1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình lý thuyết tiền tệ tín dụng phần 1

62 302 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 475,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, khi nền sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao, thì lượng tiền mặt ít được sử dụng mà thay vào đó là lưu thông các công cụ thanh toán của hệ thống tín dụng ngân hàng - thanh

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập Cao đẳng Nghề chuyên ngành

Kế toán, Cử nhân Kinh tế Nguyễn Sơn Ngọc Minh tiến hành biên soạn cuốn

giáo trình môn học Lý thuyết tiền tệ tín dụng

Giáo trình môn học lý thuyết tiền tệ tín dụng được biên soạn dựa trên cơ

sở Quyết định số 15/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 31 tháng 03 năm 2008 của Bộ

trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc ban hành chương trình

khung đào tạo bậc Cao đẳng Nghề Kế toán Doanh nghiệp, giáo trình Lý thuyết

tiền tệ của Học viện Tài chính ban hành năm 2008 và một số tài liệu chuyên

ngành khác có liên quan

Giáo trình gồm 05 chương:

Chương 1: Tiền tệ trong nền kinh tế thị trường

Chương 2: Tín dụng trong nền kinh tế thị trường

Chương 3: Hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ

Chương 4: Thanh toán trong nền kinh tế thị trường

Chương 5: Thanh toán và tín dụng quốc tế

Soạn giả đã cố gắng thể hiện nội dung giáo trình môn học đảm bảo tính lý

luận, tính khoa học và tính thực tiễn phù hợp với nhận thức chung của sinh viên

Cao đẳng Nghề Kế toán Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn nên việc

biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót Soạn giả rất mong nhận được ý kiến

đóng góp của độc giả để giáo trình được bổ sung hoàn thiện hơn

Xin trân thành cảm ơn !

Ngày 11 tháng 10 năm 2008

Soạn giả

Trang 2

CHƯƠNG 1

TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I- Nguồn gốc, bản chất, chức năng và vai trò của tiền tệ

1-Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của tiền tệ

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tiền tệ cũng được hình thành

và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử

Ở thời kỳ đầu, khi nền sản xuất xã hội còn thấp kém, quá trình trao đổi hàng hoá được tiến hành theo hình thức trao đổi trực tiếp mang tính ngẫu nhiên: H-H Tương ứng với hình thức trao đổi này đã xuất hiện hình thái ngẫu nhiên của giá trị

Ví dụ: 1 rìu =20 m vải

Ở đây rìu biểu thị giá trị của mình bằng vải, còn vải là vật để biểu hiện giá trị của rìu Giá trị của hàng hoá rìu được biểu hiện như là một giá trị tương đối (hình thái tương đối của giá trị), còn vải đóng vai trò vật ngang giá

Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, làm cho sản phẩm thặng dư và số lượng hàng hoá trao đổi ngày càng nhiều hơn Tương ứng với quan hệ trao đổi này là hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị:

20 m vải,

1 con ngựa kéo = 02 cái áo,

10 kg chè, 0,5 chỉ vàng,

Ở hình thái này, giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá được sử dụng làm vật ngang giá cho một hàng hoá Quan hệ này trở thành phức tạp khi một hàng hoá

có nhiều vật ngang giá gây khó khăn cho trao đổi

Về sau, cùng với sự chuyên môn hoá lao động ngày càng cao, trong xã hội diễn ra cuộc phân công lao động lần thứ hai: “Thủ công tách khỏi nghề nông”, là

Trang 3

thời kỳ đánh dấu sự phát triển cao của lực lượng sản xuất.Thực tế đó đòi hỏi trong trao đổi phải có một vật đóng vai trò vật ngang giá chung (hình thái chung của giá trị ra đời) Khi đó phương trình trao đổi được thể hiện:

Đầu thế kỷ 20, giấy bạc ngân hàng được sử dụng phổ biến thay thế cho các loại tiền đúc bằng vàng Ngày nay, với sự can thiệp của Nhà nước, các phương tiện sử dụng trong trao đổi ngày càng đa dạng, phong phú

2 Bản chất của tiền tệ

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển

Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung trong trao đổi, nó có khả năng đo lường giá trị của mọi hàng hoá khác

Cũng như hàng hoá thông thường, tiền tệ có giá trị và giá trị sử dụng Tính chất đặc biệt của thuộc tính giá trị sử dụng của tiền tệ là ở chỗ nó có tính xã hội Tiền tệ có thể thoả mãn các nhu cầu về sử dụng hàng hoá, dịch vụ của người

sở hữu nó

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại

Nền kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao, kinh tế thị trường được hình thành theo đúng nghĩa của nó, thì quá trình phi vật chất của tiền cũng đồng

Trang 4

thời diễn ra một cách tương ứng Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại thì:

Tiền tệ là bất kỳ phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho việc giao hàng, dịch vụ và chi trả công nợ - nó là một phương tiện trao đổi

- Một số tên gọi của tiền:

+ Hoá tệ: là hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá trong trao đổi

Ví dụ: ở Mêxicô đã từng coi hạt ca cao làm phương tiện trao đổi

“tiền trên cây”; ở châu Phi vỏ ốc quý được dùng làm phương tiện trao đổi

+ Tín tệ: là loại tiền được sử dụng trên cơ sở uy tín hoặc quyền lực của người phát hành

Tiền giấy được coi là tín tệ hoàn chỉnh nhất, nó xuất hiện từ thời nhà Đường thế kỷ thứ VII và thời nhà Tống (960 - 1279) Ở Việt nam, dưới triều Hồ (1400 - 1407), Hồ Quý Ly đã cho phát hành tiền giấy

+ Bút tệ: là hình thức phi vật chất cao nhất của tiền, nó tiết kiệm chi phí lưu thông nhất và được áp dụng thanh toán phổ biến trong đời sống kinh tế – xã hội

3- Chức năng của tiền tệ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện đầy đủ thông qua các chức năng của

nó Các chức năng của tiền tệ bao gồm:

3.1 Chức năng thước đo giá trị

Chức năng thước đo giá trị là chức năng cơ bản nhất của tiền tệ Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ được coi là chuẩn để đo giá trị của các hàng hoá khác

Thông qua quan hệ này, các hàng hoá biểu hiện giá trị của mình thành những lượng có cùng tên giống nhau về chất và có thể so sánh được với nhau về lượng Sở dĩ tiền và các hàng hoá thông thường thực hiện được quan hệ so sánh này, vì chúng đều là sản phẩm của lao động của con người đã vật hoá và do lao động xã hội kết tinh trong chúng Các hàng hoá được trao đổi trên thị trường

Trang 5

thông qua giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá

Thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải có các điều kiện sau:

- Tiền phải có đủ giá trị

Tất cả các hàng hoá đều có giá trị nội tại, vì vậy để đo được các lượng giá trị này tiền phải có giá trị

Ngày nay, việc biểu hiện giá trị hàng hoá thông qua việc sử dụng các phương tiện trao đổi được tồn tại trong quan niệm của mọi người, được mọi người thừa nhận, đó là cơ sở dẫn đến hiện tượng phi vật chất hoá chức năng thước đo giá trị

- Tiền phải có tiêu chuẩn giá cả

Tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia được pháp luật Nhà nước thừa nhận, nó gồm hai yếu tố: tên gọi đơn vị tiền tệ và hàm lượng vàng trong một đơn vị tiền tệ

Ví dụ: Đơn vị tiền tệ của hợp chủng quốc Hoa Kỳ có tên gọi là Dollar ký hiệu quốc tế là USD, 1USD = 0,736662 gram vàng ròng

Do thế giới hàng hoá rất đa dạng và phong phú; bởi vậy luật pháp Nhà nước cũng quy định tiền đơn vị theo bội số (tiền có mệnh giá gấp nhiều lần tiền đơn vị) và ước số (tiền có mệnh giá là phần thập phân của tiền đơn vị)

Ví dụ: 1USD = 100 cent hoặc 1 cent = 0,01 USD

Ngày nay, do xuất hiện quá trình phi vật chất hoá thước đo giá trị; nên hàm lượng vàng của tiêu chuẩn giá cả đã dần mất đi ý nghĩa thực của nó Trong thực tế, khi sử dụng tiền người ta không quan tâm đến hàm lượng vàng trong nó

là bao nhiêu mà chỉ quan tâm đến sức mua của nó cao hay thấp

Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền đã chuyển giá trị hàng hoá thành tên gọi mới, đó là giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Thực chất của giá cả hàng hoá được xác lập trên quan hệ so sánh giữa giá trị của nó với giá trị của tiền tệ: “Giá cả hàng hoá tỷ lệ thuận với giá trị hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền tệ”

Trang 6

3.2 Chức năng phương tiện lưu thông

Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ là môi giới trung gian trong trao đổi hàng hoá dịch vụ Nó được thể hiện qua công thức sau: H- T- H Quá trình này gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn H-T là giai đoạn bán hàng, giai đoạn chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá thành tiền tệ Đây là giai đoạn khó khăn nhất của các nhà sản xuất kinh doanh

- Giai đoạn T-H là giai đoạn mua hàng, giai đoạn này được thực hiện một cách dễ dàng Người có tiền chỉ cần bỏ ra một lượng tiền nhất định là có thể mua được một lượng hàng hoá nhất định

Hai giai đoạn này được tiến hành độc lập tương đối với nhau Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tiền phải thoả mãn các điều kiện sau:

+ Sử dụng tiền mặt: Tiền mặt là tiền đang lưu thông nó có tên gọi và tiêu chuẩn giá cả được luật pháp Nhà nước quy định

+ Có thể sử dụng dấu hiệu giá trị: Vì mục đích của bán hàng không phải là

để có tiền rồi sở hữu tiền vĩnh viễn, mà là để thực hiện việc mua hàng hoá nhằm đạt đến một giá trị sử dụng mới Tiền tệ chỉ là trung gian trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ

+ Lưu thông chỉ chấp nhận một lượng tiền nhất định: Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông do tổng nhu cầu giao dịch của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ quyết định Có nghĩa là lượng tiền đưa vào lưu thông phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế; nếu yêu cầu này không thoả mãn sẽ gây khó khăn cho sản xuất và lưu thông hàng hoá

Ngày nay, khi nền sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao, thì lượng tiền mặt ít được sử dụng mà thay vào đó là lưu thông các công cụ thanh toán của

hệ thống tín dụng ngân hàng - thanh toán không dùng tiền mặt)

3.3 - Chức năng phương tiện thanh toán

Trang 7

Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền dùng để chi trả các khoản giao dịch, mua bán hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công nợ…

Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ không làm trung gian trong quá trình trao đổi mà nó hoàn thành quá trình này một cách độc lập tương đối so với sự vận động của hàng hoá cả về không gian và thời gian Thực hiện chức năng này

có thể sử dụng tiền mặt hoặc dấu hiệu giá trị Chức năng phương tiện thanh toán

có tác dụng tích cực là thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hoá, kích thích sản xuất

và lưu thông hàng hoá phát triển

3.4 Chức năng tiền tệ cất trữ (cất trữ giá trị)

Thực hiện chức năng phương tiện cất trữ, tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông và trở về trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai Thực hiện chức năng này chỉ có thể là tiền đủ giá trị (vàng) Ngày nay việc cất trữ giá trị được thực hiện bằng nhiều phương tiện khác nhau Nhưng các phương tiện cất trữ phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Giá trị cất trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực có thể cân đong đo đếm được chứ không phải là lượng tiền tưởng tượng

- Giá trị cất trữ phải là những phương tiện được xã hội thừa nhận

- Giá trị cất trữ phải có thời hạn, tuỳ thuộc vào thời gian sẽ sử dụng giá trị

cất trữ dài hay ngắn để lựa chọn các phương tiện cất trữ thích hợp

3.5 Chức năng tiền tệ thế giới

Cùng với sự phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và ngoại giao giữa các quốc gia, quan hệ về tiền tương ứng cũng được mở rộng và phát triển

Thực hiện chức năng tiền tệ thế giới, tiền được sử dụng làm phương tiện thanh toán, chi trả chung giữa các quốc gia

Thực hiện chức năng này chỉ có thể là vàng với trọng lượng và hàm lượng xác định Tuy nhiên, ngày nay trên trường quốc tế vàng ít được lưu thông; nó chỉ được sử dụng khi cán cân thanh toán giữa các quốc gia bị thâm hụt Thực hiện chức năng tiền tệ thế giới là các đồng tiền mạnh như: USD, GBP, JPY, EURO…

4- Vai trò của tiền tệ

Trang 8

Tiền tệ là sản phẩm của kinh tế hàng hoá Trong nền kinh tế thị trường tiền tệ có các vai trò sau:

4.1 Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá, cụ thể:

- Tiền làm cho giá trị hàng hoá được biểu hiện một cách đơn giản

Mỗi hàng hoá được biểu hiện giá trị của mình bằng một số tiền nhất định, qua đó người sản xuất có thể so sánh với nhau về mức độ và trình độ lao động của mình đã bỏ ra cho xã hội trong một đơn vị thời gian

- Tiền tệ làm cho giá trị hàng hoá được thực hiện một cách thuận lợi Người sở hữu hàng hoá chỉ cần chuyển đổi hàng hoá của mình bằng một số tiền nhất định rồi từ đó đạt tới một giá trị sử dụng mới một cách dễ dàng

- Tiền tệ làm cho việc trao đổi hàng hoá không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian Chính vì lẽ đó mà sự lựa chọn của những người tham gia vào quá trình trao đổi trở nên thận trọng và chính xác hơn

- Tiền tệ làm cho việc hạch toán kinh doanh được thực hiện thuận tiện, chính xác và hiệu quả

Ví dụ: Để sản xuất 1 sản phẩm A, doanh nghiệp X, tập hợp được chi phí và kết quả như sau:

Tiền Nguyên vật liệu: 150.000đ

Tiền công sản xuất sản phảm: 50.000đ

Khấu hao máy móc, thiết bị: 20.000đ

Chi phí quản lý: 20.000đ

Cộng giá thành toàn bộ : 240.000đ

Giá bán: 320.000đ

Lợi nhuận trước thuế: 60.000đ

4.2- Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc

tế

Cùng với quan hệ ngoại thương, các quan hệ thanh toán tín dụng quốc tế, tiền tệ là phương tiện thực hiện và mở rộng quan hệ quốc tế Thông qua vai trò

Trang 9

này, tiền tệ thúc đẩy xu hướng hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, đầu tư… giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và phát triển (Xuất khẩu, nhập khẩu, thanh toán quốc tế…)

4.3 Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu tiền

Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp kể cả Nhà nước muốn đạt được mục đích của mình đều phải sử dụng tiền tệ

Tiền tệ là công cụ có quyền lực mạnh mẽ để xử lý và giải quyết các ràng buộc phát sinh trong quan hệ kinh tế xã hội, không những ở phạm vi quốc gia

mà còn ở cả phạm vi quốc tế

II- Các chế độ lưu thông tiền tệ

Sự phát triển của chế độ lưu thông tiền tệ không những tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà còn được quyết định bởi trình độ tổ chức Nhà nước

Trong lịch sử phát triển của tiền tệ, chế độ lưu thông tiền tệ đã trải qua nhiều loại hình và xu hướng chung là ngày càng được hoàn thiện

1 Chế độ lưu thông tiền kim loại

Chế độ lưu thông tiền kim loại lấy kim loại làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông

Việc lưu thông tiền đúc bằng kim loại có giá trị thấp: đồng, chì, nhôm….tồn tại trong một thời gian dài ở hầu hết các quốc gia

Đầu thế kỷ 20, kim loại quý: Bạc, vàng dần chiếm vị trí độc tôn - Nó được gọi là kim loại tiền tệ (bao gồm chế độ bản vị bạc: Bạc làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông; chế độ song bản vị: lưu thông tiền bạc, vàng; chế độ bản

vị vàng: vàng là thước đo giá trị)

2 Chế độ lưu thông tiền dấu hiệu

* Khái niệm

Trang 10

Tiền dấu hiệu (dấu hiệu giá trị) là loại tiền không có giá trị nội tại, mà chỉ

có giá trị danh nghĩa theo luật định thay thế tiền đủ giá trị (tiền vàng) trong lưu thông; chúng chỉ thực hiện được chức năng phương tiện lưu thông và chức năng phương tiện thanh toán

* Các loại tiền dấu hiệu

- Tiền giấy

Tiền giấy được phát hành thay thế cho tiền vàng đã từng tồn tại trong lưu thông Nó là đại biểu cho tiền vàng để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán.Tiền giấy do Ngân hàng Trung ương phát hành thống nhất trong cả nước với các tên gọi và mệnh giá khác nhau theo bội số và ước số

- Các loại dấu hiệu giá trị khác

+ Séc các loại

+ Thương phiếu

+ Tín phiếu

+ Chứng chỉ tiền gửi

+ Cổ phiếu, trái phiếu

* Ý nghĩa của tiền dấu hiệu

- Lưu thông tiền dấu hiệu sẽ khắc phục được tình trạng thiếu phương tiện lưu thông: Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, khối lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi tăng lên Sự gia tăng khối lượng trao đổi hàng hoá dịch

vụ đòi hỏi khối lượng tiền tăng lên tương ứng; Nếu chỉ sử dụng tiền kim loại quý để lưu thông sẽ không đáp ứng được nhu cầu thanh toán chi trả trong nền kinh tế

- Lưu thông tiền dấu hiệu sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội: do lưu thông tiền dấu hiệu sẽ loại trừ được sự hao mòn vàng Mặt khác, do tiền dấu hiệu có nhiều mệnh giá khác nhau nên việc thanh toán trao đổi được thuận lợi, nhanh chóng, chi phí phát hành tiền dấu hiệu thấp nên tiết kiệm được chi phí lưu thông

Trang 11

3- Chế độ lưu thông tiền tệ quốc tế

Khi đồng tiền của bất kỳ một quốc gia nào đó có khả năng thanh toán, trao đổi hoặc được chấp nhận ngoài lãnh thổ quốc gia đó đều được xem là tiền tệ quốc

tế

Chế độ lưu thông tiền tệ quốc tế là tập hợp những quy định thống nhất giữa các quốc gia trong việc tổ chức và điều hành các quan hệ tiền tệ phát sinh giữa các nước nhằm thiết lập một trật tự cho các quan hệ trao đổi mậu dịch và các quan hệ kinh tế quốc tế khác nhau giữa các nước trong khu vực và trên thế giới

Trong lịch sử phát triển các quan hệ tiền tệ thế giới đã hình thành các chế

độ tiền tệ quốc tế điển hình như sau:

3.1 Chế độ tiền tệ quốc tế Paris năm 1867- chế độ bản vị vàng

Chế độ bản vị vàng gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Thừa nhận vàng là tiền tệ thế giới được chu chuyển và trao đổi tự do giữa các quốc gia

- Vàng là căn cứ để xác lập tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền của các quốc gia với nhau

- Vàng thực hiện mọi chức năng của tiền tệ

3.2 Chế độ tiền tệ Giê nơ - chế độ bản vị Bảng Anh (GBP)

Năm 1922 hội nghị tiền tệ- tài chính quốc tế được tổ chức tại thành phố Giê-nơ hình thành chế độ tiền tệ Giê-nơ với các nội dung cơ bản sau:

- Các nước thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đồng bảng Anh (GBP) trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế

- Việc sử dụng đồng bảng Anh trong thanh toán quốc tế về ngoại thương

và các quan hệ quốc tế khác không hạn chế, các nước muốn có bảng Anh thì phải đổi vàng ra bảng Anh

3.3 Chế độ tiền tệ Bretton-Woods: chế độ bản vị Dollar Mỹ (USD)

Tháng 7 năm 1944 hội nghị tiền tệ- tài chính quốc tế tại thành phố Bretton-Woods của Mỹ được tiến hành nhằm thoả thuận thiết lập các quan hệ

Trang 12

tiền tệ - tài chích quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai được gọi là chế độ tiền tệ Bretton-Woods, với nội dung chủ yếu như sau:

- Thừa nhận Dollar Mỹ (USD) là đồng tiền chuẩn được sử dụng làm phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế chủ yếu trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán

- Việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ đối ngoại khác không hạn chế, các đồng tiền của các quốc gia khác phải liên hệ mật thiết với USD theo tỷ giá cố định

- USD được tự do chuyển đổi ra vàng theo giá 35 USD = 1 ounce = 31,1035 gram vàng

- Thiết lập Quỹ tiền tệ quốc tế (International Moneytary Fund IMF) và ngân hàng khôi phục và phát triển quốc tế (international Bank for Reconstruction and Development- IBRD)

3.4 Chế độ tiền tệ Gia mai ca- chế độ bản vị Special Drawing Right (SDR)

Chế độ bản vị Gia mai ca ra đời trên cơ sở hiệp định được ký kết giữa các thành viên IMF tại Gia mai ca vào năm 1976 - 1978 gồm các nguyên tắc cơ bản sau:

- Thừa nhận quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right- SDR) là cơ

sở của chế độ tiền tệ của các nước SDR là đồng tiền ghi sổ và trở thành đơn vị tiền tệ quốc tế mới

- Các nước thành viên được tự do lựa chọn thi hành chế độ tỷ giá hối đoái

mà không cần sự can thiệp của IMF

- Thực hiện phi tiền tệ hoá vai trò của vàng, không thừa nhận vàng là cơ

sở để xác định tỷ giá hối đoái của các đồng tiền của các quốc gia

3.5 Chế độ tiền tệ châu Âu (đồng ECU)

Chế độ tiền tệ châu Âu là chế độ tiền tệ khu vực, nó được xây dựng trên

cơ sở hiệp định tiền tệ do các nước châu Âu ký kết vào tháng 3 năm 1979 Đồng ECU là đơn vị tiền tệ chung của cộng đồng châu Âu và tồn tại dưới dạng bút tệ Đồng ECU có các chức năng tương tự như SDR, là hình thái tiền “ bút tệ.”

Trang 13

Ngày 1/1/1999 đồng tiền chung châu Âu với tên gọi mới là EURO đã được ra đời thay thế cho đồng ECU của liên minh châu Âu trước đây Sự ra đời của đồng EURO sẽ tác động đến các quan hệ kinh tế tài chính quốc tế Nó là một đơn vị tính toán, một đồng tiền dự trữ và một công cụ đa dạng hoá kết cấu đầu tư tài chính quốc tế

4 Chế độ lưu thông tiền tệ Việt Nam

Giấy bạc ngân hàng Nhà nước Việt nam là tiền dấu hiệu, do NHNN Việt nam độc quyền phát hành vào lưu thông

Tiền của nước CHXHCNVN có tên gọi là đồng, ký hiệu quốc gia là “đ”,

ký hiệu quốc tế là ”VND”

Tiền Việt nam có nhiều mệnh giá khác nhau: 50đ, 100đ, tối đa hiện nay

là 500.000 đ Cùng lưu thông với giấy bạc ngân hàng, hiện nay các loại tiền mệnh giá 200đ, 500đ, 1000 đ, 2000đ và 5000 đ đựoc phát hành bằng tiền kim loại

- Theo luật pháp của nước CHXHCN Việt nam, giấy bạc ngân hàng Nhà nước có quyền lưu thông trên toàn lãnh thổ Việt nam và được thanh toán không hạn chế với mọi khoản trao đổi hàng hoá, dịch vụ

Ở Việt nam hiện nay, tiền mặt được sử dụng phổ biến trong hầu hết các gia đình của dân cư và một số doanh nghiệp, vì vậy làm cho tỷ trọng giấy bạc ngân hàng trong tổng các phương tiện thanh toán là rất lớn Tình trạng này không những làm cho chi phí lưu thông tăng lên, mà còn làm cho giao dịch kinh

tế trở nên không an toàn, khó kiểm soát Để khắc phục tình trạng này, NHNN Việt nam quy định các biện pháp:

+ Quy định có tính cưỡng chế tồn quỹ tiền mặt đối với các doanh nghiệp

và cơ quan thuộc phạm vi kiểm soát của NHNN

+ Các đơn vị có kế hoạch sử dụng tiền mặt Ngân hàng thương mại cùng kho bạc nhà nước kiểm soát các kế hoạch này

+ Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong các giao dịch về hàng hoá-dịch vụ

Trang 14

+ Đưa vào lưu thông những phương tiện thanh toán hiện đại: Thẻ thanh toán, tiền điện tử , phù hợp với điều kiện kinh tế và trình độ dân cư

III- Quy luật lưu thông tiền tệ

1- Nội dung của quy luật lưu thông tiền tệ

Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tỷ lệ thuận với tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông, tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ trong một đơn vị thời gian

Trong đó:

Kc: Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông

H: Tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông

V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền

P: Giá cả bình quân của hàng hoá trong lưu thông

Q: Khối lượng hàng hoá trong lưu thông

V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ

“ Tốc độ lưu thông của tiền tệ là một đại lượng chỉ rõ trong một thời gian nhất định một đơn vị tiền tệ thực hiện được bao nhiêu lần chức năng phương tiện lưu thông”

Như vậy, số lượng tiền cần thiết trong lưu thông tỷ lệ thuận với tổng giá

cả hàng hoá trong lưu thông, tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ trong một thời gian nhất định

Trong nền kinh tế thị trường, khối lượng hàng hoá bán chịu ngày càng cao, làm cho khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông tại một thời điểm nào đó cũng chịu ảnh hưởng của quan hệ bán chịu trên Cụ thể:

Kc = H - HBC + Ht - Hb

V Trong đó:

H Tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông

Trang 15

HBC Tổng giá cả hàng hoá bán chịu

Ht Tổng giá cả hàng hoá đến hạn thanh toán

Hb Tổng giá cả hàng hoá được thực hiện bằng thanh toán bù trừ

2 Cung - Cầu tiền tệ

2.1 Cầu tiền tệ và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ

* Cầu tiền tệ

Cầu tiền tệ: Là tổng cầu giao dịch, tích luỹ, dự phòng của các tác nhân và thể nhân trong nền kinh tế

Cơ cấu cầu tiền tệ bao gồm:

- Cầu giao dịch: Nhu cầu giao dịch của các tác nhân và thể nhân về hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công nợ…

- Cầu tích luỹ: ngoài nhu cầu giao dịch thường xuyên, các tác nhân, dân cư… còn phải tích luỹ một phần giá trị để tiêu dùng cho tương lai: mua sắm tài sản, học tập …Cầu tích luỹ phụ thuộc vào thu nhập và mục đích sử dụng tiền Nếu thu nhập càng cao, mục đích sử dụng tiền càng cấp bách thì tích luỹ càng nhiều

- Cầu dự phòng

Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động về giá cả, lãi suất, thu nhập…thì dự phòng một khoản tiền là cần thiết với doanh nghiệp và dân cư Dự phòng bao gồm:

+ Dự phòng chi thường xuyên: đây là những khoản chi thường xuyên cho nhu cầu cá nhân, buộc mọi người phải có dự phòng một khoản tiền tối thiểu Số lượng tiền dự phòng chi thường xuyên phụ thuộc vào mức thu nhập của các tác nhân

+ Dự phòng chi cho rủi ro: thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, giá cả, lãi suất… Tất cả những nhu cầu trên về tiền tệ hợp thành tổng cầu tiền trong nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định

* Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ:

- Lãi suất tiền gửi

Trang 16

Lãi suất tiền gửi có tác động trực tiếp đến tổng cầu tiền cho giao dịch Nếu lãi suất tiền gửi tăng sẽ thu hút được các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào các tổ chức tín dụng, ngân hàng Tuy nhiên, lãi suất tăng sẽ giảm mức cầu tiền trong nền kinh tế do nhu cầu vay vốn giảm; Ngược lại, lãi suất huy động giảm thì các tổ chức, cá nhân sẽ ít gửi tiền, trong khi đó nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tăng làm cho tổng cầu tiền tăng

- Giá trị các khoản giao dịch

Nếu số lượng và số lần giao dịch trong kỳ là cố định thì giá trị các khoản giao dịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức cầu tiền Giả định giá cả hàng hoá tăng gấp đôi thì cầu tiền tăng tương ứng và ngược lại

- Thu nhập của dân cư

Thu nhập của dân cư tăng thì nhu cầu tích luỹ tăng dần đến mức cầu tiền tăng

Trang 17

Nghiệp vụ chi làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông, còn nghiệp vụ thu thì làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông

+ Ngân hàng Nhà nước ứng tiền cho ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên hoặc cho Nhà nước vay trong trường hợp bội chi ngân sách

+ Mua chứng khoán chính phủ trong nghiệp vụ thị trường mở

+ Mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

- Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác

Các tác nhân này không trực tiếp cung ứng tiền mặt ra lưu thông mà chúng chỉ tạo tiền bút tệ thông qua các nghiệp vụ:

+ Cho khách hàng vay quá nguồn vốn của mình Số cho vay vượt quá mức vốn hiện có của ngân hàng là số tiền không có thực, nó được ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cho vay dưới hình thức chiết khấu, cầm cố các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi và các chứng từ có giá khác Tổng hợp lại, tại một thời điểm nào đó, tổng giá trị các khoản cho vay này có thể lớn hơn nguồn vốn hiện có của NHTM

+ Cho khách hàng thấu chi

Là sự cho phép của ngân hàng để khách hàng được phép chi vượt quá số

dư hiện có trên tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng với một hạn mức và trong một thời gian nhất định

+ Phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác theo quy chế tài chính

- Các tổ chức phi ngân hàng: Cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua những phương tiện chuyển tải giá trị như:

+ Chính phủ phát hành công trái: trái phiếu công trình,tín phiếu kho bạc + Các tác nhân mở tài khoản tại hệ thống NHTM

* Các nhân tố ảnh hưởng đến mức cung tiền tệ

Mức cung tiền tệ trong nền kinh tế do ngân hàng Nhà nước quyết định thông qua chính sách tiền tệ

Trang 18

-Khi ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì mức cung tiền sẽ giảm

- Khi ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì mức cung tiền tệ sẽ tăng

Các nhân tố ảnh hưởng đến quy định chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước bao gồm:

./ Chỉ số trượt giá và tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế

./ Tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự ổn định chính trị của quốc gia

./ Mức độ thâm hụt ngân sách

./ Mức độ thâm hụt cán cân thanh toán

3 Vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ

Từ công thức:

Kc = H = P Q

Như vậy Kc chịu sự tác động bởi ba yếu tố:

- Khối lượng hàng hoá, dịch vụ sản xuất và cung cấp (Q)

Theo công thức trên chỉ khi nào có một hàng hoá hoặc dịch vụ được cung cấp thì cần một lượng tiền tương ứng Tuy nhiên, trong thực tế, khi các nhà đầu

tư tiến hành các hoạt động mua sắm máy móc, thiết bị dự trữ nguyên vật liệu….thì đã cần một lượng tiền nhất định Nếu vận dụng quy luật lưu thông tiền

tệ một cách máy móc thì rễ bỏ qua các cơ hội đầu tư Vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ một cách sáng tạo ta thấy rằng khi nhà đầu tư tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cầu tiền tệ phát sinh Để đáp ứng nhu cầu này hệ thống ngân hàng có thể cung ứng cho các nhà đầu tư mặc dù lúc này chưa có sản phẩm hàng hoá Như vậy, cầu tiền tệ chịu tác động của các yếu tố giao dịch, mua bán phát sinh trong nền kinh tế thị trường chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào khối lượng hàng hoá thực có trong nền kinh tế

Trang 19

- Giá cả hàng hoá - dịch vụ (P )

Khi nhu cầu mua sắm, đầu tư của người tiêu dùng và nhà đầu tư được thực hiện mà sản lượng hàng hoá không tăng lên, nghĩa là cầu tăng nhưng cung không tăng làm giá cả hàng hoá tăng Lúc này nếu hạn chế cung tiền để hạn chế

sự gia tăng của của giá cả thì kéo theo hạn chế đầu tư phát triển sản xuất Hậu quả sẽ làm lượng hàng hoá càng khan hiếm dẫn đến giá cả hàng hoá tăng Vì vậy, vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ một cách linh hoạt cần nhận thức: Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định, khi giá cả gia tăng thì vẫn phải cung ứng thêm tiền nhằm đáp ứng cầu tiền tệ; đây là biện pháp dùng lạm phát để chống lạm phát trong điều kiện lạm phát vừa phải

- Tốc độ lưu thông của tiền tệ (V )

Kc tỷ lệ nghịch với V Nghĩa là, trong điều kiện sản lượng hàng hoá sản xuất không tăng nhưng tốc độ lưu thông tiền tệ tăng nhanh thì sẽ làm cho khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông giảm xuống và ngược lại Tuy nhiên, vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ trong điều kiện kinh tế tăng trưởng ổn định mà tốc độ lưu thông tiền tệ càng tăng thì hoạt động của nền kinh tế càng sôi động, khả năng tạo thêm hàng hoá càng cao nên tự nó có thể cân đối được với khối lượng tiền đang lưu thông; Do vậy, không cần phải hạn chế lượng tiền cung ứng cho lưu thông Mặt khác tốc độ lưu thông tiền tệ tăng trong điều kiện kinh tế phát triển là một dấu hiệu tốt của nền kinh tế

4 Các khối tiền trong lưu thông

4.1 Khối lượng tiền trong lưu thông ( Ms )

Khối lượng tiền trong lưu thông là tất cả các phương tiện được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi hàng hoá, dịch vụ tại một thị trường nhất định và trong một thời gian nhất định

Căn cứ vào khả năng chuyển đổi của các phương tiện thành hàng hoá

“tính lỏng” của các phương tiện trong trao đổi Khối lượng tiền trong lưu thông bao gồm các bộ phận sau:

Trang 20

- Khối lượng tiền trong giao dịch ( M1): là những phương tiện có “ tính lỏng" cao nhất trong lưu thông, bao gồm:

+ Tiền mặt (giấy bạc ngân hàng và tiền đúc);

+ Ngoại tệ tự do chuyển đổi;

+Vàng;

+ Séc các loại;

+ Các chứng từ có giá có khả năng thanh toán;

+ Tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng

- Khối tiền mở rộng (M2): Bao gồm khối lượng tiền M1 và các loại tiền gửi có kỳ hạn

Nếu gọi Ms là tổng khối lượng tiền trong lưu thông

Ms = M3 + Các phương tiện trao đổi khác

4.2 Khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông (Kc)

Là khối lượng tiền đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá, dịch vụ của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định

Kc phụ thuộc vào hai yếu tố: Tổng mức lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ (P.Q ) và tốc độ lưu thông bình quân của đồng tiền cùng loại (V) trong một thời

kỳ

Quy luật lưu thông tiền tệ, chủ yếu là quy luật về cân bằng tiền - hàng được thể hiện qua mối quan hệ giữa Ms và Kc:

- Nếu :

Trang 21

Ms

= 1

Kc Tiền hàng cân đối Đây là mức độ lý tưởng của quản lý kinh tế vĩ mô và

- Nếu :

Ms

 1

Kc Hiện tượng lạm phát: Lượng tiền trong lưu thông lớn hơn lượng tiền cần thiết trong lưu thông

Để xác định quan hệ trên, các nhà kinh tế dựa vào tín hiệu thị trường: giá

cả hàng hoá, tỷ giá hối đoái, giá vàng…

IV- Lạm phát, thiểu phát và các biện pháp ổn định tiền tệ

1 Lạm phát

1.1 Khái niệm

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế, trong đó lượng giấy bạc đưa vào lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết, làm cho chúng bị mất giá, dẫn đến giá cả cả của hầu hết các hàng hoá trong lưu thông không ngừng tăng lên

Trang 22

Gpt : Tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t

CPt : Chỉ số giá của lô hàng hoá tại thời điểm t

CPo : Chỉ số giá của lô hàng hoá tại thời điểm lấy làm gốc

Lô hàng hoá là những hàng hoá tiêu dùng phổ biến được chọn làm cơ sở nghiên cứu (ở Mỹ chọn 256 nhóm hàng hoá tiêu dùng thường xuyên ở 85 thành phố để tìm chỉ số giá; ở Việt nam chọn 396 mặt hàng ở khu vực trọng điểm của

cả nước chia thành 10 nhóm: ăn uống và dịch vụ, đồ uống và thuốc lá, may mặc, nhà ở và vật liệu xây dựng, thiết bị và đồ dùng gia đình, dược phẩm và dịch vụ y

tế, phương tiện đi lại và dịch vụ vận tải, văn phòng và dịch vụ giáo dục, văn hoá TDTT, các loại khác làm cơ sở để tính chỉ số giá)

+ Nếu Gpt = 0: không có lạm phát

+ Nếu Gpt  0: lạm phát

+ Nếu Gpt  0: giảm phát

1.4 Nguyên nhân của lạm phát

- Do chính sách của nhà nước như:

+ Nhà nước phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách mà không sử dụng các hình thức khác

+ Chính sách thuế chưa hợp lý không khuyến khích sản xuất phát triển, công tác kiểm soát thu thuế kém hiệu quả

+ Tăng lương vượt quá mức tăng năng suất lao động

Trang 23

+ Chính sách phát triển cơ cấu kinh tế không phù hợp, không khuyến khích phát triển các ngành có chi phí cao (khai thác, khoa học , tri thức…)

- Thực trạng nền kinh tế: Nền kinh tế kém phát triển, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả cung không đủ cầu

- Những nguyên nhân liên quan đến điều kiện quốc tế như: khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực và thế giới; chiến tranh xảy ra…

- Những nguyên nhân liên quan đến điều kiện tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh…

- Những nguyên nhân liên quan đến tình hình chính trị: do khủng hoảng hệ thống chính trị làm cho việc điều hành sản xuất không được quan tâm và điều cốt lõi là dân chúng không tín nhiệm vào đồng tiền pháp định của Nhà nước

1.5- Ảnh hưởng của lạm phát đối với nền kinh tế - xã hội

Tuỳ theo mức độ lạm phát khác nhau mà ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế cũng khác nhau

- Lạm phát vừa phải, tạo nên sự chênh lệch giá hàng hoá, dịch vụ giữa các vùng làm cho thương mại năng động hơn Các doanh nghiệp vì thế sẽ gia tăng sản xuất, đẩy mạnh cạnh tranh đưa ra thị trường nhiều hàng hoá có chất lượng cao hơn Lạm phát vừa phải làm cho đồng nội tệ mất giá nhẹ so với đồng ngoại tệ; đây là lợi thế cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu tăng ngoại hối, khuyến khích sản xuất trong nước phát triển Nhìn chung lạm phát vừa phải có tác động tích cực đến phát triển kinh tế – xã hội

- Lạm phát phi mã và siêu lạm phát ảnh hưởng xấu đến các lĩnh vực sau: + Tiền tệ: Lạm phát làm cho tiền tệ không còn giữ được chức năng thước

đo giá trị, không tính toán được các chỉ tiêu hiệu quả của nền kinh tế Người dân không tin vào đồng tiền bản tệ nên tìm đến vàng, ngoại tệ để cất trữ không đưa

ra đầu tư, dẫn đến hoạt động tín dụng bị thu hẹp, hệ thống tín dụng - ngân hàng rối loạn không kiểm soát được

+ Tài chính kinh tế: lạm phát làm sản xuất bị thu hẹp, vì lợi nhuận của doanh nghiệp giảm thấp do giá cả, vật tư tăng liên tục Mặt khác, lạm phát làm

Trang 24

sản xuất phát triển không đồng đều, mất cân đối giữa các ngành vì vốn sẽ chạy vào các ngành nào có lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh

+ Xã hội: Lạm phát làm giảm khối lượng hàng hoá tiêu dùng của dân cư, đặc biệt đời sống của cán bộ công chức ngày càng khó khăn Lạm phát thúc đẩy phân hoá giàu nghèo, tăng thất nghiệp

1.6- Biện pháp ổn định tiền tệ chống lạm phát

a- Biện pháp cấp bách (biện pháp tình thế)

Biện pháp này được áp dụng với mục đích giảm tức thời “ cơn sốt lạm phát” để có cơ sở ổn định tiền tệ lâu dài Các biện pháp đó là:

- Chính sách tiền tệ quốc gia

+ Ngừng phát hành tiền vào lưu thông

+ Tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút tiền mặt từ dân cư vào hệ thống tín dụng

+ Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm hạn chế vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại

+ Phát hành các loại trái phiếu ngân hàng Trung ương để thu hút tiền từ các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp và dân cư

- Chính sách tài chính quốc gia

+ Cắt giảm các khoản chi chưa cần thiết

+ Khuyến khích nhập khẩu hàng hoá để đưa vào thị trường trong nước các mặt hàng đang thiếu nhằm tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng, cân đối cung cầu tiền trong lưu thông

+ Bán ngoại tệ và vàng để thu hút tiền từ lưu thông

+ Phát hành trái phiếu Chính phủ để vay nợ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội

+ Vay nợ nước ngoài để bù đắp thiếu hụt ngân sách

b- Biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài

- Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển hàng hoá trong nước nhằm tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng

Trang 25

- Tạo ngành sản xuất “ mũi nhọn” cho xuất khẩu nhằm thu hút ngoại tệ, nhập khẩu các hàng hoá trong nước còn thiếu

- Tinh giảm biên chế bộ máy hành chính, rà soát lại các khoản chi tiêu ngân sách, cắt giảm các khoản chi tiêu chưa cần thiết

- Xây dựng chính sách thuế hợp lý, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi

- Dùng lạm phát để chống lạm phát nghĩa là tăng vốn đầu tư ở mức hợp lý ( mức lạm phát vừa phải ) nhằm tăng hiệu quả các dự án đầu tư

Thiếu phát

2.2 Nguyên nhân của thiểu phát

- Do việc thắt chặt cung ứng nội tệ và tăng lãi suất để thu hút tiền thừa ngoài lưu thông nhưng quá mức khối lượng tiền thừa

- Hàng hoá sản xuất trong nước tăng nhanh nhưng chất lượng hàng hoá hạn chế dẫn đến tình trạng thừa so với nhu cầu

- Thu nhập của người tiêu dùng giảm do mức thuế tăng, thất nghiệp tăng

- Do nguyên nhân từ bên ngoài: Tình trạng phá giá ngoại tệ của một số quốc gia, xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng Từ đó làm giảm giá cả những hàng hoá nhập khẩu và sản xuất trong nước

2.3 Hậu quả của thiểu phát

-Việc tiêu thụ hàng hoá chậm do thiếu phương tiện lưu thông làm cho sản xuất, lưu thông bị ngừng trệ

Trang 26

- Hàng hoá tồn kho của các doanh nghiệp tăng, dẫn tới việc các doanh nghiệp cắt giảm sản xuất, chi tiêu và đầu tư

- Thu nhập của người tiêu dùng giảm, thất nghiệp tăng

- Đầu tư xã hội giảm

2.4 Giải pháp khắc phục giảm phát, thiểu phát

- Tăng mức lương cơ bản của công chức nhà nước

- Giảm thuế nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng thu nhập của dân cư

- Tăng chi tiêu của Chính phủ, đẩy mạnh đầu tư để cung ứng thêm tiền cho lưu thông

- Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu

3 Vận dụng các biện pháp ổn định tiền tệ trong điều kiện Việt Nam

- Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

- Khuyến khích xuất khẩu (hàng hoá mũi nhọn ), thông qua chính sách ưu đãi về thuế, lãi suất, bảo trợ

- Mở rộng, phát triển hệ thống tín dụng, ngân hàng

- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

- Kích cầu, đầu tư, tăng chi tiêu của Chính phủ./

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG I

1- Giải thích các định nghĩa về tiền Cho biết nghĩa của đoạn văn : ‘ mặc dầu về bản chất, vàng và bạc không phải là tiền, nhưng tiền về bản chất thì lại là vàng và bạc ‘ ( Tư bản, tập thứ nhất Q1, NXB Sự thật Hà nội -1984, tr.121)

2- Tại sao phải dự trữ giá trị, phân biệt cất trữ và dự trữ giá trị Phương tiện nào dự trữ giá trị tốt nhất hiện nay Tại sao ?

3-Chế độ lưu thông tiền được xác lập từ bao giờ? Tại sao lại khẳng định như vậy? Trước khi có chế độ lưu thông tiền tệ thì tiền được lưu thông như thế nào?

Trang 27

4- Các yếu tố của chế độ lưu thông tiền? Yếu tố nào là quan trọng nhất? 5- Tại sao các đồng tiền quốc tế lại không tồn tại được lâu ? Hãy dự đoán

về đồng Euro

6- Phân biệt khối lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông có thể xác định chính xác đựoc không ? Tại sao ?

7- Tính khối lượng tiền trong lưu thông ( Ms) biết rằng : M1 =a ; tiền gửi

có kỳ hạn =b ; thương phiếu =c ; tín phiếu=d ; trái khoán các loại = f ; các

phương tiện có khả năng thanh toán khác =n

8- Các biện pháp để cân đối cung cầu tiền

9- Tại sao ở các nước chậm phát triển cư dân thường ‘ ưa thích’ sử dụng tiền mặt Sử dụng tiền mặt với số lượng lớn trong giao dịch có tác hại gì ?

10- Trong qui luật lưu thông tiền giấy, các qui luật bên trong của lưu thông tiền tệ hình như bị đảo ngược, bị thủ tiêu, có đúng không ? tại sao ?

11- Tại sao lạm phát chỉ xảy ra khi lưu thông tiền giấy ( hoặc giấy bạc ngân hàng)? Lợi ích và tác hại của lạm phát ?

12- Trong các biện pháp ổn định tiền tệ, biện pháp nào là quan trọng nhất ?

Trang 28

CHƯƠNG 2 TIN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I - Sự ra đời và bản chất của tín dụng

1 Sự ra đời và phát triển của các mối quan hệ tín dụng

1.1 Sự ra đời của tín dụng (Credit)

Tín dụng xuất hiện rất sớm, từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động xã hội và chế độ về tư hữu về tư liệu sản xuất Nó tồn tại và phát triển gắn với sự tồn tại và phát triển của những quan hệ hàng hoá - tiền tệ

Xét về mặt xã hội, sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất làm phân hoá xã hội Của cải, tiền tệ có xu hướng tập trung vào một nhóm người, trong khi đó đại bộ phận dân cư có thu nhập thấp hoặc không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, nhất là khi gặp rủi ro bất thường Trong điều kiện như vậy, phát sinh quan hệ vay trả, tín dụng ra đời

1.2 Sự phát triển của quan hệ tín dụng

Cũng như tiền tệ, các quan hệ tín dụng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng đa dạng hoá Theo sự phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ, các quan hệ tín dụng bao gồm:

- Tín dụng nặng lãi: ra đời khi chế độ Công xã nguyên thuỷ bắt đầu tan rã

Nó tồn tại và phát triển mạnh trong các chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến

Do điều kiện sản xuất thấp kém, sản phẩm làm ra còn ít và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Những người nông dân, thợ thủ công nghèo đôi khi để đối phó với những rủi ro xảy ra trong cuộc sống bắt buộc phải đi vay để giải quyết những khó khăn cấp bách: mua lương thực, chữa bệnh, nộp thuế…

+ Những người cho vay là giai cấp địa chủ, phong kiến thực hiện cho vay với lãi suất rất cao 200% - 300% /năm

+ Tín dụng nặng lãi có tác dụng: kìm hãm sức sản xuất xã hội, thúc đẩy kinh tế tự nhiên tan rã, thúc đẩy kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển, tạo điều

Trang 29

kiện cho phương thức sản xuất mới ra đời: Đó là phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa

- Tín dụng Tư bản chủ nghĩa

+ Sự ra đời: Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời thì quan hệ tín dụng nặng lãi đang còn tồn tại phổ biến và trở thành chướng ngại đối với sức sản xuất xã hội

Để đối phó với trở ngại trên, giai cấp tư sản đã liên kết với nhau, tạo lập quan hệ tín dụng mới với lãi suất thấp hơn Kết quả thúc đẩy quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa ra đời

+ Nguồn gốc và đặc điểm của tín dụng tư bản cho vay

./ Nguồn gốc hình thành chính trong quá trình tái sản xuất ( đó là số tiền tạm thời nhàn rỗi như: TB khấu hao, TB dùng mua nguyên vật liệu, TB dùng trả lương cho công nhân …nhưng chưa sử dụng đến )

./ Nguồn tiền tệ của các nhà tư bản thực lợi không đầu tư vào sản xuất mà đầu tư cho vay để kiếm lợi nhuận

./ Nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư

+ Đặc điểm của Tư bản cho vay

./ Tư bản cho vay là tư bản sở hữu: Nó thuộc quyền sở hữu của người cho vay

./ Tư bản cho vay là một hàng hoá đặc biệt vì nó có giá trị sử dụng đặc biệt là sau khi sử dụng giá trị của nó không những được giữ nguyên mà còn tăng thêm lên

./ Tư bản cho vay vận động theo công thức đặc biệt T – T’ ( T’ > T)

- Tín dụng trong kinh tế thị trường

Tín dụng trong kinh tế thị trường ra đời bởi các lý do sau;

+ Do mâu thuẫn của quá trình tuần hoàn vốn trong xã hội, luôn xảy ra tình trạng tạm thời thừa hoặc tạm thời thiếu vốn xuất phát từ sự không ăn khớp giữa thu nhập và chi tiêu của các doanh nghiệp, các hộ gia đình cả về không gian và thời gian

Trang 30

+ Do yêu cầu của việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế: lấy thu , bù chi và có lãi

+ Do cơ chế tự chủ về tài chính, đòi hỏi các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh phải chủ động nguồn vốn hoạt động của mình

./ Năm 1951: Nước ta thành lập ngân hàng quốc gia Việt Nam Nhiệm vụ của ngân hàng là huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và hỗ trợ kinh tế cá thể

./ Sau năm 1975: Nước ta thi hành chính sách tín dụng thống nhất trong

cả nước

Do đặc điểm của lịch sử dân tộc, quan hệ tín dụng nước ta mang nặng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Các quan hệ tín dụng chưa phát huy tác dụng đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá

Từ năm 1990 đến nay, nước ta phát triển quan hệ tín dụng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các quan hệ tín dụng ngày càng phát huy vai trò là công cụ “ đòn bẩy “ thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển

2 Bản chất của tín dụng

Tín dụng là một phạm trù kinh tế, là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá Cùng với quá trình phát triển của sản xuất hàng hoá, tín dụng đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội khác nhau Dù vận động theo phương

Trang 31

thức sản xuất nào, đối tượng tín dụng là hàng hoá hay tiền tệ thì tín dụng cũng

có các đặc trưng cơ bản sau:

- Tín dụng chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng

- Tín dụng phải có thời hạn, nghĩa là người chủ sở hữu vốn tín dụng chỉ chuyển quyền sử dụng cho người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định

do hai bên thoả thuận

- Người sở hữu vốn tín dụng được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức tín dụng

Như vậy:

“ Tín dụng là một phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong xã hội trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.”

II- Chức năng của tín dụng

1 Tập trung và phân phối lại vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội trên nguyên tắc hoàn trả

Các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế luôn ở một trong hai trạng thái: Tạm thời thừa hoặc tạm thời thiếu vốn Thông qua hoạt động tín dụng nguồn vốn được điều chuyển từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu vốn để

sử dụng có hiệu quả hơn

Bằng các cơ chế lãi suất khác nhau, tín dụng tập trung được số lượng lớn

số vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để hình thành quỹ cho vay ( hay nguồn vốn tín dụng) Từ nguồn vốn huy động được, các tổ chức tín dụng tiến hành phân phối cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn dưới các hình thức khác nhau

- Phân phối trực tiếp cho đối tượng cần sử dụng vốn Ví dụ: Quan hệ tín dụng thương mại phát hành trái phiếu công ty

Ngày đăng: 28/04/2016, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm