1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Giáo trình môn công nghệ mạng không dây phần 1

47 547 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với sự phát triển đó thì hệ thống mạng cũng luôn được nâng cấp và cải tiến và một trong những đột biến chính là việc đưa hệ thống mạng không dây vào sử dụng và ngày càng phôt b

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Có thể nói thập kỷ vừa qua chính là thập kỷ của CNTT, với sự bùng nổ mạnh mẽ của nghành CNTT Ngày nay khái niệm về mạng không còn là một khái niệm còn xa lạ với bất kỳ đối tượng nào trong xã hội nữa mà nó đã trở thành một công cụ gần như không thể thiếu của tất cả các nghành nghề, công việc Song song với sự phát triển đó thì hệ thống mạng cũng luôn được nâng cấp

và cải tiến và một trong những đột biến chính là việc đưa hệ thống mạng không dây vào sử dụng và ngày càng phôt biến trong các doanh nghiệp và cá nhân Chính vì sự tiện lợi của nó mà mạng không dây đang dần thay thế một số hệ thống mạng đi dây hiện tại

Mạng không dây nói chung và mạng WLAN nói riêng đều bộc lộ nhiều

ưu điểm cũng như sự hạn chế Ưu điểm lớn nhất của mạng WLAN đó là tính linh hoạt, di động Nó tạo ra sự thoải mái trong việc truyền tải qua các thiết bị hỗ trợ không có sự ràng buộc chặt chẽ về khoảng cách và không gian như mạng có dây thông thường Đồng thời giá thiết bị ngày càng rẻ, chất lượng dường truyền ngày càng nâng cao và việc lắp đặt, nâng cấp mạng không dây ngày càng trở nên

dễ dàng Chính những điều này đã làm góp phần làm cho mạng không dây ngày càng trở nên phổ biến Trong xu thế phát triển môi trường làm việc tương tác, năng động, các tổ chức doanh nghiệp có xu hướng chuyển đổi sang trạng thái di động, việc này vừa làm tăng năng suất, hiệu quả làm việc của nhân viên và còn làm giảm diện tích văn phòng, tiết kiệm được thời gian, công sức lắp đặt các điểm Với WLAN người dùng có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu của công ty, cơ quan của mình tại văn phòng hay bên ngoài và có thể duy trì liên tục các kết nối Internet Ngoài ra mạng WLAN đã thể hiện rõ tính ưu việt về khả năng mở rộng

và quản lý do đặc tính dễ bổ sung các điểm truy cập mà không mất thêm chi phí

đi dây so với hệ thống mạng LAN truyền thống

Tuy nhiên mạng WLAN cũng bộc lộ điểm hạn chế đó là việc bảo mật rất khó khăn vì việc truyền tin đó chính là việc truyền tín hiệu sóng radio nên bất kỳ

ai nằm trong phạm vi phủ sóng với thiết bị cũng có thể bắt và xử lý các gói tin Ngoài ra mạng WLAN không có phạm vi ranh giới rõ ràng cho nên rất khó quản

lý Trong khuôn khổ chương trình đào tạo, giáo trình giới thiệu gồm 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu về Wireless

Chương 2: Các tầng của mạng không dây

Chương 3: Bảo mật và quản lý mạng không dây

Nội dung cuốn sách được dùng để giảng dạy bậc cao đẳng và trung cấp nghề chuyên ngành công nghệ thông tin Giúp cho sinh viên có kiến thức cơ bản nhất về mạng không dây

Do thời gian còn hạn chế, tài liệu chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp và xây dựng của bạn đọc

Nhóm biên soạn

Trang 2

Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ WIRELESS

1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

Trong khi việc nối mạng Ethernet(Ethernet là một họ lớn và đa dạng gồm các công nghệ mạng dựa khung dữ liệu (frame-based) dành cho mạng LAN) hữu tuyến đã diễn ra từ 30 năm trở lại đây thì nối mạng không dây vẫn còn là tương đối mới đối với thị trường Internet Trên thực tế, chuẩn không dây được sử dụng rộng rãi đầu tiên 802.11b, đã được Viện kỹ thuật điện và điện tử

Mỹ IEEE (Institue of Electric and Electronic Engineers) phê chuẩn 16 năm trước đây (năm 1999) Vào thời điểm đó, phần cứng nối mạng không dây còn rất đắt và chỉ những công ty giàu có và có nhu cầu bức thiết mới có đủ khả năng

để nối mạng không dây Một điểm truy nhập (hay trạm cơ sở - Access Point), hoạt động như một cầu nối giữa mạng hữu tuyến và mạng không dây, có giá khoảng 1000 đô la Mỹ vào thời điểm năm 1999, trong khi các card không dây máy khách giành cho các máy tính sách tay có giá khoảng 300 đô la Vậy mà bây giờ bạn chỉ phải trả 55 đô la cho một điểm truy nhập cơ sở và 30 đô la cho một card máy khách 802.11b và đó là lý do tại sao mà việc nối mạng không dây lại đang được mọi người ưa chuộng đến vậy Rất nhiều máy tính sách tay-thậm chí cả những máy thuộc loại cấu hình thấp-bây giờ cũng có sẵn card mạng không dây được tích hợp, vì vậy bạn không cần phải mua một card máy trạm nữa

Mạng không dây là cả một quá trình phát triển dài, giống như nhiều công nghệ khác, công nghệ mạng không dây là do phía quân đội triển khai đầu tiên Quân đội cần một phương tiện đơn giản và dễ dàng, và phương pháp bảo mật của sự trao đổi dữ liệu trong hoàn cảnh chiến tranh

Khi giá của công nghệ không dây bị từ chối và chất lượng tăng, nó trở thành nguồn kinh doanh sinh lãi cho nhiều công ty trong việc phát triển các đoạn mạng không dây trong toàn hệ thống mạng Công nghệ không dây mở ra một hướng đi tương đối rẻ trong việc kết nối giữa các trường đại học với nhau thông qua mạng không dây chứ không cần đi dây như trước đây Ngày nay, giá của công nghệ không dây đã rẻ hơn rất nhiều, có đủ khả năng để thực thi đoạn mạng không dây trong toàn mạng, nếu chuyển hoàn toàn qua sử dụng mạng không dây, sẽ tiết kiệm thời gian và tiền bạc của công ty

Trang 3

Hình 1.1.Mạng không dây trong trường học

Đối với người dùng internet, mạng không dây vẫn còn là một công nghệ mới mẻ Bây giờ nhiều người đã tạo cho mình những mạng không dây mang lại thuận lợi trong công việc, trong văn phòng hoặc giải trí tại nhà

Khi công nghệ mạng không dây được cải thiện, giá của sự sản xuất phần cứng cũng theo đó hạ thấp giá thành và số lượng cài đặt mạng không dây sẽ tiếp tục tăng Những chuẩn riêng của mạng không dây sẽ tăng về khả năng thao tác giữa các phần và tương thích cũng sẽ cải thiện đáng kể Khi có nhiều người sử dụng mạng không dây, sự không tương thích sẽ làm cho mạng không dây trở nên vô dụng, và sự thiếu thao tác giữa các phần sẽ gây cản trở trong việc nối kết giữa mạng công ty với các mạng khác

2 TRUYỀN THÔNG VÔ TUYẾN

Truyền thông vô tuyến truyền các tín hiệu qua không trung và không gian

sử dụng radio, microwave, và các tần số hồng ngoại trong khoảng megacycle/ giây và kilomegacycle/ giây Các kỹ thuật truyền vô tuyến khác cũng có thể thực hiện, như các hệ thống laser point-to-point, nhưng các hệ thống này không phổ biến như các hệ thống radio, microwave Ba loại truyền thông vô tuyến là:

-Truyền thông vô tuyến di động (Wireless mobile communications) Truyền thông sóng vô tuyến qua các tiện ích công cộng sử dụng packet-radio, các mạng cellular, và các trạm vệ tinh đối với các người sử dụng làm việc bên ngoài văn phòng hay làm việc ngay trên lộ trình của họ

Hình 1.2: Truyền thông vô tuyến di động

Trang 4

- Truyền thông LAN vô tuyến (Wireless LAN communication) Truyền thông sóng vô tuyến được thực hiện trong các khu vực của một công ty thông qua thiết bị

Hình 1.3: Truyền thông LAN vô tuyến

-Bắc cầu nối vô tuyến và liên mạng (Wireless bridging and internetworking) Truyền thông sóng vô tuyến được sử dụng để kết nối các tòa nhà và các phương tiện trong các khuôn viên trường sở, các khu vực trung tâm, hay các văn phòng ở các vị trí khác trên hành tinh này (sử dụng vệ tinh)

Hình 1.4: Bắc cầu nối vô tuyến và liên mạng

Trang 5

3 TRUYỀN THÔNG DI ĐỘNG

Truyền thông di động - Wireless Mobile Communications - được sử dụng

để giữ mối liên lạc giữa những người kinh doanh thường xuyên di chuyển, các trao đổi phân phối, các kỹ thuật viên dã chiến, và các đối tượng khác Những người dùng máy tính di động sử dụng truyền thông vô tuyến để kết nối với các mạng các cơ sở dữ liệu truy vấn , trao đổi thư điện tử, truyền tập tin, và thậm chí tham gia xử lý cộng tác Tất cả đều được thực hiện bằng các máy tính xách tay, PDA (personal digital assistants), và các thiết bị truyền thông

vô tuyến nhỏ khác nhau Những người dùng cũng sẽ kết nối Internet thông qua các thiết bị này, và một ngôn ngữ đặc biệt được gọi là HDML (Hand-held Device Markup Language) được sáng tạo cho mục đích này

Các nhà cung cấp hệ điều hành quan tâm đến những ai dùng di động bằng cách xây dựng các đặc tính mới để theo dõi vị trí của người sử dụng di động và duy trì môi trường từ session này sang session khác Ví dụ, vì người dùng

di động di chuyển từ nơi này sang nơi khác, người đó sẽ thường xuyên ngưng kết nối và sẽ kết nối lại với các hệ thống từ xa Hệ điều hành có thể tự động phục hồi các kết nối vào desktop của session trước đó Nếu một người nào đó truy xuất vào một cơ sở dữ liệu, thì các truy vấn trước đó tới cơ sở dữ liệu này

sẽ chờ đợi họ trong lần kết nối tới Những PDA thường sử dụng các giao diện

xa lạ đối với hầu hết các hệ điều hành mạng và các ứng dụng Tuy nhiên, các nhà sản xuất sẽ tích hợp tất cả các hệ thống này khi số lượng những người dùng di động gia tăng

Về bản chất,việc xử lý di động có liên quan đến những bộ tải điện thoại

và các nhà cung cấp dịch vụ khác Những người dùng chắc chắn sẽ quan tâm mức độ truy xuất (khoảng cách và tính thông suốt của tín hiệu), tốc độ truyền dữ liệu tiềm năng, và các khả năng lưu trữ và chuyển đi cho phép người dùng lấy các thông điệp khi họ quay lại trong phạm vi cho phép

Các đề mục sau đây mô tả các truyền thông vô tuyến cho các người dùng di động:

- AMPS (Advanced Mobile Phone service) Mô tả hệ thống điện thoại cellular chuyển mạch vòng tín hiệu tương tự (analog) đầu tiên

- CDPD (Cellular Digital Packet Data) Mô tả cách đóng gói và tải dữ liệu trên các hệ thống sóng vô tuyến cellular analog đang có, ví dụ AMPS

- Cellular Communication Systems Thảo luận sự khác nhau giữa các hệ thống analog và hệ thống số

- GMS (Global system for Mobile Communications) Mô tả hệ thống cellular sử dụng kỹ thuật số hoàn toàn được khai triển khắp thế giới

- Mobile Computing Mô tả các kỹ thuật xử lý di động

- Packet-Radio Communications Mô tả các dịch vụ do các trung tâm dịch vụ truyền thông quốc gia đưa ra như ARDIS (Advanced National Radio

Trang 6

Data Service) và RAM Mobile Data

- PCS (Personal Communications Services) Mô tả cách các dịch vụ GSM được khai triển ở Mỹ

Các hệ thống kỹ thuật số sử dụng một cơ chế truyền tải riêng để chuyển thông tin giữa những người dùng di động và trạm làm việc cơ sở Sau đây là hai cơ chế truyền tải chính :

- CDMA (Code Division Multiple Access) CDMA sử dụng các kỹ thuật quang phổ dải rộng, trong đó, các bit dữ liệu ở mỗi lần trao đổi được mã hóa và truyền đồng thời với các lần trao đổi khác Đoạn mã giúp cho mỗi bộ tiếp nhận truy xuất các bit có nghĩa đối với chính mình Dữ liệu đã mã hóa được truyền đi trong một tín hiệu băng tần rất rộng, mà những ai muốn nghe trộm khó có thể nghe được

Trong các hệ thống CDMA, mỗi thời bit được chia nhỏ thành m khoảng thời gian ngắn gọi là chip Lý tưởng là có 64 hay 128 chip một bit Mỗi trạm được gán một mã m- bit duy nhất gọi là dãy bit (chip sequence) Để truyền một bit 1, một trạm chuyển dãy bit của mình Muốn truyền một bit 0, nó gửi bù 1 của dãy chip Không có khuôn nào khác, vậy giả sử với m = 8, nếu trạm A được gán dãy chip 00011011, nó gửi một bit 1 bằng cách gửi tổ hợp bit 00011011 và gửi bit 0 bằng tổ hợp bit 111001100

Hình 1.5: Sơ đồ hoạt động của CDMA

Tăng lượng thông tin được gửi từ b bit/s thành mb chip/s chỉ thực hiện được nếu băng thông tăng theo hệ số m, làm CDMA thành một dạng truyền thông phổ trải rộng

CDMA đặc biệt được dùng với các hệ thống radio trải phổ Trong đa truy nhập phân chia theo mã dùng kỹ thuật nhẩy tần thì các sóng mang(tín hiệu tuần

Trang 7

hoàn) khác nhau của các trạm khác nhau trong mạng có thể được truyền dẫn theo các phương thức hành trình khác nhau, tại máy thu chỉ có phương thức hành trình trùng với hành trình của sóng mang được tạo ra bởi bộ tổng hợp tần

số mới được giải điều chế

Mọi người sử dụng trong hệ thống CDMA, sử dụng cùng tần số sóng mang(tín hiệu tuần hoàn) và có thể phát đồng thời Mỗi người sử dụng có từ mã giả ngẫu nhiên riêng mà gần như trực giao với tất cả các từ mã khác Máy thu thực hiện một thao tác tương quan theo thời gian để lựa chọn từ mã mong muốn

cụ thể Tất cả các trạm khác dường như là nhiễu do không có sự tương quan Đối với việc lựa chọn tín hiệu bản tin, máy thu cần biết từ mã được sử dụng bởi máy phát Mỗi người sử dụng hoạt động độc lập mà không cần biết tần số hoặc khe thời gian(thời gian sử dụng đường truyền được chia sẻ cho người sử dụng) của người sử dụng khác

Trong CDMA công suất của nhiễu người sử dụng tại máy thu xác định mức nhiễu đằng sau sự không tương quan Nếu công suất của mỗi người sử dụng trong một ô không được điều khiển để cho chúng xuất hiện không bằng nhau tại máy thu trạm gốc, thì xảy ra vấn đề gần- xa Vấn đề gần-xa xảy ra khi các máy phát thuê bao ở gần cung cấp quá công suất cho máy thu trạm gốc và lấy các tín hiệu thu được ra khỏi các thuê bao

TDMA (Time Division Multiple Access) - Đây là một kỹ thuật khe thời gian trong đó mỗi thiết bị trên mạng được cho một khe thời gian cụ thể để truyền trong đó Việc cấp phát thời gian đối với một thiết bị là cố định Thậm chí nếu thiết bị này không có gì để truyền thì cũng giữ khe thời gian

Các hệ thống TDMA phân chia phổ tần vô tuyến thành các khe thời gian

và trong mỗi khe chỉ có một người sử dụng được phép phát và thu Mỗi người sử dụng chiếm một khe thời gian lặp đi lặp lại nên một kênh có thể được xem như một khe thời gian riêng biệt mà sẽ xuất hiện lại trong mỗi khung, trong đó một khung bao gồm N khe thời gian

Nguyên lý hoạt động của đa truy nhập phân chia theo thời gian được trình bày trên hình 3.8 theo phương pháp này mỗi máy phát (node) có một khe thời gian nhất định, một khi khe thời gian đến, máy phát truyền với tất cả băng thông trong khoảng thời gian của khe này thông thường thời gian của mỗi khe là ngắn

và được chọn sao cho xác xuất xảy ra lỗi là thấp nhất có thể Khoảng thời gian của frame(Khung) được xác định bởi khoảng thời gian của mỗi khe và số khe hỗ trợ

Trang 8

Hình1.6 : Cấu trúc khung của TDMA

Thông thường TDMA được dùng khi có một trạm đảm nhiệm tất cả các hoạt động truyền xảy ra Mỗi đầu cuối di động, trong vùng phủ sóng của một trạm cơ bản được phân phối một khe thời gian nhất định hay thông thường hơn

là cả một khe thời gian riêng (báo hiệu) được cung cấp nhằm cho phép mỗi thiết

bị gửi yêu cầu cấp khe thời gian vào trạm cơ bản đến các thiết bị di động diễn ra theo chế độ quảng bá bằng cách dùng một khe thời gian đặc biệt với địa chỉ của đích được đặt ở ngay ở đầu của frame được truyền hoặc hoạt động truyền diễn ra trên một khe thời gian xác định được thiết lập bằng cách dùng kênh báo hiệu Chế độ hoạt động này cũng được gọi là ALOHA phân khe và theo yêu cầu Còn

có một chế độ hoạt động khác, trong việc sử dụng mỗi khe thời gian có thể được điều khiển bởi một khe con làm nhiệm vụ báo hiệu riêng bên trong

Như trình bày có một băng bảo đảm và một kênh tự đồng bộ tại đầu của mỗi khe thời gian Băng bảo đảm cho các khoảng thời gian trễ lan truyền khác nhau giữa các đầu cuối di động phân tán và trạm cơ bản, trong khi tuần tự đồng

bộ cho phép máy thu di động và trạm cố định bắt nhịp được với máy phát trước khi tiếp nhận nội dụng của frame

TDMA có ưu điểm là khả năng bổ xung số lượng các khe thời gian khác nhau trên một khung cho những người sử dụng khác nhau Như vây, độ rộng băng tần có thể được cung cấp theo nhu cầu cho những người sử dụng khác nhau bằng cách móc nối hoặc ấn định tại các khe thời gian dựa trên quyền ưu tiên Số lượng kênh mà một hệ thống TDMA có thể cung cấp là :

N = m( B – 2Bguard )/Bc

Trong đó : m là số người sử dụng TDMA tối đa trên mỗi kênh

B là tổng số phân bổ tần số

Bguard là số bảo vệ băng tần được phân bổ

Bc là băng thông của kênh

Thời gian của một frame

Thời gian của một frame

Khe thời gian

Các bit đuôi Các bit đồng

bộ

Dữ liệu Các bit bảo

vệ

Trang 9

4 TRUYỀN THÔNG LAN VÔ TUYẾN

Như đã được đề cập, các LAN vô tuyến - Wireless Lan Communications - được đặt tiêu biểu trong một môi trường văn phòng Ví dụ như các sản phẩm từ Radio LAN có thể truyền tới 120 feet trong các văn phòng nhỏ và trên 800 feet trong các văn phòng bên ngoài Hầu hết các thiết kế LAN vô tuyến khai thác một máy thu phát vô tuyến cố định (Phát/ Thu) chiếm một vị trí trung tâm trong một văn phòng những người sử dụng các máy tính di động được cho phép di động trong một phạm vi nhất định nào đó, điển hình là trong khu vực máy thu phát tức thời Các mạng LAN vô tuyến có thể hạn chế nhu cầu chạy cáp, đặc biệt nếu LAN được cài đặt tạm thời hay phục vụ như một nhóm làm việc có thể giải tán trong tương lai gần

Việc cấu hình một mạng LAN vô tuyến bao gồm một bộ phận thu phát được kết nối với các máy chủ và thiết bị khác sử dụng cáp Ethernet Bộ phận thu phát này

sẽ phát và nhận các tín hiệu từ các trạm làm việc ở quanh nó

Dưới đây là một vài kỹ thuật truyền dữ liệu vô tuyến:

- Tia hồng ngoại (Infrared light) Phương pháp này đưa ra một băng tần (bandwidth) rộng, truyền các tín hiệu với tốc độ vô cùng cao Việc truyền bằng tia hồng ngoại hoạt động bằng đường nhìn, vì thế bộ nguồn và bộ nhận phải nhắm tới hay tập trung vào lẫn nhau, tương tự như bộ điều khiển truyền hình từ

xa Những vật cản trong môi trường văn phòng phải được quan tâm, nhưng các gương (mirror) có thể được dùng để rẽ hướng các tia đồng ngoại nếu cần Bởi

vì việc truyền bằng tia hồng ngoại nhạy cảm với ánh xạ mạnh từ cửa sổ hay các nguồn khác, cho nên các hệ thống tạo ra các tia sáng mạnh hơn có lẽ rất cần thiết Chú ý rằng ánh sáng hồng ngoại không bị chính phủ nghiêm cấm và lại không bị hạn chế về tốc độ truyền Tốc độ truyền điển hình lên tới 10 Mbit/giây

- Sóng vô tuyến phổ dải rộng (Spread spectrum radio) Kỹ thuật này phát các tín hiệu thành hai tần số: 900 MHz và 2.4 GHz Cả hai băng tần đều không đòi hỏi giấy phép FCC Sóng vô tuyến phổ rộng không có ảnh hưởng tới

- Sóng vô tuyến băng tần hẹp (hay tần số đơn) (Narrowband (or single- frequency) radio) là một kỹ thuật tương tự như một phát tin từ một trạm phát sóng vô tuyến Bạn dò tới một băng tần “chật” trên cả bộ thu và phát Tín hiệu này có thể xuyên qua các bức tường và truyền qua các khu vực rộng, vì thế không cần tập trung vào một điểm Tuy nhiên, việc truyền sóng vô tuyến băng tần hẹp gặp phải vấn đề về sự dội lại sóng vô tuyến và một vài tần số được quy định bởi FCC

Một mạng LAN vô tuyến có một số lợi điểm Mạng này không cần có cáp

và thường bảo trì rẻ hơn Tuy nhiên, thị trường LAN vô tuyến rất yếu bởi vì tốc

độ dữ liệu dưới 2 Mbit/giây đối với hầu hết các sản phẩm Nhưng đầu năm

1997, FCC đã mở rộng phổ tới 300 MHz đối với mạng cục bộ vô tuyến không đăng ký Phổ từ 5.15 đến 5.35 GHz và 5.725 đến 5.825 GHz, là một tần

số đủ cao để tốc độ truyền có thể đạt lên đến 20 Mbit/giây Có thể sử dụng

Trang 10

phổ miễn phí, như các phổ điện thoại không dây Nhiều sản phẩm LAN vô tuyến tốc độ cao nổi bật đã sử dụng tần số mới này Apple Computer chủ yếu đảm nhận việc thuyết phục FCC (Federal Communications Commission) không cấp phép cho phổ này Vì hãng này dự định phát triển các sản phẩm để sử dụng trong trường học, nơi mà việc mắc lại dây điện thường không điều chỉnh chi phí

Radio LAN giới thệu mạng LAN vô tuyến đầu tiên để hoạt động trong băng tần sóng vô tuyến 5.8 GHz không đăng ký Hệ thống này kết hợp băng hẹp, việc truyền tần số đơn với năng lượng thấp và đạt tốc độ 10 Mbit/giây Băng tần này không bị cản trở bởi các thiết bị cạnh tranh (các đường điện thoại không dây, các cột vi ba, v.v.) Các sản phẩm này hoạt động ở năng lượng thấp, nên ít bị bức xạ điện từ hơn các kỹ thuật vô tuyến khác

Vào tháng 6/1997, IEEE (Institute of Electrical and Electronic Engineers) đồng ý đặc tả kỹ thuật LAN vô tuyến 802.11, giải thích các chuẩn hoạt động với nhau cho các thiết bị LAN vô tuyến 1 Mbit/giây tới 2 Mbit/giây Các chuẩn này cũng đẩy mạnh việc bắc cầu vô tuyến giữa các mạng

5 WIRELESS BRIDGING AND INTERNETWORKING

Kết nối hai mạng riêng lẻ với nhau là một công việc thường xuyên dễ dàng Bạn có thể cài đặt một cặp các cầu nối hay router và kết nối dây cáp giữa hai thiết bị, hay sử dụng một đường điện thoại quay số hay thuê bao Nhưng những kết nối này không phải lúc nào cũng thiết thực hay hiệu quả về mặt chi phí Trong các môi trường thuộc khuôn viên trường sở hay các khu vực trung tâm, sẽ thiết thực hơn nếu sử dụng các hệ thống vô tuyến để kết nối các mạng Một lần nữa, tốc độ truyền dữ liệu là mối quan tâm đáng kể, nhưng chi phí về thiết bị và việc tiết kiệm cuối cùng các đường dây quay số hay các dây cáp riêng cũng là một mối quan tâm không nhỏ khác

Vấn đề bắt cầu nối vô tuyến ít phức tạp hơn việc truyền thông LAN vô tuyến bởi vì các kết nối thường là điểm-tới-điểm và không cần phải quan tâm đến các vấn đề như các bức tường và các bức xạ Cầu nối phải thực hiện việc lọc để giữ lưu lượng không cần thiết từ việc vượt qua một liên kết, hay một router có thể được sử dụng để điều khiển lưu lượng giữa các mạng Việc bắc cầu nối vô tuyến cũng có thể được dùng để sao lưu (back up) các loại kết nối

dữ liệu khác

Hầu hết các cầu nối vô tuyến sử dụng các kỹ thuật sóng vô tuyến phổ dải rộng tần số nhảy, sẽ không dễ bị nhiễu và có một mức độ bảo mật cao Hầu hết các sản phẩm đều có khoảng cách 25 mile Tốc độ truyền điển hình trong khoảng cách 2 Mbit/giây, như các sản phẩm mới hơn hoạt động trong khoảng cách 10 Mbit/giây

Ratheon Wireless Solutions là một công ty bán các cầu nối vô tuyến Sản phẩm Raylink Access Point của công ty này là một cầu nối vô tuyến LAN-to-Ethernet tuân theo chuẩn mạng LAN vô tuyến IEEE-802.11 Các công ty bán hàng khác như Digital Ocean, OTC Telecom, Aironet Wireless Communication,

Trang 11

Breeze Wireless Communications, C-SPEC, Proxim, và Windata

Các giải pháp vô tuyến khác bao gồm các hệ thống microwave trên mặt trái đất và các hệ thống truyền thông vệ tinh

6 TIÊU CHUẨN MẠNG KHÔNG DÂY HIỆN NAY

Vì mạng không dây sử dụng tần số sóng vô tuyến để truyền tín hiệu, nên mạng không dây chịu sự ảnh hưởng của các sóng từ khác, như là sóng AM/FM Tổ chức chuyển giao thông tin (FCC) đã nghiên cứu và tìm cách khắc phục lỗi này Trong thị trường mạng không dây hiện nay có một số chuẩn riêng được sàng lọc và được xác nhận bởi Viện các kỹ sư điện và điện tử (IEEE) của Hoa Kỳ

Những chuẩn này được tạo bởi một nhóm người đại diện cho nhiều công

ty khác nhau, bao gồm những viện sĩ, thương gia, sĩ quan,và chính phủ Vì những chuẩn này thiết lập về phía IEEE có thể sẽ chạm phải sự phát triển của công nghệ, những chuẩn này có thể mất vài năm để tạo ra và được chấp nhận Nhà sản xuất khuyến khích chúng ta phê bình hoặc đánh giá các chuẩn này trong thời gian nó đang được triển khai để cho ra một sản phẩm hoàn hảo

Trên thực tế, chuẩn không dây được sử dụng rộng rãi đầu tiên, 802.11b,

đã được IEEE phê chuẩn chỉ 16 năm trước đây (năm 1999) Vào thời điểm đó, phần cứng nối mạng không dây còn rất đắt và chỉ những công ty giàu có và có nhu cầu bức thiết mới có đủ khả năng để nối mạng không dây Một điểm truy nhập (hay trạm cơ sở), hoạt động như một cầu nối giữa mạng hữu tuyến và mạng không dây, có giá khoảng 1000 đô la Mỹ vào thời điểm năm 1999, trong khi các card không dây máy khách giành cho các máy tính sách tay có giá khoảng 300 đô la Vậy mà bây giờ bạn chỉ phải trả 55 đô la cho một điểm truy nhập cơ sở và 30 đô la cho một card máy khách 802.11b và đó là lý do tại sao

mà việc nối mạng không dây lại đang được mọi người ưa chuộng đến vậy Rất nhiều máy tính sách tay-thậm chí cả những máy thuộc loại cấu hình thấp-bây giờ cũng có sẵn card mạng không dây được tích hợp, vì vậy bạn không cần phải mua một card máy khách nữa

6.1 Các chuẩn của mạng không dây

Các chuẩn của mạng không dây được tạo và cấp bởi IEEE

- 802.11 : Đây là chuẩn đầu tiên của hệ thống mạng không dây Chuẩn này chứa tất cả công nghệ truyền hiện hành bao gồm Direct Sequence Spectrum (DSSS), Frequence Hopping Spread Spectrum (FHSS) và tia hồng ngoại

- 802.11b : Hiện là lựa chọn phổ biến nhất cho việc nối mạng không dây; các sản phẩm bắt đầu được xuất xưởng vào cuối năm 1999 và khoảng 40 triệu thiết bị 802.11b đang được sử dụng trên toàn cầu tính tại thời điểm nẳm 2003 Các chuẩn 802.11b hoạt động ở phổ vô tuyến 2,4GHz Phổ này bị chia sẻ bởi các thiết bị không được cấp phép, chẳng hạn như các điện thoại không dây và các lò vi sóng- là những nguồn gây nhiễu đến mạng không dây dùng chuẩn

Trang 12

802.11b Các thiết bị 802.11b có một phạm vi hoạt động từ 100 đến 150 feet (1 feet = 0,3048m) và hoạt động ở tốc độ dữ liệu lý thuyết tối đa là 11 Mbit/s Nhưng trên thực tế, chúng chỉ đạt một thông lượng tối đa từ 4 đến 6 Mbit/s (Thông lượng còn lại thường bị chiếm bởi quá trình xử lý thông tin giao thức mạng và kiểm soát tín hiệu vô tuyến) Trong khi tốc độ này vẫn nhanh hơn một kết nối băng rộng DSL hoặc cáp và đủ cho âm thanh liên tục (streaming audio), 802.11b lại không đủ nhanh để truyền những hình ảnh có độ nét cao Lợi thế chính của 802.11b là chí phí phần cứng thấp

IEEE thông qua chuẩn 802.11b, định nghĩa một công nghệ điều biến mới cho phép thêm vào tốc độ 5.5Mbps và 11 Mbps so với tốc độ 1 và 2 Mbps được

hỗ trợ từ năm 1997 Chuẩn b được sử dụng DSSS do đố các card DSSS 802.11

1 và 2 Mbps tương thích với hệ thống 802.11b mới Các card FHSS 802.1 1 và 2 Mbps không tương thích

Các đặc trưng hoạt động cơ bản của IEEE 802.11 b :

IEEE 802.11b hoạt động trong miền tần số 2.4 – 2.4835 Dải tần này thường được xem như là băng tần phân mảnh bởi quá nhiều thiết bị khác cùng chia sẻ.2,4 Ghz là một băng tần công nghiệp , khoa học và y tế

Một trong những nhược điểm của IEEE 802.11b là băng tần dễ bị nghẽn

và hệ thống dễ bị nhiễu bởi các hệ thống khác, lò vi ba, các điện thoại hoạt động

ở dải tần số 2,4 Ghz và các mạng Bluetooth Đồng thời IEEE 802.11b cũng có những hạn chế như : thiếu khả năng kết nối các thiết bị truyền giọng nói , không cung cấp dịch vụ QoS (quality of service) cho các phương tiện truyền thông

Hình 1.7 : Các lựa chọn chuẩn 802.11b

- 802.11a : Vào cuối năm 2001, các sản phẩm dựa trên một chuẩn thứ hai, 802.11a, bắt đầu được xuất xưởng Không giống như 802.11b, 802.11a hoạt

Trang 13

động ở phổ vô tuyến 5 GHz (trái với phổ 2,4GHz) Thông lượng lý thuyết tối

đa của nó là 54 Mbit/s, với tốc độ tối đa thực tế từ 21 đến 22 Mbit/s Mặc dù tốc độ tối đa này vẫn cao hơn đáng kể so với thông lượng của chuẩn 802.11b, phạm vi phát huy hiệu lực trong nhà từ 25 đến 75 feet của nó lại ngắn hơn phạm vi của các sản phẩm theo chuẩn 802.11b Nhưng chuẩn 802.11a hoạt động tốt trong những khu vực đông đúc: Với một số lượng các kênh không gối lên nhau tăng lên trong dải 5 GHz, bạn có thể triển khai nhiều điểm truy nhập hơn

để cung cấp thêm năng lực tổng cộng trong cùng diện bao phủ Một lợi ích khác mà chuẩn 802.11a mang lại là băng thông cao hơn của nó giúp cho việc truyền nhiều luồng hình ảnh và truyền những tập tin lớn trở nên lý tưởng

Cùng thời điểm khi 802.11b được phê chuẩn , một lựa chọn tốc độ cao khác 802.11a cũng được quyết định 802.11a hoạt động ở tần số 5GHz Nó không tương thích với 802.11b nhưng không gây xung đột với 802.11b (mạng a

và b có thể cùng tồn tại trong cùng không gian vật lý) IEEE 802.11a có 12 kênh không chồng lấn và hoạt động ở tốc độ 54Mbps, nhưng vùng phủ sóng thấp hơn 802.11b

Các đặc trưng hoạt động cơ bản của 802.11b:

Tầm phủ sóng ~60 feet

Kỹ thuật điều biến BPSK (6&9 Mbps)

QBSK (12&18 Mbps) 16-QAM (24&36 Mbps) 64QAM ( 48&54 Mbps)

Mỗi kênh của trong 802.11a rộng 20MHz Có sẵn 12 kênh , tuy nhiên 4 kênh chỉ sử dụng cho kênh outdoor và 8 kênh indoor Trong 802.11a phổ được phân đoạn thực sự trên công suất ra Do đó , băng tần thấp hơn 515-525 hỗ trợ 4 kênh công suất phát cực đại 40mW.Băng tần trung 525-535 hỗ trợ 4 kênh công suất phát cực đại là 200mW Băng tần cao 5725-5825 hộ trợ 4 kênh outdoor công suất phát cực đại 800mW Chú ý rằng, giao thức 802.11a có công suất phát mỗi băng hạn chế khoảng 80% công suất quy định của FCC Nói cách khác , FCC cho phép công suất phát là 50mW, 250mW và 1000mW tại mỗi băng thông Nhưng IEEE chỉ đạo hạn chế tương ứng là 40,200,800mW

Trang 14

Hình 1.8: Các kênh trong dải tầng 5Ghz

Ưu thế cơ bản của 802.11a so với 802.11b là tốc độ 54Mbps so với 11Mbps Dải phổ có sẵn rộng hơn 300MHz so với 83,5 MHz và nhiều kênh không chồng lấn hơn Đồng thời, chúng ta ít gặp vấn đề hạ tầng tại tần số 5GHz hơn do đó có ít thiết bị chia sẻ ở dải tần này hơn

Vấn đề với 802.11a là nó không tương thích ngược với 802.11b Một thiết

bị 802.11a không thể kết nối được với một thiết bị 802.11b.Sự thiếu hụt các tiêu chuẩn phổ quốc tế thành vấn đề trong một số triển khai và giảm phạm vi phát triển 802.11a đồng thời với việc tăng chi phí triển khai Khi 802.11a có vùng triển khai nhỏ hơn , nó đòi hỏi nhiều Access Point hơn để bảo phủ cùng một không gian

Hình 1.9: Ghép kênh phân chia tầng số trực giao

- 802.11g : 802.11g là chuẩn nối mạng không dây được IEEE phê duyệt gần đây nhất (tháng 6 năm 2003) Các sản phẩm gắn liền với chuẩn này hoạt động trong cùng phổ 2,4GHz như những sản phẩm theo chuẩn 802.11b nhưng với tốc độ dữ liệu cao hơn nhiều - lên tới cùng tốc độ tối đa lý thuyết của các sản phẩm theo chuẩn 802.11a, 54 Mbit/s, với một thông lượng thực tế từ

15 đến 20 Mbit/s

Năm 2003 , IEEE phê chuẩn đặc tả 802.11g hướng tới giải quyết những vấn đề đối với 802.11b Về cơ bản 802.11g là 802.11b hoạt động ở tốc độ 54Mbps.Nói cách khác IEEE sử dụng kỹ thuật điều biến của 802.11a, OFDM và

áp dụng nó cho dải tần 2.4 GHz Một điểm lợi của 802.11g hoàn toàn tương

Trang 15

thích ngược và không xung đột với 802.11b, ngoại trừ nó không hoạt động ở tốc

độ 54Mbps Điểm hạn chế ở đây là chúng ta vẫn gặp tất cả các vấn đề đối với 802.11b Vẫn chỉ có 3 kênh không chồng lấn và vấn đề nhiễm từ các thiết bị khác hoạt động chen chúc trong dải tần 2,4GHz

Do 802.11g vẫn làm việc với các thiết bị 802.11b hiện có , dẫn tới nó có khả năng mở rộng hệ thống.Tuy nhiên, chúng ta phải sử dụng thiết bị 802.11g ở

Kỹ thuật điều biến DBPSK (1 Mbps)

DQBSK (2 Mbps) CCK (5.5 và 11 Mbps) OFDM(6,12,18,36,48 & 54Mbps )

- 802.11g+ : Được cải tiến từ chuẩn 802.11g, hoàn toàn tương thích với 802.11g và 802.11b, được phát triển bởi TI(Texas Instruments).Khi các thiết bị 802.11g + hoạt động với nhau thì thông lượng đạt được có thể lên đến 100Mbps

Hình 1.10: Các chuẩn mạng không dây

6.2 Thị trường mạng không dây

Vài năm trước ,mạng không dây là một thứ “xa xỉ ”, bởi thiết bị dành cho nó khá đắt Nhưng vài năm qua , giá thành của các thiết bị mạng không dây đã giảm đáng kể và đặc biệt là smartphone ngày càng phát triển mạng không dây là không thể thiếu mọi nơi Ở thời điểm này, Wi-Fi là công nghệ mạng thống lĩnh trong các gia đình ở những nước phát triển TV, đầu đĩa, đầu ghi và nhiều thiết

Trang 16

bị điện tử gia dụng có khả năng dùng Wi-Fi đang xuất hiện ngày một nhiều Điều đó cho phép người sử dụng truyền nội dung khắp các thiết bị trong nhà mà không cần dây dẫn Điện thoại không dây sử dụng mạng Wi-Fi cũng đã có mặt ở các văn phòng nhưng về lâu dài, công nghệ truy cập không dây này có vẻ khó là

kẻ chiến thắng trong cuộc đua đường dài trên các thiết bị này Hiện nay, Wi-Fi tiêu tốn khá nhiều năng lượng của các thiết bị cầm tay và thậm chí ,chuẩn 802.11g không thể hỗ trợ ổn định cho hơn một đường phát video Và thế là một chuẩn mới, có tên 802.15.3 hay còn gọi là WiMedia, đã được xúc tiến để trở thành chuẩn tầm ngắn cho mạng gia đình tốc độ cao, chủ yếu phục vụ thiết bị giải trí

Theo công ty nghiên cứu In-Stat/MDR (Mỹ), thị trường thiết bị mạng cục

bộ không dây (WLAN) toàn cầu đạt 2,2 tỷ USD trong năm 2002, so với mức 1,8

tỷ năm 2001, nhờ sự phổ biến của công nghệ Wi-Fi Năm qua, doanh nghiệp mua 11,6 triệu thiết bị WLAN (tăng 65%), trong khi các gia đình mua 6,8 triệu sản phẩm (tăng 160%) Thiết bị cao cấp dùng chuẩn 802.11b được các công ty đặc biệt ưa chuộng Theo Gemma Paulo, phân tích gia của In-Stat/MDR, doanh

số thiết bị WLAN bình dân như cầu dẫn, card giao diện mạng tăng cao là do doanh nghiệp nhỏ và cá nhân ấn tượng trước các chương trình giảm giá của nhiều nhà bán lẻ

Quá trình phát triển của công nghệ Wi-Fi cũng đã cho thấy việc thống nhất cho ra một chuẩn chung có thể tạo nên một thị trường mới Điều này càng được khẳng định thông qua quyết tâm của các công ty đang xúc tiến chuẩn WiMax Trước đây các công nghệ mạng không dây tầm xa đều do các công ty lớn thao túng với những chuẩn bản quyền riêng và không cái nào được chấp nhận rộng rãi Chính nhờ sự thành công của Wi-Fi mà những “người khổng lồ” giờ đây đã hợp lực với nhau để phát triển WiMax, một chuẩn phổ thông dễ tiếp cận đối với người tiêu dùng mà các hãng phát triển hy vọng sẽ giúp mở rộng thị trường và tăng doanh thu Tương lai của Wi-Fi chắc chắn sẽ tạo nên một hướng

đi cho nhiều công nghệ khác

7 VAI TRÒ TRUY CẬP

Mạng không dây là triển khai tốt nhất trong một vai trò truy cập lớp, nghĩa là chúng sử dụng như là một điểm đi vào mạng hữu tuyến Trong quá khứ, việc truy cập thường là bằng quay số, ADSL, cáp, ethernet, mạng hình sao,

bộ tiếp sóng khung (frame relay), ATM, v.v Mạng không dây là một phương pháp đơn giản khác để truy cập internet Mạng không dây là dữ liệu trong tầng NetWork giống như tất cả các phương pháp trong danh sách Tất cả những điều đó dẫn tới sự thiếu hụt tốc độ và sự phục hồi, mạng không dây không điều chỉnh những phương tiện trong sự phân bổ hoặc vai trò của trong mạng Tất nhiên, trong những mạng nhỏ, sẽ không có sự khác biệt giữa lõi, phân phối hoặc lớp truy xuất của mạng Lớp lõi của mạng phải rất nhanh và vững chắc, có thể giữ một lượng lớn lưu lượng với một chút khó khăn và kinh nghiệm thời gian không giảm Sự phân phối của lớp trong mạng nên nhanh, mềm dẻo và đáng tin cậy

Trang 17

Hình 1.11: Vai trò truy cập mạng không dây

Mạng không dây phải trả cho một giải pháp đặc biệt là vấn đề di động Mạng không dây giải quyết vấn đề máy chủ để khi ở nhà cũng giống như khi đang ở công ty, và đó là vấn đề của tốc độ truyền và thông lượng truyền được Giải pháp các mô hình mạng đã được ứng dụng trong một khoảng thời gian, người dùng phải trả cho sự lãng phí này trong khi kết nối vì tốc độ chậm

và giá thì rất cao Trong khi mạng không dây trả cho một giải pháp tương tự nhưng mềm hơn không bất lợi Mạng không dây nhanh, không đắt, và nó có thể

có mặt ở mọi nơi

Khi người dùng tính đến sẽ sử dụng mạng không dây, hãy cứ nghĩ rằng sử dụng chúng cho những ý định được mong đợi sẽ cho kết quả tốt nhất Những người quản trị thực thi mạng không dây trong một lõi hoặc sự phân bổ vai trò nên hiểu chính xác rằng những gì thực hiện để mong đợi trước khi thực thi chúng trong kiểu cách để ngăn không xóa chúng sau này Chỉ có sự phân bổ vai trò trong một mạng công ty là phải rõ ràng thích hợp cho mạng không dây như là triển khai theo kiểu cầu nối Trong viễn cảnh này, mạng không dây có thể tính đến khi vai trò được phân bổ Tuy nhiên, nó sẽ luôn luôn được quyết định trên các mảng cầu của mạng không dây khi sử dụng trong mạng

Có nhiều dịch vụ cung cấp mạng không dây – Wireless Initernet Providers (WISPs) sử dụng mạng truyền bằng sóng từ trong vai trò phân bổ

Trang 18

Một tập hợp các thiết bị chuyển mạch (Switch) và định tuyến (Router) được kết nối với nhau để tạo thành một mạng diện rộng WAN Các thiết bị chuyển mạch có thể được kết nối trong cấu trúc liên kết khác nhau, ví du như mô hình mạng liên kết lưới (full mesh) hoặc liên kết một phần (partly mesh) Một mạng diện rộng có thể thiết lập riêng bởi Công ty, tổ chức tư nhân hoặc thuê từ nhà cung cấp dịch vụ

Cả hai công nghệ chuyển mạch gói và chuyển mạch mạch đều có thể được sử dụng trong mạng WAN:

- Chuyển mạch gói cho phép người dùng chia sẻ tài nguyên chung của nhà cung cấp dịch vụ để làm cho việc truyền tải dữ liệu hiệu quả hơn cơ sở hạ tầng của nó Trong thiết lập một chuyển mạch gói, các mạng có kết nối vào hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ, và nhiều khách hàng chia sẻ tài nguyên hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ Nhà cung cấp có thể tạo ra các mạch ảo giữa các mạng riêng của khách hàng, bởi các gói dữ liệu được cung cấp đến từ các mạng riêng khác nhau thông qua mạng của nhà cung cấp

- Chuyển mạch mạch cho phép kết nối dữ liệu được thiết lập khi cần thiết

và sau đó chấm dứt khi việc truyền tải hoàn tất Điều này làm việc giống như một đường dây điện thoại bình thường làm việc cho truyền thông thoại Integrated Services Digital Network (ISDN) là một ví dụ điển hình của chuyển mạch mạch Khi một bộ định tuyến nhận được dữ liệu cần chuyển đến cho một máy trạm từ xa, chuyển mạch mạch được thiết lập với địa chỉ mạch đã được xác định trước của các mạng từ xa

Hình 1.12 : Mô hình tổng quát cấu trúc mạng mở rộng (WAN)

Các yêu cầu chính được cần được xem xét khi thiết kế mạng diện rộng:

Trang 19

Phân tích các yêu cầu mạng:

- Loại các ứng dụng, lưu lượng truyền tải, và mô hình truyền tải

- Dự phòng và sao lưu cần thiết

Đặc điểm của mạng lưới và các ứng dụng hiện có:

- Công nghệ được sử dụng

- Địa chỉ của máy chủ, máy chủ, thiết bị đầu cuối, và các node mạng đầu cuối khác

Xây dựng mạng WAN và thiết kế mạng lưới chi nhánh:

- Chọn công nghệ WAN sử dụng để đáp ứng được các yêu cầu đặt ra

- Chọn các thành phần phần cứng và phần mềm để hỗ trợ các yêu cầu đặt

ra

- Mạng ứng dụng và các yêu cầu kết nối có ảnh hưởng đến thiết kế WAN

Thiết kế mạng WAN theo kiến trúc truyền thống

Mỗi thiết kế WAN dựa trên yêu cầu ứng dụng, địa lý, và các dịch vụ nhà cung cấp dịch vụ có sẵn

Ba phương pháp tiếp cận thiết kế cơ bản cho mạng chuyển mạch gói bao gồm:

- Cấu trúc hình sao

- Cấu trúc hình lưới

- Cấu trúc hình lưới bán phần

Thiết kế mạng WAN theo kiến trúc dự phòng

Liên kết mạng WAN tương đối kém độ tin cậy hơn so với các liên kết mạng LAN, và tốc độ thường là thấp hơn so với tốc độ mạng LAN Do đặc điểm kết hợp của độ tin cậy kém, tốc độ chậm, và tầm quan trọng lại cao làm cho các liên kết WAN trở nên cực kỳ quan trọng trong yêu cầu thiết kế dự phòng

Mỗi giải pháp thiết kế mạng WAN cho doanh nghiệp yêu cầu một kiến trúc dự phòng để cung cấp tính sẵn sàng cao cho hệ thống, nhằm đảm bảo thời gian gián đoạn là tổi thiểu khi mất kết nối của liên kết chính Kết nối dự phòng

có thể được thiết lập bằng cách sử dụng các mô hình kết nối quay số hoặc thuê kênh riêng

Các mô hình thiết kế dự phòng như sau:

- Sử dụng mô hình quay số dịch vụ như ISDN

- Liên kết dự phòng thường trực WAN: Việc triển khai thêm một liên kết WAN dự phòng giữa các văn phòng từ xa với các văn phòng trung tâm (CO) làm giảm thiểu thời gian lỗi mạng

- Liên kết VPN: Sử dụng IPsec VPN làm kết kết dự phòng cho mạng WAN, khi có lỗi xảy ra trên liên kết WAN chính, dữ liệu có thể được điều

Trang 20

hướng để kết nối đến trụ sở chính thông mạng mạng Internet bằng công nghệ VPN

Thiết kế VPN

VPN được định nghĩa là kết nối được triển khai trên một cơ sở hạ tầng được chia

sẻ với các chính sách tương tự, bao gồm cả bảo mật và hiệu suất, như là một mạng riêng Cơ sở hạ tầng được sử dụng có thể là Internet, cơ sở hạ tầng IP, hoặc bất kỳ cơ sở hạ tầng WAN, chẳng hạn như một mạng Frame Relay hoặc ATM

Ba loại của VPN được phân biệt theo các ứng dụng như sau:

- Remote VPN: Cung cấp truy cập vào một mạng nội bộ công ty thông qua một cơ sở hạ tầng được chia sẻ với các chính sách giống như một mạng riêng Kết nối truy cập từ xa thông qua ISDN, DSL, không dây, hoặc các công nghệ cáp

- Intranet VPN: Liên kết văn phòng từ xa qua dịch vụ VPN nội bộ Các dịch vụ mạng VPN nội bộ thường được dựa trên các liên kết chuyên biệt mở rộng truy cập từ xa qua VPN để kết nối giữa các phòng ban, chi nhánh của công

ty qua mạng Internet hoặc qua các đường trục IP của nhà cung cấp dịch vụ

- Extranet VPN: một Doanh nghiệp sử dụng mạng Internet hoặc dịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ mạng để kết nối với các đối tác kinh doanh của mình Các chính sách an ninh trở nên rất quan trọng với mô hình này và cần được cam kết bởi nhà cung cấp dịch vụ Extranet VPN

9 XÂY DỰNG KẾT NỐI

Trong điều kiện trường sở hoặc các tòa nhà, người sử dụng sẽ truy cập trong những tòa nhà khác nhau, ở bất cứ nơi đâu trong trường sở chỉ thông qua một trạm cơ sở Trong quá khứ, kiểu kết nối này cũng đã được hoàn thành bằng cách chạy dây cáp dưới lòng đất từ tòa nhà này tới tòa nhà khác hoặc thuê một đường thuê bao khá đắt từ công ty cung cấp

Sử dụng công nghệ không dây, sự trang bị bằng việc cài đặt dễ dàng và nhanh chóng cho phép hai hoặc nhiều tòa nhà trở thành một phần của một mạng giống nhau không cần tốn chi phí thuê đường thuê bao hoặc đào đường giữa các tòa nhà Với một anten không dây thích hợp, bất cứ tòa nhà cũng có thể liên kết với nhau trên cùng một mạng Tất nhiên cũng có những giới hạn trong việc sử dụng công nghệ không dây, như là bất cứ giải pháp kết nối dữ liệu nào, nhưng tính mềm dẻo, tốc độ và độ an toàn của nó là tuyệt đối cần thiết cho người quản trị mạng

Có hai kiểu kết nối khác nhau giữa hai tòa nhà Kiểu đầu tiên được gọi

là điểm tới điểm (point-to-point – PTP), và kiểu thứ hai được gọi là điểm tới nhiều điểm (Point-to-Mutilpoint – PTMP)

PTP liên kết các kết nối không dây chỉ giữa hai tòa nhà, như là hình dưới đây :

Trang 21

Hình 1.13: PTP liên kết các kết nối không dây chỉ giữa hai tòa nhà

PTMP liên kết các kết nối giữa ba hoặc nhiều tòa nhà, điển hình như là liên kết của niền xe và căm xe, sẽ có một tòa nhà là tiêu điểm của mạng Tòa nhà trung tâm này có lõi mạng, kết nối internet, và một máy chủ cho thuê PTMP liên kết giữa các tòa nhà điển hình sử dụng anten phát trong máy chủ truy cập trung tâm và anten thu trên các tòa nhà khác trong mạng

Có nhiều cách thực thi hai kiểu kết nối cơ bản này, khi bạn sẽ không lưỡng lự cho công việc quản trị mạng hoặc tư vấn viên Tuy nhiên, không có

gì để thay đổi sự thi hành, tất cả chúng đều ở trong hai loại sau :

Hình 1.14: Liên kết giữa các tòa nhà sử dụng anten phát

Tính đến trường hợp cả cáp và trạm thông tin của công ty đều chạm đến

sự mở rộng khác nhau của nhiều đoạn mạng tính đến kết nối băng thông rộng tới nhiều hộ gia đình hoặc các công ty kinh doanh Nếu bạn sống ở nông thôn,

có thể bạn sẽ không truy cập tới băng thông rộng được ( dùng modem hoặc DSL) và chắc chắn sẽ không nhanh Phải có nhiều chi phí hiệu quả cho WISPs

để tính đến khả năng truy cập mạng không dây từ xa bởi vì WISPs không chạm trán với những mức chi phí giống như thế khi sử dụng cáp hoặc trạm thông tin của công ty và sử dụng mạng không dây là sự trang bị cần thiết

WISPs có một thách thức độc nhất đối với họ Chỉ khi những nhà cung cấp xDSL gặp vấn đề đi xa hơn 18.000 feet (5,7km) từ văn phòng chính

và nhà cung cấp cáp đưa ra loại cáp chia sẽ phương tiện tới người dùng WISPs gặp vấn đế với các nóc nhà, những cái cây, núi, sét, những cái tháp và nhiều sự cản trở tới việc kết nối Tất nhiên WISPs không có bằng chứng để kết tội, nhưng

họ có khả năng tính đến việc sử dụng truy cập băng thông rộng, thêm những công nghệ được quy ước không thể vươn tới

Trang 22

Thiết lập một mạng không dây không tốn kém thời gian, công sức và phức tạp như các hệ thống mạng truyền thống khác, đôi khi không quá một giờ đồng

hồ lao động là có thể hình thành một hệ thống mạng không dây Thực tế cho thấy, đa số các sự cố, trục trặc xảy ra trong hệ thống mạng không dây là do phần mềm điều khiển thiết bị có lỗi nên cần ưu tiên sử dụng các trình điều khiển thiết

bị mới nhất do nhà sản xuất thiết bị cung cấp, cập nhật hay tải về từ internet

Khi lắp đặt thiết bị, nên bố trí các bộ tiếp sóng (AP) ở những vị trí trên cao, tránh bị che khuất bởi các vật cản càng nhiều càng tốt Các loại vật liệu xây dựng, trang trí nội thất như: giấy dán tường phủ kim loại, hệ thống dây dẫn điện chiếu sáng, cây cảnh cũng có thể làm suy giảm tín hiệu của AP Nhớ dựng các cần anten của AP thẳng góc 90o. Nếu sử dụng chuẩn không dây 802.11b và 802.11g thì cần chú ý bố trí các AP nằm xa các thiết bị phát sóng điện từ có khoảng tần số trùng với tần số của AP (2,4GHz) như cột Angten vi ba, đầu thu phát Bluetooth Khi thi công mạng nên di chuyển, bố trí AP tại nhiều vị trí lắp đặt khác nhau nhằm tìm ra vị trí lắp đặt thiết bị sẽ cho chất lượng tín hiệu tốt nhất

Khoảng cách giữa card mạng không dây với AP cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tốc độ truyền dẫn, càng xa AP thì tốc độ truyền dẫn càng giảm dần Ví dụ đối với các mạng không dây chuẩn 802.11b thì tốc độ suy giảm dần từng mức, mức sau bằng ½ so với mức trước (11Mbps xuống 5,5Mbps xuống 2Mbps )

Đa số các phần mềm tiện ích đi kèm card mạng không dây và AP có chức năng hiển thị tốc độ truyền dẫn của mạng

Nếu không gian làm việc vượt quá bán kính phủ sóng của AP hiện có thì chúng ta phải mua thêm bộ khuyếch đại (repeater) để nâng công suất phát sóng cũng như bán kính vùng phủ sóng của AP

Sau đó tiến hành thủ tục cấu hình phần mềm cho hệ thống mạng, cụ thể là:

Sử dụng địa chỉ IP tĩnh hay IP động: Nếu hệ thống mạng không dây đang xây dựng có truy cập internet thì cần liên hệ với nhà cung cấp kết nối internet (ISP) để được cung cấp địa chỉ IP và hướng dẫn cách cài đặt cho card mạng không dây

Hình 1.15: Thiết lập IP động cho Modem Wifi

Trang 23

Hình 1.16: Thiết lập IP tĩnh cho Modem Wifi

Sử dụng dịch vụ DHCP: Cũng như với mạng máy tính thông thường, nên

sử dụng dịch vụ DHCP để hệ thống tự động cung cấp địa chỉ IP cho tất cả các thiết bị mạng tham gia trong mạng Làm như vậy sẽ tiết kiệm rất nhiều công sức cho người quản trị mạng

Hình 1.17: Thiết lập DHCP cho Modem Wifi

SSID: Tương tự như khái niệm tên miền trong internet, SSID (Service Set Identifier) là chuỗi ký tự đại diện cho một hệ thống mạng không dây Tất cả các thiết bị mạng (Access Point, card mạng không dây ) của một hệ thống mạng không dây phải được khai báo chung một số SSID thì mới làm việc được với nhau Thường thì người quản trị mạng sẽ khai báo cho toàn bộ hệ thống một tên mạng, nhưng chính chuỗi SSID này là kẽ hở giúp các hacker phán đoán loại thiết bị mạng đang sử dụng trong hệ thống để tìm cách truy cập vào đó bất hợp pháp

Ngày đăng: 28/05/2016, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Truyền thông LAN vô tuyến - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.3 Truyền thông LAN vô tuyến (Trang 4)
Hình 1.4: Bắc  cầu  nối  vô  tuyến  và  liên  mạng - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.4 Bắc cầu nối vô tuyến và liên mạng (Trang 4)
Hình 1.5: Sơ đồ hoạt động của CDMA - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.5 Sơ đồ hoạt động của CDMA (Trang 6)
Hình 1.10: Các chuẩn mạng không dây - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.10 Các chuẩn mạng không dây (Trang 15)
Hình 1.11: Vai trò truy cập mạng không dây - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.11 Vai trò truy cập mạng không dây (Trang 17)
Hình 1.12 : Mô hình tổng quát cấu trúc mạng mở rộng (WAN) - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.12 Mô hình tổng quát cấu trúc mạng mở rộng (WAN) (Trang 18)
Hình 1.17: Thiết lập DHCP cho Modem Wifi - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.17 Thiết lập DHCP cho Modem Wifi (Trang 23)
Hình 1.16: Thiết lập IP tĩnh cho Modem Wifi - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.16 Thiết lập IP tĩnh cho Modem Wifi (Trang 23)
Hình 1.18: Thiết lập SSID cho Modem Wifi - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.18 Thiết lập SSID cho Modem Wifi (Trang 24)
Hình 1.19: Thiết lập Wireless Zero Configuration(WZC) - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.19 Thiết lập Wireless Zero Configuration(WZC) (Trang 25)
Hình 1.20: Địa chỉ Mac của máy tính. - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.20 Địa chỉ Mac của máy tính (Trang 26)
Hình 1.22: Mô hình mạng không dây. - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 1.22 Mô hình mạng không dây (Trang 27)
Hình 2.1: Mô hình OSI. - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 2.1 Mô hình OSI (Trang 32)
Hình 2.6: Bộ phát Modem Wifi - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 2.6 Bộ phát Modem Wifi (Trang 43)
Hình 2.7: Thiết bị Wireless NICs - Giáo trình môn công nghệ mạng không dây  phần 1
Hình 2.7 Thiết bị Wireless NICs (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w