Tập trung cải thiện toàn diện các yếu tố căn bản tác động tới môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thực thi hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;
- Tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình doanh nghiệp b) Mục tiêu
Phấn đấu nâng cao mức độ thuận lợi trong môi trường kinh doanh
và năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam đánh giá theo thông
lệ quốc tế tương đương mức trung bình của Thái Lan, Malaysia, Singapore vào năm 2020, phấn đấu nămg trong top 30 nước hàng đầu về thuận lợi trong môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh toàn cầu vào năm 2030
c) Định hướng giải pháp trọng tâm nhằm đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
- Tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ, xây dựng Đề án tổng thể cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo thông lệ quốc tế
+ Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện mục tiêu và các giải pháp
đã đề ra trong Nghị quyết 19 của Chính phủ đã được ban hành ở tất
cả các bộ, ngành, địa phương trong cả nước
+ Xây dựng Đề án tổng thể về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo thông lệ quốc tế, sử dụng các chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh và năng lực cạnh
Trang 10tranh quốc gia để đối chiếu so sánh với các quốc gia trong khu vực
và đối tác kinh tế thương mại của Việt Nam
- Giải quyết đồng bộ các vấn đề liên quan đến ban hành các quy định pháp luật về kinh doanh và cạnh tranh
+ Rà soát, bổ sung và điều chỉnh nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp từ gia nhập thị
trường, hoạt động trên thị trường đến rút khỏi thị trường gắn với yêu cầu thực tiễn và tuân thủ các cam kết hội nhập quốc tế
+ Nâng cao chất lượng ban hành chính sách, pháp luật:
(i) Tăng cường công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan và với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình soạn thảo, chỉnh lý
dự án luật, pháp lệnh để bảo đảm chất lượng của dự án, dự thảo văn bản, khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản;
(ii) Nghiên cứu, xây dựng và ban hành văn bản quy định về cơ chế phối hợp, giải quyết tranh chấp thương mại để đảm bảo các cơ quan nhà nước sẵn sàng, chủ động, linh hoạt xử lý một cách có hiệu quả khi có tranh chấp thương mại phát sinh trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do đã ký kết;
(iii) Đề cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn
vị trong công tác xây dựng, ban hành văn bản;
(iv) Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế ở Bộ, ngành
và địa phương
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả năng lực thực thi và cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong thực thi pháp luật về kinh doanh
+ Ban hành Luật thủ tục hành chính hoặc Luật Hành chính công
và các chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao năng lực thực thi các cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng phát triển và nâng cao tinh thần phục vụ doanh nghiệp
+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm trong thực thi pháp luật về kinh doanh: