1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Câu hỏi ôn thi lịch sử việt nam lớp 12

85 285 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 720,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a Ý nghĩa lịch sử của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 - Đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến ng

Trang 1

LỚP 12 - CÂU HỎI LỊCH SỬ VIỆT NAM

Câu 1:

Tóm tắt sự chuyển biến của kinh tế Việt Nam dưới tác động của những cuộc khai thác thuộc địa

do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương

Sau khi dập tắt phong trào phong trào Cần Vương, thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình định nước Việt Nam và tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất do Pôn Đume phụ trách Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành chương trình khai thác lần thứ hai do Anbe Xarô phụ trách Dưới tác động của các chương trình này, nền kinh tế Việt Nam

có sự biến chuyển

a) Về tính chất của nền kinh tế

- Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tính chất nền kinh tế Việt Nam ít nhiều có sự biến đổi Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, gắn liền với sự ra đời những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành và

có sự phát triển

- Tuy nhiên, sự chuyển biến trên chỉ có tính chất cục bộ ở một số vùng, còn phổ biến vẫn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn và bị cột chặt và nền kinh tế Pháp Đông Dương vẫn là thị trường độc chiếm của tư bản Pháp

b) Và cơ cấu kinh tế

- Và cơ cấu ngành kinh tế

+ Từ một nền kinh tế thuần nông, đã xuất hiện những ngành kinh tế mới như công nghiệp, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng,…

+ Trong nông nghiệp : diện tích đồn điền cao su đặt mở rộng, nhiều công ty cao su đặt thành lập (Công ty Đất Đỏ, Công ty Misơlanh…)

+ Trong công nghiệp: việc khai thác mỏ, trước hết là khai thác than đặt chú trọng Nhiều công ty khai thác than đặt thành lập (Công ty than Hạ Long, Đông Triều…) Các cơ sở khai thác kẽm, thiếc, sắt đều đặt bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác

+ Thương nghiệp, ngoại thương có bước phát triển mới Giao lưu hàng hóa nội địa đặt đẩy mạnh

Trang 2

+ Trog ngành tài chính – ngân hàng: Ngân hàng Đông Dương nắm quyền kinh tế Đông Dương Năm 1930, ngân sách tăng 3 lần so với 1912

+ Trong giao thông vận tải: đường sắt, đường bộ và đường thủy ngày càng phát triển phục vụ khai thác kinh tế và các mục đích quân sự

- Về cơ cấu vùng kinh tế: từ chỗ không có một vùng kinh tế rõ rệt, đặt xuất hiện những vùng kinh tế mới như các vùng mỏ và đồn điền, với sự tập trung nguồn vốn, kỹ thuật và nhân lực của

Câu 2:

Nêu ý nghĩa lịch sử những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong thế kỉ XX Những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến đó đã góp phần xóa bỏ ách thống trị trên toàn thế giới?

Trong thế kỉ XX, ở Việt Nam có nhiều cuộc khởi nghĩa và kháng chiến, nhưng chỉ có ba cuộc khởi nghĩa và kháng chiến giành thắng lợi là: 1- Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; 2- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954); 3- Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975)

a) Ý nghĩa lịch sử của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

- Đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến ngót chục thế kỉ ở Việt Nam, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; giải quyết thành công vấn đề

cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền

Trang 3

- Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người làm chủ đất nước Đảng Cộng sản từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp, trở thành một Đảng cầm quyền Dân tộc Việt Nam tiến lên hàng các dân tộc tiên phong trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới của dân tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do; kỉ nguyên nhân dân lao động năm chính quyền; kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội

- Góp phần vào chiến thắng của phe Đồng minh chống phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đột phá một khâu trọng yếu trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh giành độc lập ở Á, Phi, Mĩ Latinh, “có ảnh hưởng trực tiếp

và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào”

b) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp gần một thế kỉ trên đất nước Việt Nam

- Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cm xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, trở thành căn cứ địa của cuộc cách mạng cả nước, thành hậu phương

lớ của tiền tuyến lớn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước sau này

- Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mĩ Latinh

c) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975)

- Kết thúc thắng lợi 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở Việt Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước, thống nhất

Trang 4

- Đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam là một trang chói lọi nhất, một biểu tượng về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người; đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có ý nghĩa thời đại và tầm vóc quốc tế

d) Những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến đó đã góp phần xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân trên thế giới

Câu 3:

Phân tích bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam Bài học nào có thể vận dụng để giải quyết vấn đề biển, đảo hiện nay?

a) Bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945

Thực tiễn cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của dân tộc Việt Nam để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, nhất là những bài học về thay đổi chủ trương chiến lược, về xây dựng lực lượng, và phương pháp cách mạng và về xây dựng một chính Đảng cách mạng vững mạnh

- Một là, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất Đó là bài học về xác định chủ trương, về chỉ đạo chiến lược

Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai Mâu thuẫn đó quy đinh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng

là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc Đó là yêu cầu khách quan của lịch sử

Mặt khác, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp đông đảo nhất (chiếm hơn 90% dân số) Khi đất nước bị đế quốc xâm lược, nông dân là đối tượng chủ yếu của các chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất Giải phóng dân tộc cũng chính là giải phóng nông dân Yêu cầu số một của giai cấp nông dân là thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, là độc lập dân tộc, chứ chưa phải là ruộng đất

Trong giai đoạn 1939-1945, Đảng đã thay đổi chủ trương chiến lược cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”, đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công

Thực tiễn lịch sử trên đây khẳng định rằng, trong điều kiện xã hội thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ bức thiết nhất Nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần tạm gác lại, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc

Trang 5

- Hai là, xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đoàn kết mọi lực lượng chống đế quốc Đó là bài học về xây dựng lực lượng cách mạng

Trong xã hội Việt Nam thuộc địa có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau Trừ bộ phận đại địa chủ phong kiến phản động và tư sản mại bản làm tay sai cho đế quốc, những giai cấp và tầng lớp còn lại (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ) đều chung số phận đất nước và đều có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, nền đều có thể tham gia cách mạng giải phóng dân tộc

Để chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo xây dựng Mặt trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên “Cứu quốc”, đoàn kết mọi người Việt Nam

có lòng yêu nước thương nòi, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tạo ra sức mạnh toàn dân tộc, đồng thời phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù là đế quốc xâm lược và tay sai để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng

Mặt trận Việt Minh đã huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận tuyến đấu tranh cách mạng, tan

rã sức mạnh áp đảo, đưa Tổng khởi nghĩa tháng Tám đến thành công Thực tiễn đó để lại bài học, để xây dựng một mặt trận thống nhất dân tộc rộng rãi, dựa trên cơ sở khối liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh và độc lập tự do

- Ba là, phải kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, tiến lên chớp đúng thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị Đây là bài học về phương pháp, cách mạng, về nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

Trong điều kiện một nước thuộc địa, kẻ thù luôn dùng bạo lực đặt thống trị và bóc lột quần chúng, thì con đường đã tự giải phóng, dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng

Bạo lực của Cách mạng tháng Tám năm 1945 dựa trên cơ sở hai lực lượng: lực lượng chính trị

và lực lượng vũ trang; biểu hiện ở sự kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân; đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ ở vùng nông thôn, tiến lên chớp thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị

Sức mạnh áp đảo của cuộc khởi nghĩa dân tộc làm tan rã bộ máy chính quyền quân phiệt Nhật Bản và tay sai ở cả trung ương và địa phương, ở cả nông thôn và thành thị trong đó những cuộc

Trang 6

khởi nghĩa ở thành thị nhằm vào các cơ quan đầu não của kẻ thù, có tác dụng quyết định thắng lợi của tổng khởi nghĩa

- Bốn là, xây dựng Đảng vững mạnh về thị trường, chính trị và tổ chức, đủ năng lực và uy tín để lãnh đạo cách mạng thành công

Để đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công, Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, lí luận cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh để xác định đường lối, chiến lược và sách lược; có biện pháp tổ chức, xây dựng lực lượng và phương pháp cách mạng sáng tạo, lãnh đạo nhân dân

đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa

Trong suốt 15 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn kết hợp xây dựng và đấu tranh thông qua thực tiễn đấu tranh để rèn luyện đội ngũ cán bộ, Đảng viên, làm cho Đảng ngày càng phát triển

và trưởng thành

Nhờ quan hệ gắn bó với nhân dân, với dân tộc, luôn lấy lợi ích của cách mạng, của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, Đảng có uy tín tuyệt đối trong quần chúng Đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn của Đảng đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi tài liệu nhân dân, làm cho Đảng quy

tụ được lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc và đưa cách mạng đến thành công

Thực tiễn quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945 nói chung trong Cách mạng tháng Tám nói riêng chứng tỏ rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Vì thế, phải không ngừng xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam

b) Bài học có thể vận dụng để giải quyết vấn đề biển, đảo hiện nay

(Học sinh có thể căn cứ vào tình hình thực tế để trình bày ý kiến và suy nghĩ riêng về bài học của Cách mạng tháng Tám năm 1945 có thể vận dụng để giải quyết vấn đề chủ quyền biển, đảo của

Tổ quốc, nhưng cần lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc Dưới đây là một số gợi ý vận dụng bài học về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi)

- Từ năm 1974, Trung Quốc dùng lực lượng quân sự đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa dưới sự quản lí của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Đến năm 1988m Trung Quốc chiếm một

số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam Ngày 1-5-2014, Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 và các tàu bảo vệ ngang nhiên hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC) Việt Nam có đầy đủ

Trang 7

cơ sở pháp lí, chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở Biển Đông

- Trong tình hình trên, có thể và cần phải vận dụng bài học: “Tăng cường xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp, tổ chức, đoàn kết mọi lực lượng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, tạo nên sức mạnh toàn dân, tạo cơ sở thực lực để đấu tranh bằng mọi biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

Trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn dân, Việt Nam có điều kiện để đoàn kết với các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước trong cộng đồng thế giới, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần hành động vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc, qua đó cô lập và làm thất bại hành động của họ Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: tình hình biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước

Câu 4:

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các giai cấp trong xã hội Việt Nam có sự chuyển biến như thế nào? Sự chuyển biến đó có tận dụng gì đối với phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919-1930?

a) Sự chuyển biến giai cấp trong xã hội Việt Nam (Như trong chuẩn)

b) Tác động đến phong trào dân tộc, dân chủ, đồng thời tạo ra cơ sở xã hội cho sự tiếp thu những

hệ tư tưởng mới truyền bá vào Việt Nam, kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản, để làm vũ khí đấu tranh

- Những giai cấp mới và những hệ tư tưởng mới làm cho phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam mang những tính chất mới mà các phong trào yêu nước trước kia không thể nào có được

- Hình thành nên hai khuynh hướng tư sản và khuynh hướng vô sản Cả hai khuynh hướng này đều vươn lên giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc Đây là đặc điểm của phong trào dân tộc Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930

Trang 8

Câu 5:

Trình bày hoàn cảnh lịch sử của phong trào cách mạng Việt Nam 1930-1931 Vì sao từ đầu năm

1930, Đảng Cộng sản Việt Nam nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam? a) Hoàn cảnh lịch sử (như trong chuẩn)

b) Vì sao từ đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam?

- Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, kéo theo sự tan rã hoàn toàn của Việt Nam Quốc dân đảng, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản Việt Nam

- Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, là lực lượng duy nhất còn tồn tại trên vũ đài chính trị, có tổ chức chặt chẽ, đường lối chính trị đúng đắn và phương pháp cách mạng khoa học đảm đương sứ mệnh lssu nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam

Câu 6:

Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam ở vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc"? Trình bày ý kiến về từng sách lược của Việt Nam trong việc hòa hoãn quân Trung Hoa Dân quốc và thực dân Pháp

a) Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam ở vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc"? (Như trong chuẩn)

b) Trình bày ý kiến về từng sách lược của Việt Nam trong việc hòa hoãn quân Trung Hoa Dân quốc và thực dân Pháp

- Từ tháng 9-1945 đến trước ngày 6-3-1946: thực hiện sách lược hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc Đó là việc làm cần thiết vì:

+ So sánh lực lượng chưa có lợi cho cách mạng, cần tránh trường hợp phải đánh nhiều kẻ thù cùng một lúc

+ Cần có thời gian hòa bình để củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt

+ Mặt khác, Trung Hoa Dân quốc đang phải lo đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc Nội bộ của Trung Hoa Dân quốc có mâu thuẫn, Việt Nam có thể lợi dụng những khó khăn đó để hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc

Trang 9

- Từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946: thực hiện sách lược "hòa để tiến", nhân nhượng với Pháp Đó là sự thay đổi sách lược phù hợp với tình hình đất nước lúc đó vì:

+ Hiệp ước Hoa - Pháp được kí kết (28-2-1946) Theo đó, quân Pháp được thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16 Tình hình đó đặt Việt Nam trước hai khả năng: hoặc là phải đánh hai kẻ thù cùng lúc, hoặc là hòa hoãn với Pháp để đuổi quân Trung Hoa Dân quốc về nước Để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng lúc, Chính phủ Việt Nam quyết định hòa hoãn với Pháp

+ Hòa hoãn với Pháp có tác dụng đẩy quân Trung Hoa Dân quốc về nước, bớt cho nhân dân Việt Nam một kẻ thù nguy hiểm

+ Tạo ra thời gian hòa bình vô cùng quý báu để củng cố lực lượng kháng chiến Nam Bộ và Nam Trung Bộ; tiếp tục củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho một cuộc kháng chiến lâu dài

- Về nội dung của cuộc cách mạng tư sản dân quyền

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm

“tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”

+ Luận cương chính trị tháng 10-1930 nêu rõ cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách mạng

tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế, sau đó sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa

+ Như vậy, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, tư sản đế quốc cách mạng không bao gồm nhiệm

vụ ruộng đất mà chỉ thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc Cách mạng ruộng đất là một cuộc cách mạng khác Còn trong Luận cương chính trị tháng 10-1930, tư sản dân quyền sự bao gồm

cả nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và nhiệm vụ giải phóng dân tộc

- Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu trong giai đoạn trước mắt là giải phóng dân tộc (đánh đổ Đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng làm cho nước

Trang 10

nước Việt Nam được độc lập tự do…; tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo

+ Luận cương chính trị tháng 10-1930: Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đổ phong kiến và đánh đổ đế quốc có quan hệ khăng khít với nhau Luận cương nhấn mạnh “vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”

+ Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định nhiệm vụ cách mạng bao gồm cả hai nội dung dân tộc dân chủ, chống đế quốc và phong kiến nhưng nổi lên hàng đầu là chống đế quốc và giành độc lập dân tộc Còn Luận cương chính trị nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất, không đưa ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu

- Về tập hợp lực lượng cách mạng:

+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản phải lợi dụng hoặc trung lập

+ Luận cương chính trị tháng 10-1930; động lực cách mạng là công nhân, nông dân

+ Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên chủ trương tập hợp lực lượng toàn dân tộc, thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh Còn Luận cương chính trị không thấy được khả năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc của tư sản dân tộc, khả năng phân hóa

và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ đi theo cách mạng

- Do ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, giáo điều, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản anh em lúc đó Về sau này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đặt từng bước khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930 và đưa cách mạng đến thành công

Câu 8:

Dựa vào những dữ liệu trong bảng dưới đây và những kiến thức đã được học, hãy xác định vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 11

Thời gian Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc

Tháng 7-1920 Đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề

thuộc địa của Lênin

Tháng 12-1920 Dự Đại hội Tua, tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành

lập Đảng Cộng sản Pháp

Năm 1921 Tham gia thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa

Năm 1922 Làm chủ nhiệm báo Người cùng khổ, viết bài cho báo Nhân đạo, Đời

sống công nhân

Năm 1923 Viết Bản án chế độ thực dân Pháp; rời Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị

Quốc tế nông dân

Năm 1924 Dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, viết bài cho báo Sự thật của Đảng

Cộng sản Liên Xô, cho tạp chí Thư tin quốc tế của Quốc tế Cộng sản Tháng 11-1924 Đến hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), mở lớp đào tạo cán bộ

Tiếp xúc với Tâm tâm xã

Năm 1925 Thành lập nhóm Cộng sản đoàn, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,

sáng lập báo Thanh niên

Năm 1927 Tác phẩm Đường Kách mệnh được xuất bản, cùng với báo Thanh niên

trang bị lí luận cách mạng giải phóng dân tộc cho cán bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để tuyên truyền cho nhân dân

Năm 1930 Triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Soạn

thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

a) Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị những điều kiện về

tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam những năm 20 của thế kỉ

XX

- Về tư tưởng chính trị: Sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động kiên trì, bền bỉ, xây dựng và truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản vào Việt Nam Lí luận

đó được trình bày qua nhiều bài báo, một số tham luận tại các Đại hội và hội nghị quốc tế và một

số Tác phẩm Đó là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

và đặt nền móng để xây dựng nên Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng sau này

Trang 12

- Về tổ chức: Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1926) Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng Cộng sản, một bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Thông qua những lớp huấn luyện chính trị, Người trực tiếp đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam

b) Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

- Người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, gồm đại biểu hai nhóm Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng Với uy tín tuyệt đối, Người đã đưa Hội nghị đến thành công Các đại biểu đều nhất trí bỏ mọi thành kiến xung đột, thành thật hợp tác, thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam,

- Người trực tiếp soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, bao gồm Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và được Hội nghị thành lập Đảng thông qua Đó là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo

- Ở vào thời điểm diễn ra bước ngoặt của lịch sử, sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc là sự xuất hiện của mới lãnh tụ Vì thế, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là hình ảnh tượng trưng cho bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của lịch sử cách mạng Việt Nam

Câu 9:

Trình bày và nhận xét nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và Luận cương chính trị tháng 10-1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương

a) Cương lĩnh chính trị đầu tiên

- Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng tư sản dân quyền (tức cách mạng giải phóng dân tộc) là: đánh đổ Đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, lập Chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội công nông, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đế quốc

và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo…

- Nhận xét:

Bản Cương lĩnh đầu tiên xác định nhiệm vụ cách mạng bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng nhiệm vụ hàng đầu là chống đế quốc và giành độc lập dân tộc

Trang 13

Điều đó phản ánh đúng yêu cầu khách quan của lịch sử, vì ở nước Việt Nam thuộc địa, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu nhất, cần tập trung giải quyết

Cương lĩnh đáp ứng nguyện vọng độc lập, tự do của quần chúng nhân dân, làm cho Đảng ngay khi mới ra đời đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc và làm dấy lên phong trào cách mạng trong những năm 1930-1931

b) Luận cương chính trị tháng 10-1930

- Luận cương chính trị tháng 10-1930 xác định cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền “có tính chất thổ địa và phản đế”; tiến hành cả hai nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và giành độc lập dân tộc Hai nhiệm vụ này gắn bó khăng khít với nhau

- Về bản chất: đều là những loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới; đều dựa vào bộ mặt chính quyền và quân đội Sài Gòn do Mĩ trực tiếp viện trợ, huấn luyện, trang bị, tổ chức và chỉ huy

- Về thủ đoạn: đều ra sức thực hiện các kế hoạch bình định nhằm chiếm đất, giành dân; đều có hoạt động phối hợp bằng chiến tranh phá hoại miền Bắc; phối hợp hoạt động quân sự với các biện pháp chính trị và ngoại giao

b) Khác nhau

Trang 14

- Về lực lượng: Trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” có quân Mĩ, quân đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn, trong đó quân đội Mĩ giữ vai trò chủ yếu Trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội Sài Gòn giữ vai trò chủ yếu; quân đội Mĩ giữ vai trò phối hợp chiến đấu

và yểm trợ và hỏa lực

- Về biện pháp: trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân

“tìm diệt” và “bình định” (hai cuộc phản công mùa khô 1965-1966 và 1966-1967) Trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ đẩy mạnh các hoạt động “bình định”, lợi dụng mâu thuẫn

Xô – Trung

- Quy mô (địa bàn): trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ mở rộng ra miền Bắc bằng chiến tranh phá hoại Trong chất lượng “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ mở rộng thành “Đông Dương hóa chiến tranh”

Câu 11:

Trình bày và nhận xét hoạt động của tư sản Việt Nam trong những năm 1919-1923

a) hoạt động của tư sản Việt Nam

- Từ năm 1919, tư sản Việt Nam mở cuộc vận động “chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa”; đấu tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, chống độc quyền xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kì

- Năm 1923, một số tư sản và đại địa chủ ở Nam Kì thành lập Đảng Lập hiến Đảng này cũng nêu một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ đã tranh thủ quần chúng

- Ngoài ra còn có nhóm Nam phong và nhóm Trung Bắc tân văn hoạt động ở Bắc Kì Họ mở các cuộc vận động đòi tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do buôn bán

b) Nhận xét về các hoạt động yêu nước của tư sản

- Về lực lượng: chủ yếu là tư sản và địa chủ lớp trên

- Về mục tiêu: nhằm thay đổi một số chính sách trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa, tạo điều kiện cho tư sản Việt Nam sản xuất, kinh doanh

- Mũi nhọn đấu tranh mới chỉ nhằm vào bộ phận tư sản Hoa kiều hoặc một số công ti của tư bản Pháp, chưa dám chống lại toàn bộ nền thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam

- Về tính chất: nhìn chung, phong trào mang nặng tính chất cải lương, giới hạn trong khuôn khổ chế độ thực dân, phong kiến, nên khi được Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi hoặc thẳng tay đàn

áp, thì họ lại đi vào con đường đầu hàng, thõa hiệp, nên nhanh chóng bị phong trào quần chúng vượt qua

Trang 15

Câu 12:

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) của Đảng Cộng sản Đông Dương được thể hiện trong các tài liệu cơ bản nào? Hãy nêu và giải thích nội dung của đường lối đó

a) Tài liệu cơ bản

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được thể hiện trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946) và được giải thích cụ thể trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh (9-1947)

b) Nêu và giải thích nội dung đường lối kháng chiến

- Xác định mục đích kháng chiến là giành độc lập và thống nhất hoàn toàn Hồ Chí Minh kêu gọi: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”

- Xác định tính chất của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện

+ Kháng chiến toàn dân

Kháng chiến toàn dân là huy động toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay; thực hiện các khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến”, “Kháng chiến khắp nơi”, "Mỗi làng là một pháo đài"

Phải kháng chiến toàn dân vì so sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch, nếu chỉ dựa vào lực lượng quân đội thì sẽ không thể nào thắng được giặc Đó là sự kế thừa và phát huy truyền thống "cả nước chung sức đánh giặc" của dân tộc, thể hiện tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Hồ Chí Minh

+ Kháng chiến toàn diện

Kháng chiến toàn diện là kháng chiến trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và ngoại giao

Phải kháng chiến toàn diện vì: 1- Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn để xâm lược nước Việt Nam

và thống trị nhân dân Việt Nam, nên phải làm thất bại mọi thủ đoạn của chúng 2- Để kháng chiến thắng lợi phải xây dựng một hậu phương vững mạnh và mọi mặt, đồng thời phải tranh thủ

sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế

- Xác định phương châm chiến lược: trường kì và tự lực cánh sinh

+ Kháng chiến trường kì

Trang 16

Đây là phương châm chiến lược đánh lâu dài, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, tiến lên tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh

Phải kháng chiến trường kì vì: 1- So sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch, không thể giành thắng lợi nhanh chóng; 2- Để chống lại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của giặc Pháp, không cho quân Pháp phát huy lối đánh sở trường của chúng; 3- Cần có thời gian

để vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng và vận động quốc tế

+ Kháng chiến tự lực cánh sinh

Đây là phương châm dựa vào sức mình là chính, nhằm phát huy mọi nỗ lực chủ quan tránh bị động trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài Trong thời gian đầu (1946-1949), cuộc kháng chiến nằm trong tình thế bị bao vây, cô lập, càng phải phát huy tinh thần tự lực cánh sinh

Trong khi nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, Đảng và Chính phủ vẫn coi trọng sự giúp đỡ quốc

tế, nên vẫn ra sức tuyên truyền, vận động quốc tế, tranh thủ mọi sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần, lằm tăng thêm sức mạnh của cuộc kháng chiến

- Đường lối kháng chiến của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân Đó là nguồn cổ vũ, dẫn dắt

cả dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến, là xuất phát điểm cho mọi sự thắng lợi của cuộc kháng chiến

Câu 13:

Trình bày hoàn cảnh ra đời, chính sách và biện pháp của Xô viết Nghệ - Tĩnh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội Vì sao nói Xô viết Nghệ - Tĩnh thực sự là chính quyền cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng?

a) Hoàn cảnh ra đời

- Trong phong trào cách mạng 1930-1931, Nghệ - Tĩnh là nơi phong trào phát triển mạnh mẽ nhất Quần chúng tổ chức tuần hành thị uy, biểu tình có vũ trang tự vệ tiến công vào bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến ở địa phương

- Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính quyền thực dân và phong kiến tay sai ở nhiều nơi bị tê liệt, ở nhiều xã bị tan rã

- Các Ban Chấp hành Nông hội xã do các Chi bộ Đảng lãnh đạo đứng ra quản lí mọi mặt đời sống xã hội ở nông thôn, làm chức năng, nhiệm vụ của một chính quyền nhà nước dưới hình thức các Ủy ban tự quản theo kiểu Xô viết

b) Chính sách và biện pháp

Trang 17

- Về chính trị, thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Thành lập đội tự vệ đỏ, tòa án nhân dân

- Về kinh tế, thi hành các biện pháp như: chia lại ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ; xóa nợ cho người nghèo; tu sửa cầu cống, đường giao thông, lập các tổ chức để nông dân giúp đỡ nhau sản xuất…

- Về văn hóa – xã hội, mở lớp dạy chữ Quốc ngữ cho các tầng lớp nhân dân, xóa bỏ tệ nạn mê tín

dị đoan, xây dựng nếp sống mới

c) Xô viết Nghệ - Tĩnh thực sự là chính quyền cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Về tổ chức : Chính quyền Xô viết được hình thành từ các Ban Chấp hành Nông hội do các Chi

bộ Đảng ở địa phương lãnh đạo

- Về hoạt động: Các chính sách và biện pháp của Xô viết Nghệ - Tĩnh để đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân, tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của chính quyền cách mạng; là chính quyền của dân, do dân và vì dân

- Xô viết Nghệ - Tĩnh là mẫu hình chính quyền cách mạng đầu tiên ở Việt Nam Các xô viết được thành lập và thực thi những chính sách tiến bộ chứng tỏ rằng Xô viết Nghệ - Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930-1931

Câu 14:

Tóm tắt diễn biến của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam Vì sao nói những cuộc khởi nghĩa ở thành thị có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa? a) Tóm tắt diễn biến (Như trong chuẩn)

b) Những cuộc khởi nghĩa ở thành thị có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa

- Thành thị, nhất là những thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn là nơi tập trung các cơ quan đầu não của kẻ thù Những cuộc khởi nghĩa ở thành thị, nhằm vào các cơ quan đó, làm cho chính quyền của Nhật và tay sai bị tê liệt, tạo điều kiện để các địa phương khác giành thắng lợi

- Cách mạng tháng Tám năm 1945 diễn ra với sự kết hợp chặt chẽ giữa khởi nghĩa ở nông thôn

và thành thị, trong đó những cuộc khởi nghĩa ở thành thị giữ vai trò qi thắng lợi của Tổng khởi nghĩa

Câu 15:

Trang 18

Nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam

và Lào trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược (1945-1975) a) Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

- Nhân dân ba nước Việt - Lào - Campuchia đoàn kết chống xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương

- Tháng 3-1951, Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào được thành lập, tăng cường tình đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung

- Tháng 4-1953, bộ đội Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào, làm cho căn cứ kháng chiến ở Lào được mở rộng và nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam

- Trong Đông – Xuân 1953 – 1954, liên quân Lào – Việt mở chiến dịch Trung – Lào, giải phóng thị xã Thà Khẹt và toàn bộ tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp Xênô; tiến công địch ở Thượng Lào, mở rộng căn cứ kháng chiến ở Lào và góp phần làm phá sản kế hoạch Nava

- Với chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải kí Hiệp định Giơnevơ

về Đông Dương (21-7-1954), công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương b) Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954-1975)

- Ngày 24 và 25-4-1970, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp tại Hà Nội, biểu thị quyết tâm đoàn kết chiến đấu chống Mĩ

- Nửa đầu năm 1970, quân tình nguyện Việt Nam ở Lào cùng quân dân Lào đập tan cuộc hành quân lấn chiếm Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, giải phóng một vùng rộng lớn ở Nam Lào

- Tháng 2 và 3-1971, quân và dân Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn – 719” của quân đội Sài Gòn ra vùng Đường 9 – Nam Lào giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương

- Thắng lợi của cách mạng Việt Nam buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari (1973), sau đó các phái ở Lào thỏa thuận kí Hiệp định Viêng Chăn (21-2-1973), lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào

- Chiến thắng 30-4-1975 của Việt Nam đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mĩ

ở Lào giành thắng lợi hoàn toàn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời (2-12-1975)

- Tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào là một trong những nhân

tố chiến lược đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước

Câu 16:

Trang 19

Trong hơn một năm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chính phủ Việt Nam

đã giải quyết những khó khăn về chính trị, quân sự như thế nào? Nêu ý nghĩa của việc giải quyết

đó

a) Giải quyết khó khăn về chính trị - quân sự

- Một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 8-9-1945, Chính phủ lâm thời công bố lệnh tổng tuyển cử trong cả nước

- Ngày 6-1-1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội trong cả nước Hơn 90% cử tri đi bỏ phiếu và bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

- Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Ủy ban hành chính các cấp

- Ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên đầu tiên, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và lập ra Ban Dự thảo Hiến pháp

- Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua

- Đẩy mạnh xây dựng lực lượng bán vũ trang Cuối năm 1945, lực lượng dân quân tự vệ tăng lên hàng chục vạn người, có mặt ở hầu hết các thôn, xã, đường phố, xí nghiệp trong cả nước

b) Ý nghĩa

- Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cuộc vận động chính trị rộng lớn,

là cuộc biểu dương sức mạnh, thể hiện ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập Điều đó cũng thể hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân, khẳng định Nhà nước cách mạng Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

- Giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chi rẽ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ

sở pháp lí vững chắc cho Nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kì mới, góp phần nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế

- Làm cho bộ máy chính quyền nhà nước được kiện toàn từ Trung ương tới địa phương, trở thành công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

- Trực tiếp củng cố và phát triển thành quả của Cách mạng tháng Tám, đồng thời tích cực chuẩn

bị lực lượng về mọi mặt cho một cuộc kháng chiến lâu dài

Trang 20

Câu 17:

Kế hoạch quân sự của Nava ra đời trong hoàn cảnh nào? Nêu nội dung và nhận xét về bản chất của kế hoạch đó

a) Hoàn cảnh ra đời của kế hoạch quân sự Nava (Như trong chuẩn)

b) Nội dung kế hoạch (Như trong chuẩn)

c) Nhận xét về bản chất của kế hoạch

- Bản chất của kế hoạch Nava là tập trung binh lực (nhằm tiến công chiến lược theo hai bước, giành lại thế chủ động chiến lược đã mất và kết thúc chiến tranh trong 18 tháng)

- Điều đó mâu thuẫn với bản chất của chiến tranh xâm lược thuộc địa là phải phân tán binh lực

để chiếm đất, giữ dân, nhất là ở những nơi có tầm quan trọng về chiến lược

Câu 18 :

Xác định mốc thời gian kết thúc hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Tóm tắt những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc a) Mốc thời gian kết thúc hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

Tháng 7-1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê nin Luận cương giúp Người khẳng định, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản

Tiếp đó, tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp (12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp

b) Tóm tắt những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc

- Yếu tố thời đại

+ Chủ nghĩa tư bản đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Những mâu thuẫn nội tại của nó đang phát triển gay gắt; mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc dẫn tới chiến tranh đế quốc; mâu thuẫn giữa đế quốc với thuộc địa dẫn tới sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc; mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản dẫn tới sự phát triển của phong trào công nhân và cách mạng xã hội

+ Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công, mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời đại giải phóng dân tộc” Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rõ ràng khắp nơi, dẫn đến sự ra đời các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên thế giới Quốc tế Cộng sản

Trang 21

được thành lập (3-1919) Đại hội II của Quốc tế Cộng sản thông qua Luận cương về vấn đề dân tộc và các vấn đề về thuộc địa của Lê nin, chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc

bị áp bức

+ Thời đại dầy biến động trên giúp cho Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn

để xác định một con đường cứu nước đúng đắn

- Yếu tố dân tộc:

+ Phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng theo những con đường khác nhau, nhưng đều bị thực dân Pháp dập tắt

+ Thất bại của phong trào Cần vương cuối thế kỉ XIX khẳng định con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến là không thành công, độc lập dân tộc không thể gắn với chủ nghĩa phong kiến

+ Thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX khẳng định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản không thacong, độc lập dân tộc không thể giành thắng lợi, độc lập dân tộc không gắn liền với chủ nghĩa tư bản

+ Đất nước lâm vào “tình hình đen tối dường như không có đường ra” Tình hình đó phải đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm con đường cứu nước mới

- Yếu tố chủ quan

Trí tuệ và nhãn quan chính trị của Nguyễn Ái Quốc, thể hiện:

+ Nhận thấy hạn chế trong các con đường cứu nước cũ (của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám,…), vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần yêu nước của các vị tiền bối, nhưng Nguyễn Ái Quốc không tán thành những con đường của họ, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường mới

+ Kết hợp nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tế ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước tư bản và thuộc địa, nhất là ba nước tư bản phát triển : Anh, Pháp, Mĩ; rút ra nhiều kết luận quan trọng về cách mạng tư sản là “cách mạng chưa đến nơi”; về bạn và thù của cách mạng Việt Nam trên thế giới; về tinh thần độc lập tự chủ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc…; đặc biệt phát hiện thấy trong Luận cương của Lê nin một phương hướng cứu nước mới và khẳng định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản

Câu 19:

Trang 22

Trình bày những chủ trương chống phát xít được đề ra trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tháng 7-1936, tháng 5-1941 và tháng 3-1945 Nêu kết quả thực hiện những chủ trương đó trong năm 1945

Quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít ở Việt Nam diễn ra qua phong trào cách mạng, tương ứng với hai giai đoạn khác nhau: phong trào dân chủ 1936-1939, phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945

a) Chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1936-1939

Chủ trương của Đảng được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 7-1936

- Xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương chưa phải là thực dân Pháp nói chung, mà là phản động thuộc địa không chịu thực hiện những chính sách mà Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp đặt ban hành

- Nhiệm vụ trước măt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình

- thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương), tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân chủ chống phát xít

- Tận dụng mọi hình thức tổ chức và đấu tranh : công khai, hợp pháp, bán công khai, bán hợp pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp

b) Những chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1939-1945

- Chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939 và hoàn chỉnh tại Hội nghị tháng 5-1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”; tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11-1939), Mặt trận Việt Minh (5-1941); đồng thời đề

ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang; thành lập chính quyền nhà nước với hình thức cộng hòa dân chủ

- Chủ trương khởi nghĩa từng phần, được đề ra tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 9-3-1945: xác định kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”; quyết định phát động một “cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”

Trang 23

- Chủ trương tổng khởi nghĩa, được đề ra tại Hội nghị toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 1945): quyết định phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương

- Cùng với chủ trương tiến công về quân sự, Đảng và Chính phủ Việt Nam quyết định kết hợp đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến Tháng 11-1954, trong bài trả lời phỏng vấn báo Expressen của Thụy Điển, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Nếu Chính phủ Pháp đã rút được kinh nghiệm qua 8 năm chiến tranh và muốn đi vào giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương, thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sàng tiếp ý muốn đó

- Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 của quân đội và nhân dân Việt Nam làm cho kế hoạch Nava không thể thực hiện được theo dự kiến: muốn tập trung nhưng lại phân tán binh lực, muốn giành quyền chủ động, nhưng lại bị động đối phó lúng túng, muốn tiến công, nhưng lại phải phòng ngự, buộc Pháp phải điều chỉnh kế hoạch, chọn Điện Biên Phủ làm khâu chính của kế hoạch Nava (từ 11-1953), xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương Tháng 12 – 1953, Bộ Chính trị qdi mở chiến dịch Điện Biên Phủ

- Tháng 1-1954, Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp) họp tại Béclin quyết định triệu tập Hiệp nghị Giơnevơ để bàn về một giải pháp chính trị cho Triều Tiên và giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương Đây cũng là lúc công tác chuẩn bị cho chiến dịch

Trang 24

Điện Biên Phủ của quân đội và nhân dân Việt Nam đang diễn ra với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến Tất cả để chiến thắng”

- Trong lúc Hội nghị Giơnevơ họp bàn về vấn đề Triều Tiên, cũng là lúc chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, làm cho quânphap ngày càng lâm vào nguy kịch Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo cơ sở thực lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Giơnevơ

- Ngày 8-5-1954, Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương họp phiên đầu tiên Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào Hội nghị với tư thế là người chiến thắng Hội nghị diễn ra trong sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và sự dàn xếp của các nước lớn Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, công nhận các quyền dân tộc cơ bản của các nước Việt - Lào – Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thỗ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương

- Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đặt kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài

và anh dũng của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược

Câu 21:

Trình bày và nhận xét về phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt Nam trong nửa đầu những năm 20 của thế kỉ XX

a) Phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt Nam

- Nhiều thanh niên trí thức sang Quảng Châu (Trung Quốc) tìm đường cứu nước Năm 1923, họ lập ra tổ chức Tâm tâm xã Hoạt động tiêu biểu của tổ chức này là cử Phạm Hồng Thái thực hiện mưu sát Toàn quyền Đông Dương Méclanh (6-1924) Tuy không thành công nhưng sự kiện này

đã khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là thanh niên, “như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”

- Thành lập nhiều tổ chức chính trị như Việt Nam nghĩa đoàn, Hội Phục Việt (sau đổi thành Hưng Nam), Đảng Thanh niên,… với nhiều hoạt động sôi nổi như mít tinh, biểu tình, bãi

khóa,…

- Ra nhiều tờ báo tiến bộ như An Nam trẻ, Người nhà quê, Chuông rè, … (tiếng Pháp), Hữu Thanh, Tiếng dân, Đông Pháp thời báo, Thực nghiệp dân báo …( tiếng Việt)

Trang 25

- Lập một số nhà xuất bản tiến bộ như Nam đồng thư xã ở Hà Nội, Cường học thư xã ở Sài Gòn, Quan hải tùng thư ở Huế…

- Một số hoạt động nổi bật là cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925), các cuộc truy điệu và để tang Phan Châu Trinh (1926)

b) Nhận xét

- Mục tiêu đấu tranh: đòi các quyền tự do, dân chủ, khích lệ lòng yêu nước và ý thức dân tộc

- Lực lượng nòng cốt của phong trào là tài liệu tiểu tư sản trí thức, dễ dàng tiếp thu những tư tưởng dân chủ tiến bộ

- Hình thức đấu tranh phong phú, như mít tinh, biểu tình, bãi thị, bãi khóa, thành lập các tổ chức chính trị, ra báo chí, lập nhà xuất bản, tuyên truyền văn hóa tiến bộ…

- Là phong trào yêu nước mang tính chất dân chủ công khai

- Có tận dụng chuẩn bị cho sự ra đời của các tổ chức cách mạng trong những năm tiếp theo Có

bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng dân chủ tư sản (Nam đồng thư xã phát triển thành Việt Nam Quốc dân đảng), có bộ phận chuyển dần sang khuynh hướng vô sản (từ Hội Phục Việt, Hưng Nam phát triển thành Tân Việt Cách mạng đảng)

- Âm mưu: chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn

cứ quân sự của Mĩ; làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á

- Về bản chất: đều là những loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, nằm trong chiến lược toàn cầu của Mĩ

- Về lực lượng: đều dựa vào bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, do Mĩ trực tiếp viện trợ, trang bị, tổ chức và chỉ huuy…

- Về biện pháp: đều chú trọng thui chính sách bình định nhằm chiếm đạt, giành dân; có kết hợp với những hoạt động chống phá miền Bắc

Trang 26

c) Những điểm khác nhau

- Về lực lượng: trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, lực lượng chủ yếu là quân đội Sài Gòn (thực hiện âm mưu “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”); trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, lực lượng gồm quân viễn chinh Mĩ, quân 5 nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn, trong đó quân Mĩ giữ vai trò chủ yếu

- Về quy mô chiến tranh: trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chiến tranh chỉ diễn ra ở miền Nam, trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, quy mô chiến tranh được mở rộng ra miền Bắc bằng cuộc chiến tranh phá hoại

Câu 23:

Tóm tắt bối cảnh lịch sử của phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất

Sự ra đời và phát triển của các giai cấp công nhân, tư sản và tiểu tư sản có tấn công như thế nào đối với phong trào?

a) Bối cảnh lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển mới:

- Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, trật tự thế giới mới được thiết lập – đó là hệ thống xai – Oasinhtơn Các nước tư bản Châu Âu đều bị chiến tranh tàn phá, nước Pháp thiệt hại nặng

- Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới làm xuất hiện hai khuynh hướng tư sản và khuynh hướng vô sản trong phong trào Cả hai khuynh hướng đều cố gắng vươn lên giải quyết

Trang 27

nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra Đó chính là cuộc đấu tranh giành quyền lao động duy nhất đối với Cách mạng Việt Nam Đây là đặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thời gian từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930

Câu 24:

Trình bày nguyên nhân và ý nghĩa cuộc kháng chiến ở Nam Bộ (từ ngày 23-9-1945 đến trước ngày 6-3-1946)

a) Nguyên nhân

- Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam

+ Ngay từ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc ở Châu Âu, thực dân Pháp ở Đông Dương theo phái Đờ Gôn đặt ráo riết hoạt động, chờ thời cơ phản công quân Nhật Bản giành lại địa vị thống trị cũ

+ Khi Nhật Bản dài hạn Đồng minh, Pháp xúc tiến âm mưu trở lại xâm lược nước thuộc địa cũ ở Đông Dương, được sự tiếp tay của Mĩ và Anh

+ Ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của Anh, quân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai

- Nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Nam Bộ nói riêng “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” vừa mới giành được, bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám

- Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xác định kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam là thực dân Pháp xâm lược, mà nhân dân Việt Nam phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng; quyết định phát động cả nước ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, chi viện cho Nam Bộ kháng chiến

b) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ

- Bước đầu làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, giữ vững và phát triển lực lượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu

- Góp phần bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ

- Tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc về sau

Trang 28

Câu 25:

Trình bày bối cảnh lịch sử và hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Kết quả cuối cùng của những hoạt động ấy có ý nghĩa như thế nào đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam?

a) Bối cảnh lịch sử

- Bối cảnh thế giới:

+ Chủ nghĩa tư bản đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Những mâu thuẫn trong lòng nó phát triển gay gắt: mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc dẫn tới chiến tranh đế quốc, tiêu biểu là Chiến tranh thế giới thứ nhất; mâu thuẫn giữa đế quốc với thuộc địa dẫn tới sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc; mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản dẫn tới sự phát triển của phong trào công nhân và cách mạng xã hội

+ Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công, mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời đại giải phóng dân tộc” Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rộng rãi khắp nơi, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên thế giới

+ Quốc tế Cộng sản được thành lập (3-1919) Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua Luận cương về vấn đề dân tộc và các vấn đề về thuộc địa của Lê nin, chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức

Bối cảnh trên đây giúp Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn để xác định một con đường cứu nước đúng đắn

- Bối cảnh trong nước:

+ Thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam Đất nước mất độc lập, nhân dân không được

tự do Độc lập tự do là khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước

+ Phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng theo những con đường khác nhau nhưng đều bị thực dân Pháp dập tắt Thất bại của phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX khẳng định con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến là không thành công, độc lập dân tộc không thể gắn với chủ nghĩa phong kiến Thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX khẳng định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản không thể giành thắng lợi, độc lập dân tộc không gắn liền với chủ nghĩa tư bản Sự nghiệp giải phóng dân tộc lầm vào “ tình hình đen tối dường như không có đường ra”, đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm một con đường cứu nước mới

Trang 29

b) Quá trình tìm đường cứu nước

- Từ rất sớm, Nguyễn Tất Thành đã có chí “đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào” Khi tiếp xúc với khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng Pháp, Nguyễn Tất Thành rất muốn sang Pháp đã tìm hiểu xem những gì ẩn náu đằng sau những từ ấy Đến năm 1911, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn tìm cơ hội ra nước ngoài để “xem họ làm như thế nào”, rồi trở về giúp đồng bào, giải phóng dân tộc Ngày 5-6-1911, trên một chiếc tàu buôn của Pháp, Nguyễn Tất Thành rời cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước

- Sau khi đến Mácxây (Pháp), Nguyễn Tất Thành qua nhiều nước ở Châu Phi, Châu Mĩ và Châu Âu; kết hợp nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn, nhất là ở ba nước tư bản phát triển Mĩ, Anh

và Pháp, nhận thấy các cuộc cách mạng tư sản là “chưa đến nơi”, ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác, ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man

- Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Luân Đôn (Anh) đến Pari (Pháp) Tại đây, Nguyễn Tất Thành hoạt động trong phong trào yêu nước của Việt kiều và trở thành nhân vật chủ chôt của Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pari, rồi gia nhập Đảng xã hội Pháp vì đây là tổ chức chính trị duy nhất ở Pháp theo đuổi lí tưởng của Đại Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái

và đấu tranh vì quyền lợi cho các nước thuộc địa

- Tháng 6-1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xai bản yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết của to Việt Nam Bản Yêu sách không được chấp nhận Nguyễn Ái Quốc kết luận : “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”

- Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lê nin Luận cương đã giúp Người khẳng định muốn cứu nước

và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản

- Tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp (Đại hội Tua), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp c) Ý nghĩa

Như vậy, sau 10 năm tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin

và xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản Kết quả đó có ý nghĩa mở đường đã giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước đầu thế kỉ XX

Trang 30

Câu 26:

Tóm tắt cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự của quân dân miền Nam trong giai đoạn

1965-1968 Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1965-1968

a) Tóm tắt cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự của quân dân miền Nam trong giai đoạn

ở Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)

Trong chiến dịch Vạn Tường (8-1965), quân chủ lực và nhân dân địa phương đã đẩy lùi được cuộc hành quân của Mĩ, loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với quân Mĩ và quân Đồng minh, chứng tỏ khả năng Quân giải phóng đánh thắng chiến lược

“Chiến tranh cục bộ”, mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam

- Đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, bẻ gãy cả hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” của Mĩ

- Thừa thắng, quân dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, nhằm hướng chủ yếu là các đô thị, giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ, buộc Mĩ phải chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán tạ Hội nghị Pari (1973) b) Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968

- Đây là một loại hình chiến dịch độc đáo, chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới, làm cho Mĩ bị bất ngờ và choáng váng, ý chí xâm lược bị lung lay Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh Việt Nam (tức thừa nhận thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chịu đàm phán ở Pari đã bàn về chấm dứt chiến tranh Đó là bước ngoặt đi xuống của Mĩ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam

- Mở ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh cách mạng nhân dân Việt Nam, liên tục kết hợp tiến công và nổi dậy, kết hợp đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao Trong cục diện “vừa đánh, vừa đàm”, quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục tiến lên “Đánh cho Mĩ cút, đánh cho Ngụy nhào”, đưa sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước từng bước đến toàn thắng

Trang 31

và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

a) Về tư tưởng chính trị

- Nguyễn Ái Quốc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước Việt Nam thuộc địa, xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản rồi truyền bá vào Việt Nam

- Lí luận đó được trình bày qua nhiều bài viêt cho các báo (Người cùng khổ, Nhân đão, Đời sống công nhân, Sự thật, Thanh niên, Tạp chí Thư tín quốc tế…), một số tham luận trình bày tại Hội nghị Quốc tế nông dân và Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, nhất là qua hai tác phẩm Bản án chế

độ thực dân Pháp và Đường Kách mệnh

- Lí luận giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là ngọn cờ dẫn đường cho phong trào cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời, là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng, đồng thời đặt cơ sở để hình thành Cương lĩnh chính trị của Đảng về sau b) Về tổ chức

- Sau khi từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã tổ chức thành nhóm Cộng sản đoàn (2-1925), làm nòng cốt để thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1925) nhằm tổ chức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp và tay sai giải phóng dân tộc Hội đã xây dựng hệ thống tổ chức ở khắp nơi trong nước Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ, xuống Kì bộ, cơ sở là Chi

bộ Đến năm 1929, Hội có khoảng 1700 hội viên Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một bước chuẩn bị

có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng

- Nguyễn Ái Quốc mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo một đội ngũ cán bộ cho Cách mạng Việt Nam, đa số là thanh niên, học sinh, trí thức yêu nước Họ “học làm cách mạng, học

Trang 32

hoạt động bí mật” Một số được gửi đi học ở Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) hoặc và Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), còn phần lớn trở về nước hoạt động, tuyên truyền lí luận cách mạng giải phóng dân tộc trong quần chúng và xây dựng tổ chức của Hội

Câu 28:

Phân tích điều kiện bùng nổ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam

a) Điều kiện chủ quan

- Đảng có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng, biểu hiện tập trung ở Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) Đảng đã giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết các vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, đồng thời đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang

- Lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, được rèn luyện qua các phong trào cách mạng 1930-

1931, 1936-1939, nhất là cuộc tập dượt vĩ đại trong cao trào kháng Nhật cứu nước (từ ngày 9-3 đến giữa tháng 8-1945)

- Tầng lớp trung gian, khi Nhật đảo chính Pháp mới chỉ hoang mang dao động, nhưng sau một thời gian đã thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật, chán ngán những chính sách của Nhật, nên đặt ngả hẳn về phía cách mạng

Đến tháng 8-1945, toàn Đảng, toàn dân đặt sẵn sàng hành động, kiên quyết phấn đấu giành độc lập tự do Những điều kiện chủ quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa đầy đủ

b) Điều kiện khách quan

- Ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Ở Đông Dương, chính quyền Nhật và tay sai hoang mang, quân đội Nhật mất hết tinh thần Kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam ngã gục, thời cơ cách mạng xuất hiện

- Tuy nhiên, một nguy cơ mới đang đến gần quân đội các nước Đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật Với bản chất đế quốc, họ có thể dựng lên một chính quyền tay sai trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam Đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương Các thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách

Trang 33

thay thầy đổi chủ Vì thế, vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh mà Đảng và nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ

- Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật Bản đầu hàng Đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương (cuối tháng 8-1945)

Đó là lúc kẻ thù cũ đã suy sụp, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, là lúc so sánh lực lượng có lợi nhất đối với cách mạng

Câu 29:

Qua bảng dữ liệu sau, hãy nhận xét mục đích của cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 -

1954 và vai trò của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam 1945-1954

Ngày 10-12-1953 Bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công thị xã Lai

Châu, giải phóng Lai Châu Pháp điều quân từ đồng bằng Bắc Bộ tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung quân thứ hai của Pháp

Đầu tháng 12-1953 Liên quân Lào - Việt mở cuộc tiến công ở

Trung Lào; tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở đây Pháp tăng cường lực lượng cho Xênô Xênô trở thành nơi tập trung binh lực thứ ba của Pháp Cuối tháng 1-1954 Lqvl tiến công Thượng Lào; giải phóng lưu

vực sông Nậm Hu và Phong Xa Lì Pháp điều quân từ đồng bằng Bắc Bộ sang tăng cường, biến Luông Phabang và Mường Sài thành nơi tập trung quân thứ tư của Pháp

Đầu tháng 2-1954 Bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công Bắc Tây

Nguyên, giải phóng Kon Tum, uy hiếp Plâyku Pháp tăng quân giữ playki Plâyku trở thành nơi tập trung quân thứ năm của Pháp

Từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954 Quân đội và nhân dân Việt Nam tiến công và

Trang 34

tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava

kết, Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương, rút quân đội về nước

- Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 của quân đội và nhân dân Việt Nam nhằm buộc quân Pháp phải bị động phân tán lực lượng trên chiến trường làm cho kế hoạch Nava không thể thực hiện được như dự kiến…

- Chiến thắng Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 – 1954, trận quyết chiến chiến lược trong kháng chiến chống Pháp, đập tan kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo

cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc ngoại giao, đi đến kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, kết thúc cuộc kháng chiến

Câu 30:

Phân tích những biện pháp của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm đối phó với quân đội Trung Hoa Dân quốc từ tháng 9-1945 đến trước ngày 6-3-1946

- Thực hiện quyết định của Hội nghị Pốtxđam (7-1945), 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo

và Đông Dương, từ vĩ tuyến 20 trở ra, theo sau là các đảng Việt Quốc, Việt Cách, âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng Tuy nhiên, trong tình thế

“"ngàn cân treo sợi tóc"” của nước Việt Nam sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng

và Chính phủ chủ trương hòa hoãn với quân đội Trung Hoa Dân quốc, sử dụng biện pháp nhân nhượng cho họ một số quyền lợi

+ Cung cấp cho họ một phần lương thực, thực phẩm trong lúc nhân dân Việt Nam đang phải lo giải quyết nạn đói

+ Chấp nhận cho họ tiêu những đồng tiền để mất giá ở Trung Quốc (Quan kim Quốc tệ) trên thị trường Việt Nam, trong khi nền tài chính của đất nước đang khủng hoảng nghiêm trọng

+ Đồng ý nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ liên hiệp mà không qua bầu cử

+ Hết sức kiềm chế, tránh xung đột để họ khỏi kiếm cớ sách nhiễu chính quyền cách mạng

Trang 35

+ Đảng Cộng sản Đông Dương phải rút vào hoạt động bí mật với danh nghĩa “tự giải tán” để tránh mũi nhọn tiến công của Trung Hoa Dân quốc

- Việc thực hiện những biện pháp trên đây là cần thiết vì:

+ Trong hoàn cảnh lúc đó, Việt Nam không thể đánh nhiều kẻ thù một lúc, khi so sánh lực lượng chưa có lợi cho cách mạng

+ Cần phải tập trung lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp đang tiến hành chiến tranh xâm lược ở miền Nam

+ Nhân dân Việt Nam cần có thời gian hòa bình để củng cố chính quyền, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt

+ Trung Hoa Dân quốc có mâu thuẫn nội bộ, lại phải lo đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc đang ngày càng phát triển Việt Nam có thể lợi dụng những khó khăn của họ để hòa hoãn với họ

- Trong khi nhân nhượng với Trung Hoa Dân quốc, Đảng và Chính phủ vẫn luôn giữ vững những nguyên tắc cách mạng:

+ Giữ vững chủ quyền dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng của nhân dân Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

+ Dựa vào quần chúng để kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực phản động; kiên quyết trừng trị theo pháp luật những kẻ phá hoại khi có đủ bằng chứng

- Tác dụng của những biện pháp nhân nhượng:

+ Hạn chế được các hoạt động chống phá của quân đội Trung Hoa Dân quốc và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của họ

+ Tạo điều kiện tập trung lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, bước đầu làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp + Tạo ra thời gian hòa bình để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng

vũ trang, chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu lâu dài

Trang 36

- Quân và dân miền Nam tiến hành cuộc chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mĩ

- Quân dân miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai, vừa sản xuất, xây dựng và làm nghĩa vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia

- Quân dân cả nước phối hợp với Campuchia và Lào chống chiến lược “Đông Dương hóa” chiến tranh của Mĩ

Câu 32:

Dựa vào những dữ liệu trong bảng (đã cho) và kiến thức đã được học, hãy phân tích chủ trương chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1939-1945

Trong giai đoạn trực tiếp vận động giải phóng dân tộc 1939-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương

đã đề ra chủ trương chiến lược mới từ Hội nghị tháng 11-1939 và hoàn chỉnh tại Hội nghị tháng 5-1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

- Về nhiệm vụ cách mạng: Đảng giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất; xác định nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu trước mắt của cách mạng là đánh

đổ đế quốc và tay sai, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất Hội nghị tháng 5-1941, nhấn mạnh giải phóng dân tộc là "nhiệm vụ bức thiết nhất", đặt quyền lợi của giai cấp "dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia dân tộc"

- Về vấn đề dân tộc: Hội nghị tháng 5-1941 chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, một chính quyền cách mạng riêng

- Về tập hợp lực lượng: Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều chủ trương tập hợp rộng rãi mọi lực lượng chống đế quốc trong các mặt trận thống nhất dân tộc, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng

- Về phương pháp: Hội nghị tháng 11-1939 khẳng định con đường vũ trang bạo lực giành chính quyền Hội nghị tháng 5-1941 đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân là khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa

Trang 37

- Về hình thức chính quyền nhà nước: Hội nghị tháng 11-1939 thay khẩu hiệu thành lập chính quyền Xô viết công nông binh bằng khẩu hiệu thành lập Chính phủ cộng hòa; Hội nghị tháng 5-

1941 chỉ rõ ở Việt Nam sự thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Như vậy, bước vào giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước 1939-1945, Đảng kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, khẳng định lại đường lối đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

và lí luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh Nhờ đó Đảng đặt lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh chuẩn bị lực lượng và đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công

- Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng khai thác mọi khả năng hòa bình, chủ động đàm phán với Pháp để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tiếp tục phát triển thực lực cách mạng về mọi mặt

để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược và làm cơ sở cho đấu tranh ngoại giao nhằm tiếp tục bảo vệ nền độc lập dân tộc

- Ngày 3-3-1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định chọn giải pháp "hòa để tiến"

- Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta, kí với đại diện Chính phủ Pháp là G Xanhtơni bản Hiệp định Sơ bộ

+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ riêng, quân đội riêng, tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp

+ Chính phủ Việt Nam đồng ý để cho 15000 quân Pháp ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc giải giáp quân đội Nhật và rút quân sau 5 năm

Trang 38

+ Hai bên không xung đột ở Nam Bộ và giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ, nhằm đưa đến điều kiện thuận lợi cho tương lai của Đông Dương

- Việc kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 tạm thời hòa hoãn với Pháp là chủ trương đúng đắn và kịp thời của Chính phủ cách mạng, đã ngăn chặn được âm mưu câu kết của thực dân Pháp và Trung Hoa Dân quốc, nhanh chóng gạt 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai về nước, tránh được một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và bất lợi cho ta, tạo thời gian hòa hoãn để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu về sau

b) Tạm ước 14-9-1946

- Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, với mong muốn tìm một giải pháp hòa bình để giải quyết tình trạng xung đột, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là thượng khách sang thăm nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp

- Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã cử đoàn đàm phán với Pháp ở Hội nghị trù bị Đà Lạt (từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5-1946) và Hội nghị Phôngtennơblô (từ tháng 6 đến tháng 9-1946) Do thái độ hiếu chiến của Pháp nên các cuộc đàm phán đều thất bại Quan hệ Việt Pháp căng thẳng, nguy cơ một cuộc chiến tranh sắp nổ ra

- Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đàm phán và kí với đại diện của Chính phủ Pháp (Mutê) bản Tạm ước 14-9-1946 tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh tế- văn hóa ở Việt Nam, nhằm mục đích kéo dài thời gian hòa hoãn tích cực chuẩn bị lực lượng cho kháng chiến

- Cuộc đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong năm 1946, tuy chưa giải quyết được mục tiêu cơ bản nhưng đã làm cho nhân dân Pháp

và thế giới hiểu rõ hơn về vấn đề Việt Nam, làm cho số đông người Pháp đồng tình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam

- Kiên trì con đường đàm phán hòa bình với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thiện chí và hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đẩy được quân Trung Hoa Dân quốc về nước và phá tan âm mưu câu kết giữa chúng chống lại nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi

Câu 34:

Trang 39

So sánh chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh trong 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 (về tính chất, lực lượng, mục tiêu, hình thức, địa bàn, phương châm tác chiến, kết quả và ý nghĩa)

- Khác nhau: Chiến dịch Điện Biên Phủ có 5 đại đoàn chủ lực, chiến dịch Hồ Chí Minh có 5 quân đoàn và tương đương quân đoàn chủ lực

c) Mục tiêu khác nhau

Chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm vào mục tiêu quân sự (một tập đoàn cứ điểm); chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm và các cơ quan đầu não của kẻ thù (của quân sự và chính trị)

d) Hình thức thực hiện

- Giống nhau: đều là hai chiến dịch chủ động tiến công

- Khác nhau: Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công của lực lượng quân sự, chiến dịch

Hồ Chí Minh là sự kết hợp tiến công của lực lượng vũ trang với phong trào nổi dậy của quần chúng

e) Địa bàn khác nhau

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra ở vùng nông thôn rừng núi; chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra ở một đô thị lớn ở đồng bằng

g) Phương châm tác chiến

- Giống nhau: đều đảm bảo đánh chắc thắng

- Khác nhau: chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra với phương châm "đánh chắc, tiến chắc" (trong thời gian dài), còn chiến dịch Hồ Chí Minh theo phương châm "thần tốc, táo bạo, bất ngờ" (trong thời gian ngắn hơn)

h) Kết quả khác nhau

Trang 40

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã tiêu diệt hoàn toàn một tập đoàn cứ điểm của quân Pháp; chiến dịch Hồ Chí Minh đặt làm sụp đổ và tan rã hoàn toàn bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, quét sạch cơ đồ thực dân mới của đế quốc Mĩ

- Cách mạng tháng Tám là một cuộc vùng dậy của cả dân tộc Việt Nam, diễn ra với hình thức khởi nghĩa vũ trang Đó là một cuộc cách mạng bạo lực

- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng của là bạo lực của quần

chúng Đảng và Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng cơ sở của bạo lực cách mạng bao gồm hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang

+ Lực lượng chính trị được tập hợp, giác ngộ và rèn luyện trong Mặt trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên "Cứu quốc"

Ngày đăng: 01/06/2016, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w