1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận kinh tế đầu tư cao học

14 396 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 68,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận kinh tế đầu tư dành cho trình độ cao học ngành quản trị kinh doanh, quản lý doanh nghiệp...

Trang 1

Phân tích các chỉ tiêu xác định kết quả hoạt động đầu tư phát triển.

Kết thúc một dự án đầu tư bao giờ cũng cho ta một kết quả nhất định, gọi là kết quả đầu tư Kết quả đầu tư là chỉ tiêu đo khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện được biểu thị bằng giá trị tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất, dịch vụ được tăng lên Ở đây sẽ tập trung nghiên cứu hai nhóm chỉ tiêu sau:

- Khối lượng vốn đầu tư thực hiện

- Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

Khối lượng vốn đầu tư thực hiện

Như chúng ta đã biết vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chỉ để tiến hành các hoạt động của đầu tư bao gồm các chi phí:

- Chi phí xây dựng

- Chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị

- Chi phí quản lý dự án và chi phí khác

Đối với những dự án đầu tư có quy mô lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài, vốn đầu

tư thực hiện là số vốn đã chi cho từng hoạt động hoặc từng giai đoạn của mỗi dự án đầu

tư đã hoàn thành Đối với những dự án có quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn, vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ các công việc của quá trình thực hiện đầu tư kết thúc

Đối với những hoạt động đầu tư do ngân sách tài trợ, tổng số vốn đã chi được tính vào khối lượng đầu tư thực hiện khi các kết quả của quá trình đầu tư phải đạt các tiêu chuẩn và tính theo phương pháp sau đây:

- Đối với công tác xây dựng: Vốn đầu tư thực hiện của công tác xây lắp (IVXL) được tính theo công thức sau:

IVxl=∑Qxl.Pxl+C+W+VAT Trong đó:

Qxl: khối lượng công tác xây dựng hoàn thành thứ i

Khối lượng công tác xây dựng phải đạt các tiêu chuẩn quy định:

Pxi: Đơn giá dự toán bao gồm các chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí sử dụng máy thi công tính cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng thứ i

C: Chi phí chung được tính theo tỷ lệ phần trăm so với chi phí trực tiếp

W: Lãi định mức (thu nhập chịu thuế tính cước) được tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá thành dự toán công tác xây lắp do Nhà nước quy định theo từng loại công trình VAT: Tổng thuế giá trị gia tăng đầu ra

- Đối với công tác mua sắm trang thiết bị: Vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị (IVTB) được tính theo công thức sau:

I VTB = ∑Qi.Pi+VAT+CN

Trong đó:

Qi: Trọng lượng (tấn) số lượng từng bộ phận, cái, nhóm thiết bị thứ i

Pi: Giá tính cho một tấn hoặc từng bộ phận, cái, nhóm thiết bị thứ I của công trình Pi: Bao gồm: Giá mua thiết bị thứ i ở nơi mua (nơi sản xuất chế tạo hoặc nơi cung ứng thiết bị công nghệ tại Việt Nam) hay giá tính đến cảng Việt Nam (đối với thiết bị công nghệ nhập khẩu); chi phí vận chuyển, làm kho bãi…

Trang 2

VAT: Tổng số thuế giá trị gia tăng đối với công tác lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh (nếu có)

CN: Chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ (nếu có)

- Đối với công tác lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị công nghệ các loại công trình xây dựng (IVL) được tính theo công thức sau:

IVL=∑QLi.PLi +C + W+VAT Trong đó:

Qli: Khối lượng công tác lắp đặt thiết bị máy móc đã hoàn thành tính theo toàn bộ từng chiếc máy i (đối với thiết bị có kỹ thuật lắp đơn giản) hoặc số tấn máy lắp xong của từng giai đoạn, từng giai đoạn, từng bộ phận phải lắp của từng thiết bị (đối với thiết bị có

kỹ thuật lắp đơn giản nhưng được lắp song song nhiều chiếc cùng một lúc hoặc đối với thiết bị có kỹ thuật lắp phức tạp)

PLi: Đơn giá dự toán cho một đơn vị khối lượng công tác lắp đặt thiết bị máy móc

đã hoàn thành

C: Chi phí chung được tính bằng 65% chi phí nhân công trong dự toán

W: Lãi định mức (thu nhập chịu thuế tính cước) được tính bằng tỷ lệ (%) so với chi phí trực tiếp và chi phí chung trong dự toán

- Đối với chi phí quản lý dự án và chi phí khác được tính vào vốn đầu tư thực hiện theo phương pháp thực thanh thực chi:

Chi phí quản lý dự án và chi phí khác bao gồm: Các chi phí này được xác định theo định mức tính bằng tỷ lệ % hoặc bảng giá cụ thể và được chi thành 2 nhóm:

+ Nhóm chi phí, lệ phí xác định theo định mức bằng tỷ lệ %, bao gồm: chi phí thiết

bị, chi phí ban quản lý dự án, chi phí và lệ phí thẩm định và các chi phí tư vấn khác… + Nhóm chi phí xác định bằng cách lập dự án

Phương pháp tính vốn đầu tư thực hiện của các khoản chi phí quản lý và chi phí khác như sau:

I VK= ( Σ Ai+Σ Bi ) + VAT Trong đó:

Ai: Chi phí của khoản mục thức I thuộc nhóm chi phí tính theo định mức tỷ lệ % Bi: Chi phí của khoản mục thứ I thuộc nhóm chi phí tính bằng cách lập dự toán VAT: Tổng số thuế giá trị gia tăng của các chi phí là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng

Bản chất, vai trò của đầu tư quôc tế và chuyển giao công nghệ trong đầu tư quốc tế

Bản chất của đầu tư quốc tế:

Bản chất của đầu tư quốc tế là việc đầu tư của các nước giàu sang các nước nghèo hơn và là việc các nước giàu đầu tư sang nhau (chiếm tỉ trọng khá lớn, chiếm ¾ vốn đầu

tư ra nước ngoài của những nước này)

Mục tiêu của đầu tư quốc tế vừa là mục tiêu kinh tế vừa là mục tiêu chính trị Các nước chậm phát triển không chỉ nhận vốn đầu tư của nước phát triển mà còn đầu tư sang các nước khác mặc dù vẫn thiếu vốn cho sự phát triển kinh tế xã hội trong nước

Trang 3

Vai trò của đầu tư quốc tế

Đối với nước đi đầu tư:

- Nếu là chính phủ đầu tư thông qua các chương trình viện trợ không hoàn lại hoặc

có hoàn lại với lãi suất thấp cho các nước đang phát triển thì mục tiêu chủ yếu là chính trị, là sự gây sức ép buộc các nước tiếp nhận đầu tư phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho các nước đầu tư hoặc là vì mục đích nhân đạo

- Nếu chủ đầu tư là các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ tư nhân hoặc của Nhà nước đầu tư sang các nước khác và trực tiếp tham gia điều hành quá trình sử dụng và thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra thì mục tiêu chủ yếu là lợi ích kinh tế, lợi nhuận

Thông qua việc đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư các chủ đầu tư trực tiếp sản xuất được sản phẩm với giá thành hạ hơn so với sản xuất trong nước nhờ đó các chủ đầu tư này có được ưu thế trong việc tiêu thụ sản phẩm này trên thị trường thế giới Nếu các sản phẩm này được nhập trở lại các nước chủ đầu

tư với giá hạ hơn sản xuất trong nước hoặc giá nhập khẩu từ một nước khác thì khả năng tiêu thụ của sản phẩm này ở chính quốc sẽ mạnh hơn

Đối với nước nhận đầu tư:

- Vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp giải quyết tình trạng thiếu thốn vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tích lũy nội bộ thấp

- Được nhận chuyển giao công nghệ

- Các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, tính năng động và khả năng cạnh tranh của sản xuất trong nước ngày càng được tăng cường, các tiềm năng cho phát triển kinh tế

xã hội của đất nước có điều kiện để khai thác và được khai thác

- Nước chủ nhà không phải lo trả nợ, thông qua hợp tác với chủ đầu tư nước ngoài, nước chủ nhà có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, nơi chủ đầu tư có chỗ đứng Trường hợp sản xuất thay thế hàng nhập khẩu thì nước nhận đầu tư có được hàng hóa cẩn thiết với giá cả thấp hơn giá nhập từ nước ngoài nhờ tiết kiệm được chi phí vận chuyển

và khai thác được những lợi thế về lao động, nguồn nguyên liệu trong nước

Bản chất, của chuyển giao công nghệ:

- Chuyển giao công nghệ là việc công nghệ của một quốc gia có thể được đưa ra khỏi lãnh thổ quốc gia đó và được vận hành dưới sự quản lý của người hoặc tổ chức khác trong quá trình thực hiện đầu tư

- Bản chất của chuyển giao công nghệ là sự mua bán bí quyết và chuyển bí quyết từ doanh nghiệp nước này sang doanh nghiệp nước khác Nói cách khác đó là chuyển giao khả năng sản xuất một mặt hàng nào đó hoặc một phần mặt hàng nào đó từ chủ sở hữu công nghệ sang người muốn có công nghệ đó

Vai trò của chuyển giao công nghệ:

- Giảm sự chênh lệch trình độ công nghệ giữa các quốc gia

- Nhằm rút ngắn được quá trình nghiên cứu cơ bản và việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ở những nước có trình độ công nghệ thấp hơn

- Giảm mức độ rủi ro trong nghiên cứu công nghệ và có được những điều kiện cần thiết để phát triển những lĩnh vực mà quốc gia đó không có điều kiện nghiên cứu

- Đáp ứng được sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu về sản phẩm mới của người tiêu dùng

Trang 4

Dự án đầu tư? Tiêu chuẩn và nguyên tắc đánh giá hiệu quả dự án đầu tư phát triển?

Dự án đầu tư:

- Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định

- Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan đến nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định

- Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư phát triển:

Tiêu chuẩn chung nhất đối với dự án đầu tư là kết quả đạt được về kinh tế - xã hội là lớn nhất với chi phí để tạo ra kết quả đó là khoa học – công nghệ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, đảm bảo ổn định chính trị và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước

Tiêu chuẩn cụ thể của hiệu quả dự án đầu tư là mức tăng thu nhập quốc dân hay mức tăng của lợi nhuận do vận hành dự án mang lại cho nền kinh tế hay cho ngành và doanh nghiệp

Trong khi xem xét hiệu quả phải quan tâm đến lợi ích của các chủ thể, nghĩa là phải xét đến các quan điểm khác nhau của các chủ thể

Nguyên tắc đánh giá:

Được hiểu là những yêu cầu, những chuẩn mực cơ bản mà việc đánh giá hiệu quả dự

án đầu tư phải tuân theo Việc đánh giá đầu tư phải tuân theo các nguyên tắc chung đánh giá hiệu quả dự án đầu tư như sau:

Nguyên tắc

đánh giá

1 - Kết hợp phân tích đánh giá định tính với phân tích đánh giá định lượng

2 - Kết hợp các chỉ tiêu tuyệt đối với các chỉ tiêu tương đối

3 - Đảm bảo tính có thể so sánh của các phương án

4 - Phuơng án đuợc chọn phải đáng giá và có hiệu quả cao nhất

5 - Đảm bảo tính có hiệu quả và độ an toàn tài chính của dự án

6 - Kết hợp giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội

7 - Phải tính đến sự đóng góp của hệ thống hay mạng luới công trình hiện có vào hiệu quả của dự án đang xét

Trang 5

Phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư? Cơ sở khoa học của các phương pháp đó.

Phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư :

Phương pháp đánh giá hiệu quả theo các chỉ tiêu tĩnh

Bản chất chỉ tiêu tĩnh là chúng được tính toan cho một thời đoạn ngắn thường là một năm và không xét đến giá trị tiền tệ theo thời gian Xuất phát khoa học ở đây là lý thuyết lợi ích – chi phí Các chỉ tiêu tĩnh thường được dùng trong trường hợp đánh giá tổng quát tài chính dự án và bao gồm:

Chi phí cho một thời đoạn hoặc tính cho một đơn vị sản phẩm:

Nguyên tắc chung là so sánh chi phí cho một thời đoạn hoặc cho một đơn vị sản phẩm của các phương án khác nhau, phương án nào có chi phí nhỏ nhất là phương án tốt nhất

Nếu xét cho một thời đoạn thì:

C = [ RlV0 + Rc.Vc.K] + Cn - >Min Nếu xét cho một đơn vị sản phẩm thì :

Cd = [ Rv.Vc.K + Cn ] - > Min Trong đó :

Phương pháp đánh giá tài chính DAĐT

Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu tĩnh

Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu động

Chỉ tiêu chi

phí cho một

thời đoạn

hoặc đơn vị

sản phẩm

Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một đơn

vị thời đoạn hoặc đơn vị sản phẩm

Chỉ tiêu mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư

Chỉ tiêu hiệu số thu chi (NPV, NFV, NAV)

Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR

Chỉ tiêu

tỷ số thu chi BCR

Trang 6

Rl – là lãi suất để tính tiền lãi phải trả khi huy động VLĐ vốn cho dự án.

V0 – là vốn lưu đông bình quân trong quá trình lưu động dự án

Rc – là lãi suất để tính tiền lãi phải trả khi huy động vốn có định cho dự án

Cn – là tông rchi phí sản xuất kinh doanh nhưng chưa tính chi phí phải trả lãi sử dụng vốn

Vc – là vốn cố định của dự án

K – là hệ số chuyển đối vốn cố định của dự án sang vốn cố định bình quân chịu lãi suất trong quá trình vận hành sự án, được xác định tùy theo phương pháp tính khấu hao

và hoàn trả vốn đầu tư

N - khối lượng sản phẩm sản xuất ra tính cho một thời đoạn ( công suất thiết kế cho một thời đoạn )

Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một thời đoạn hoặc một đơn vị sản phẩm:

Nguyên tắc chung là phương án nào có chỉ tiêu lợi nhuận lớn nhất là phương án tốt nhất

+ Nếu xét cho một thời đoạn thì:

L = L’ – Tx -> Max + Nếu xét cho một đơn vị sản phẩm thì:

Ldtr = Gd – Cd -> Max Trong đó:

+Ltr là lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp được tính bằng chênh lệch giữa doanh thu (D) và chi phí (C)

Ln = D - C -> Max

Tx – là thuế thu nhập doanh nghiệp tính cho 1 thời đoạn

Gd – là giá bán đơn vị sản phẩm (chưa có thuế VAT)

Cd – là chi phí sản xuất tính cho một đơn vị sản phẩm (chưa có thuế VAT)

Chỉ tiêu mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư:

Nguyên tắc chung là phương án nào có mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư lớn nhất

sẽ là phương án tốt nhất: R = L/( V0+K.Vc) x100>=i và -> max

Trong đó:

V - Vốn đầu tư bỏ ra

Lt – là lợi nhuận ở năm thứ t

Ln - lợi nhuận bình quân một năm

Kt – là khấu hao TSCĐ thu được ở năm thứ t

Trang 7

Kn - khấu hao bình quân một năm

Tuy nhiên thời gian thu hồi vốn đầu tư giản đơn chưa phản ánh chính xác hiệu quả đầu tư của dự án Để khắc phục hạn chế này người ta xác định chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn có tính đến yếu tố thời gian của đồng tiền

Phương pháp xác định thời gian thu hồi vốn đầu tư có tính đến yếu tố thời gian của đồng tiền cũng tuân theo phương pháp chung: cộng dồn và trừ dần

+ Phương pháp cộng dồn: Thời gian thu hồi vốn đầu tu theo phương pháp cộng dồn được thực hiện như sau:

∑( Lt+ Kt) ≥ Iv0

T – là năm thu hồi vốn

+ Phương pháp trừ dần: Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo phương pháp trừ dần như sau:

Nếu Ivi là vốn phải thu hồi ở năm thứ t

( L + K )t là lợi nhuận thuần khấu hao năm t

∆t = Ivt – ( L + K )t là hệ số vốn đầu tu còn lại chưa thu hồi được của năm t phải chuyển sang năm (t+1) để thu hồi tiếp

Ta có: Iv+1 = ∆t × ( 1+i ) hay Ivt = ∆t-1 × ( 1+i )

Khi t -> 0 thì t -> T

Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo yếu tố thời gian của tiền cũng có thể xác định theo tình hình hoạt động của từng năm hoặc bình quân của cả đời dự án

Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo tình hình hoạt động của từng năm:

Tt = Iv0/( Lt+ Kt) Chỉ tiêu này (Tt) cho biết thời gian thu hồi vốn đầu tu nếu chỉ dựa vào khoản thu hồi lợi nhuận thuần và khấu hao của năm t

+ Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo tình hình hoạt động bình quân của cả đời

dự án (Tbq)

Tbq = TVo

(L+K )

Chỉ tiêu này (Tbq) cho biết thời gian thu hồi vốn đầu tư nếu chỉ dựa vào khoản thu hồi bình quân năm (L+K)bq của dự án

Chỉ tiêu này (Tbq) cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn đầu tư

đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm Dự án có hiệu quả tài chính khi T

< tuổi thọ của dự án và ngược lại

Trang 8

Phương pháp đánh giá theo chỉ tiêu động

Bản chất của chỉ tiêu động là chúng được tính toán cho khoảng thời gian dài (lớn hơn một năm) và có tính đến thời gian xuất hiện các chi phí và lợi ích trong kỳ phân tích các phương án Ở đây đồng thời quan tâm vận dụng cả lý thuyết lợi ích – chi phí và lý thuyết giá trị theo thời gian của tiền tệ theo 3 nhóm phương pháp sau:

+ Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi

+ Phương pháp dùng chỉ tiêu tỷ số thu chi

+ Phương pháp dùng chỉ tiêu suất thu lợi nội tại

Bản chất và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội – dự án đầu tư? Sự khác biệt với đánh giá tài chính?

Bản chất của đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư:

Đồng thời với việc đánh giá hiệu quả tài chính, khi đánh giá hiệu quả dự án đầu tư còn phải đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Riêng đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có sử dụng vốn từ nguồn ngân sách nhà nước thì đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội đầu tư là một yêu cầu bắt buộc

Sự bắt buộc đó xuất phát từ yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa quyền lợi của doanh nghiệp với lợi ích quốc gia và yêu cầu phát triển bền vững của nền kinh tế

Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là cần thiết và có lợi cho cả nhà đầu tư và cho cả quản lý vĩ mô

Kết quả đánh giá kinh tế - xã hội giúp nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp nhận dự án và thuyết phục các tổ chức tài trợ trong và ngoài nước có tài trợ vốn, thuyết phục ngân hàng cho vay vốn, thuyết phục người dân nơi dự định thực hiện dự

án ủng hộ Lợi ích kinh tế - xã hội của nhà đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã hội đã bỏ ra khi thực hiện dự án

Ngược lại các nhà tài trợ dựa vào kết quả đánh giá kinh tế - xã hội để chấp nhận tài trợ, nhất là các khoản tài trợ có liên quan đến mục tiêu xã hội – nhân đạo, bảo vệ môi trường

Kết quả đánh giá kinh tế - xã hội là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền cho phép hay không cho phép dự án được đầu tư trên quan điểm bảo vệ lợi ích của toàn xã hội Lợi ích đó có thể đo bằng định tính hoặc định lượng Lợi ích đó phải xét đến không chỉ phương diện kinh tế mà còn trên các phương diện môi trường, xã hội, việc làm…

Bất kể một dự án đầu tư nào thì xã hội cũng phải bỏ ra những chi phí dù nhiều, dù ít

về tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, lao động… mà đáng ra nếu không có dự án đó thì nguồn của cải, lao động đó sẽ dành cho những công việc khác

Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư là việc so sánh, đánh giá một cách

có hệ thống những chi phí và lợi ích do dự án mang lại trên quan điểm của ngành, của địa phương, vùng lãnh thổ hoặc của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư

Trang 9

- Chỉ tiêu giá trị gia tăng thuần túy NVA

Giá trị gia tăng thuần túy là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào, được tính theo công thức:

NVAGDP = ∑

t =1

N

NVA 1 = ∑

t =1

N

¿¿] Trong đó:

NVAGDP: giá trị gia tăng trong nước thuần túy do dự án mang lại

NVAt: giá trị gia tăng trong nước hàng năm của dự án (bao gồm cả phần giá trị gia tăng thuộc sở hữu của bên nước ngoài đầu tư vào Việt Nam)

Ot: tổng giá trị đầu ra hàng năm của dự án

Vt: vốn đầu tư phân bỏ hàng năm của dự án

MIt: tổng giá trị đầu vào vật chất thường xuyên hàng năm của dự án

Nếu xét chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân GNP thì giá trị gia tăng dân thuần là phần tăng thêm của GNP do dự án mang lại trong cả đời dự án:

NVAGNP = ∑

t =1

N

NVA 1 = ∑

1

N

{Ot−(Vt +MIt + RPt )}

Trong đó:

NVAGNP: là tổng giá trị gia tăng GNP do dự án mang lại

RPt: là các khoản chuyển trả nước ngoài hàng năm

- Chỉ tiêu giá trị thặng dư của xã hội:

Trong nội dung của NVA có 2 thành phần là thu nhập của lao động trong nước (W)

và giá trị thặng dư của xã hội (SS)

Giá trị tặng dư xã hội của các dự án được tính như sau:

Cho hàng năm: SSt = NVAt – Wt

Cho cả đời dự án: ∑

t =1

n

SSg= ∑

t =1

n

NVAt– ∑

t =1

n

Wt

- Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và số lao động có việc làm trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tư:

+ Số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số lao động có việc làm ở các dự

án liên đới

+ Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư.

Để tính chỉ tiêu số lao động có việc làm trên một đơn vị giá trị vốn đầu tư cũng tương tự như đối với lao động, ta phải tính số vốn đầu tư trực tiếp của dự án đang xem xét và vốn đầu tư của dự án liên đới

- Chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư (những người làm công ăn lương, những người có vốn hưởng lợi tức, nhà nước thu thuế…) hoặc vùng lãnh thổ.

Chỉ tiêu này phản ánh tác động điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ được phân phối giá trị tăng thêm của dự án Tiếp đến xác định phần giá trị tăng thêm do dự án tạo ra mà nhóm dân cư và vùng lãnh thổ thu được Cuối cùng tính chỉ tiêu

tỷ lệ giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ thu được trong tổng giá trị gia tăng ở năm hoạt động bình thường của dự án So sánh tỷ lệ này của các vùng dân cư

Trang 10

hoặc nhóm lãnh thổ với nhau sẽ thấy được tình hình phân phối giá trị gia tăng do dự án tạo ra giữa các nhóm dân cư và vùng lãnh thổ trong nước

- Chỉ tiêu mức đóng góp cho ngân sách của một đồng vốn: được tính bằng mức đóng góp cho ngân sách cho tổng vốn đầu tư.

- Chỉ tiêu ngoại hối ròng (tiết kiệm ngoại tệ).

Một nhiệm vụ cơ bản khi xem xét lợi ích kinh tế - xã hội của dự án là xem xét tác động của dự án đến cán cân thanh toán quốc tế của đất nước thông qua việc xác định chỉ tiêu mức tiết kiệm nhoại tệ của dự án

Chỉ tiêu này được xác định qua công thức:

P(FE) = ∑

i=1

n

P(FE)ivp

P(FE) = ∑

j=1

m

i=1

n

P(FE)ipv

Trong đó:

P(FE) – tổng chênh lệch thu, chi ngoại tệ cả đời dự án tính theo mặt bằng hiện tại I = 1.2.3….,n – các năm đời của dự án; J = 1,2,3… m – tổ hợp các dự án đang xem xét và các dự án liên đới

Nếu P(FE) > 0 là dự án tích cực làm tăng nguồn ngoại tệ của đất nước

Nếu P(FE) < 0 là tác động tieeuc ực làm giảm ngồn ngoại tệ của đất nước

- Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế.

Chỉ tiêu này cho phép đánh giad khả năng cạnh tranh của sản phẩm do dự án sản xuất ra trên thị trường quốc tế

Phương pháp xác định chỉ tiêu này như sau:

IC =

i=1

n

P( fe) ipv

i=1

n

DRipv

IC – chỉ tiêu biểu thị khả năng cạnh tranh quốc tế

DR – các đầu vào trong nước dung để sản xuất sản phẩm xuất khẩu hoặc thay thế nhập khẩu

- Những tác động khác của dự án:

+ Những ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng: sự gia tăng năng lực phục vụ của kết cấu

hạ tầng sẵn có, bổ sung năng lực phục vụ mới của kết cấu hạ tầng mới

+ Tác động đến môi trường: đây là ảnh của các đầu vào, đầu ra của dự án đến môi trường

+ Nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, trình độ nghề nghiệp của người lao động, trình độ quản lý của nhà quản lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao thu nhập của người lao động

+ Những tác động về xã hội, chính trị và kinh tế khác

Sự khác biệt với đánh giá tài chính:

Ngày đăng: 27/05/2016, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w