1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

54 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 604,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân tộc Aryan Ấn Độ cư trú ở vùng Panjab, ngày một phồn thịnh, nhất là về mặt tư tưởng thì rất phát đạt, vì thế, dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển đầu tiên, tức là kinh điển Rg Ve

Trang 1

LƯỢC SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

(Giáo án dành cho khoa đào từ xa khóa II - Giảng viên Thích nữ Hương Nhũ)

Giới thiệu đôi nét về Ấn Độ

Hiện nay, Ấn Độ là nước đông dân thứ nhì trên thế giới, với dân số trên một tỉ người, và đồng thời lớn thứ bảy về diện tích Cộng hoà Ấn Độ xuất hiện trên bản đồ thế giới vào ngày 15 tháng 8 năm 1947 Sự thiết lập nhà nước Ấn Độ là đỉnh cao của cuộc đấu tranh của những người tại Nam Á để thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Anh Ấn

Độ là nơi sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới: Ấn Độ giáo (Hindu),

Phật giáo, đạo Jaini và đạo Sikh

Trước ngày độc lập, Ấn Độ là một bộ phận trong tiểu lục địa Ấn Độ thuộc Anh Việc thành lập quốc gia này có công rất lớn của Mohandas Gandhi, người được ca tụng

là "người cha của Ấn Độ" Ông đã thuyết phục chính phủ Anh trao trả độc lập cho Ấn

Độ bằng con đường hòa bình và được chấp nhận Nhưng Anh đã quyết định tách Ấn

Độ thành hai quốc gia: một có đa số dân theo đạo Hindu là Ấn Độ; một có đa số dân theo Hồi giáo là Pakistan, (nước này lại gồm hai phần: phần phía đông Ấn Độ gọi là Đông Pakistan (sau này là Bangladesh), phần phía tây gọi là Tây Pakistan (Cộng hòa Hồi giáo Pakistan ngày nay) Hai phần lãnh thổ này cách nhau trên 2000 km băng qua lãnh thổ Ấn Độ.)

Về địa lý, Toàn cõi Ấn Độ là một đại lục, chiếm gần hết bán đảo Ấn Độ, đây là một quốc gia Nam Á, phía Bắc của Ấn Độ là dãy Himalaya cao lớn và dài tạo nên một hàng rào cô lập các vùng bình nguyên của xứ này với các vùng còn lại Để liên lạc với bên ngoài thì chỉ có con đường núi xuyên qua Afghanistan Hai mặt Đông Nam và Tây Nam giáp Ấn Độ Dương Ấn Độ (tiếng Hindi: Bharat; Trung

Quốc gọi là: Thiên Trúc (天竺), Quyên Độc (身毒 Ấn Độ có ranh giới với Pakistan, Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan và Afghanistan Ấn Độ có nền văn

minh sông Ấn (Indus) phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn năm Hymalaya dài 2600km,

trong đó có tới hơn 40 ngọn cao hơn 7000m, quanh năm tuyết phủ, Hymalaya theo tiếng Phạn có nghĩa là nơi cư trú của tuyết, theo người Ấn Độ cổ Hymalaya cũng là nơi

cư ngụ của các đấng thần linh Phía dưới là vùng đồng bằng Ấn - Hằng Sông Hằng bắt

Trang 2

nguồn từ Hymalaya, chảy qua thành phố Varanasi (Benares) từ ngàn đời nay là dòng sông linh thiêng của Ấn Độ

Nhìn chung điều liện thiên nhiên của xứ Ấn rất phức tạp Địa hình vừa có nhiều núi non trùng điệp, nhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú, có vùng khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, có vùng quanh năm tuyết phủ, lại có những vùng sa mạc khô khan, nóng nực… Tính đa dạng khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu Ấn Độ cũng là một dấu ấn trong hình thành phong cách sống của người dân Ấn

Chương thứ Nhất

XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI TIỀN PHẬT GIÁO

(Khoảng từ cuối thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên

đến thế kỷ thứ V trước Công nguyên)

1 Nền văn minh Ấn Hà (Indus Civilization)

Nền văn minh sớm nhất của dân tộc Ấn Độ phải kể đến nền văn minh sông Ấn (Indus river) Nhiều ý kiến cho rằng giống người Dravidian là dân bản địa xưa nhất và nổi bật nhất trong số các dân tộc ở Ấn độ, là chủ nhân của nền văn hóa Indus Họ thờ

nữ thần sáng tạo đất đai và dân tộc Nền văn minh giai đọan này không thua gì nền văn minh Lưỡng hà vùng Trung Á và văn minh nhà Thương của Trung Hoa thể hiện qua di tích khảo cổ những thành thị thủ công nghiệp và thương nghiệp lớn, xuất hiện từ khoảng giữa thiên niên kỷ III đến đầu thiên niên niên kỷ II trước công nguyên Xã hội

Ấn Độ khi đó đã có sự phân chia giai cấp, dân cư biết chế tạo và sử dụng đồ dùng bằng đồng Ngành kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Từ cuối thiên niên kỷ thứ II BC, nền văn hóa sông Ấn bắt đầu suy tàn Người ta giải thích đó là do sự xâm nhập tàn phá của nhóm người Aryans

2 Sự xâm nhập của nhóm người Aryans

Văn hóa Ấn Độ cũng đã phát triển tới một trình độ khá cao, do tư tưởng sáng tạo của giống người Aryan Nguyên thủy, giống người Aryan cư trú tại miền Trung ương Á

Tế Á, lấy nghề du mục để sinh sống Vào khoảng 3000 năm trước kỷ nguyên, giống người này vượt qua dãy núi Hindukush di cư xuống vùng Đông nam Á Tế Á; một phần

Trang 3

của giống người này di chuyển về phía Tây nam thuộc Ba Tư (Iran), một phần thì tiếp tục di chuyển về phía Đông nam, xâm nhập vào phía Tây bắc nước Ấn Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lĩnh vùng Panjab (Ngũ hà địa phương), thuộc thượng lưu sông Indus, và giống người này được gọi là dân tộc Aryan Ấn Độ

Dân tộc Aryan Ấn Độ cư trú ở vùng Panjab, ngày một phồn thịnh, nhất là về mặt

tư tưởng thì rất phát đạt, vì thế, dân tộc này đã chế tác được bộ kinh điển đầu tiên, tức

là kinh điển Rg Veda (Lê Câu Phệ Đà) 40 quyển, là nguồn tư tưởng văn hóa ở thời kỳ thứ nhất của Bà La Môn giáo, trong khoảng 1500 -1000 năm trước kỷ nguyên

Nội dung của kinh điển Rg Veda chỉ là những bài ca tán có tính cách thần thoại, nhưng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh quan, tư tưởng Rg Veda là tư tưởng mở đầu cho nền văn minh và triết học Ấn Độ, và cũng là cơ sở để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai

Nguồn tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà La Môn giáo là thời đại Bràhmana (Phạm thư), trong khoảng 1000 - 800 năm trước kỷ nguyên Trong thời kỳ này, dân tộc Aryan Ấn Độ lần lượt tiến về phía Đông, chiếm cứ khu đất đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng Hà (Gange), lấy nghề canh nông làm mục tiêu, đặt ra chức tước vua quan, bắt những người khác giống làm nô lệ, chia xã hội thành bốn giai cấp khác nhau: Giai cấp Bà-la-môn (Bràhmana), chủ trương việc nghi lễ tôn giáo; giai cấp Sát-đế-lợi (Ksatriya) là giai cấp vua quan, nắm quyền thống trị; giai cấp Tỳ-xá (Vaisya) là giai cấp bình dân, nông, công, thương; giai cấp Thủ-đà-la (Sùdra) là giai cấp tiện dân, đời đời làm nô lệ Vì giai cấp Bà-la-môn chủ trương công việc lễ nghi, tôn giáo, nên đã chế tác ra bộ kinh điển Bràhmana, để chú thích và thuyết minh kinh điển Veda

Nội dung của sách Bràhamana thì hoàn toàn là một pho sách có tính cách thần học Tư tưởng triết học của Bràhmana thì khai triển theo thứ tự trong ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất lấy Prajapati (Sinh sản) làm trung tâm Tư cách của Prajapati là thần tối cao, tạo ra vũ trụ, trời đất và hư không, rồi lần lượt tạo ra Thái Dương thần, Phong thần, Hỏa thần, con người và vạn hữu, nên giai đoạn này thuộc về quan niệm sáng tạo Giai đoạn thứ hai, lấy Bràhaman (Đại ngã) làm trung tâm Bràhman thay thế Prajapati để nắm quyền chi phối các vị thần Giá trị của Bràhman đứng trên hai phương diện, một phương diện thì duy trì cái bản chất bất biến bất động của nó, mặt khác thì hoạt động theo hai yếu tố là Nàma (Danh) và Rùpa (Sắc) để khai triển vạn hữu Giai đoạn thứ ba, lấy Àtman (Tự ngã) làm trung tâm Bràhaman và Àtman tên tuy khác nhau nhưng cùng một thể Bràhman thuộc về phương diện vũ trụ; Àtman thuộc về phương diện tâm lý

Trang 4

Căn cứ vào phương diện tâm lý thì linh hồn bất diệt, nghĩa là Àtman khi lìa thể xác thì linh hồn được quy thuộc về Bràhman

Nguồn tư tưởng ở thời kỳ thứ ba của Bà La Môn giáo là triết học Upanishad (Áo nghĩa thư) Tiếp sau tư tưởng Bràhman là triết học Upanishad được thành hình trong khoảng 800 - 600 năm trước kỷ nguyên Nội dung tư tưởng triết học này chủ trương thuyết PHẠM NGÃ ĐỒNG NHẤT (Bràhman, Àtman ailkyam), và lý tưởng giải thoát

Lý tưởng giải thoát chia làm ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là việc đi tìm giải thoát, nhưng giải thoát phải tìm ở tự nơi mình, không phải là tìm ở bên ngoài, cho nên nhân của giải thoát là tự giác, nhân của luân hồi là bất giác Giai đoạn thứ hai, muốn thoát luân hồi cần phải an trụ cái bản tính, và bồi dưỡng phần trí tuệ Giai đoạn thứ ba, phải noi theo phương pháp tu trì để mong phát minh trực quán trí, tức là phép tu Du-già (Yoga) Theo thứ tự như thế mà tu, dần dần chân ngã sẽ toàn hiện, tới lúc chân ngã toàn hiện, thì Àøtman trở thành Bràhman, tức là giải thoát, chấm dứt luân hồi

3 Tư tưởng triết học thời kỳ Veda

Chữ Veda bắt nguồn từ văn tự "vid", nghĩa đen là "tri thức", "hiểu biết" Nó cũng được dùng chung với nghĩa là "thánh kinh", là "sự sáng suốt cao nhất" Có thể nói Veda

là một tác phẩm tổng hợp, có tính hỗn hợp và có nhiều cách phân chia

Kinh Veda là những bộ kinh cổ nhất của Ấn độ và của nhân loại Đó là một bộ sách thu lượm tất cả những câu ca dao, vịnh phú, những tư tưởng, quan điểm, những tập tục, lễ nghi của nhiều bộ lạc người Aryan

Giai đoạn từ khoảng 2000 năm tr.CN đến thế kỷ VIII tr.CN

+Rig – Veda: Rig, có nghĩa là "tán ca", tán tụng Veda Đây là bộ kinh cổ nhất của nền văn hoá Ấn Độ bao gồm 1017 bài, sau được bổ sung thêm 11 bài dùng để cầu nguyện, chúc tụng công đức của các vị thánh thần

+Sama - Veda: Tri thức về các giai điệu ca chầu khi hành lễ, gồm 1549 bài

+Yajur - Veda: Tri thức về các lời khấn tế, những công thức, nghi lễ khấn bái trong hiến tế

+ Atharva – Veda: gồm 731 bài văn vần là những lời khấn bái mang tính bùa chú, ma thuật, phù phép nhằm đem lại những điều tốt lành cho bản thân và người thân, gây tai họa cho kẻ thù

Trang 5

Nhìn chung trong các tập Veda thời kỳ này tập trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học Tuy nhiên qua các tập Veda đã thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong

đó người ta đã thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và các nghi lễ

Giai đoạn từ thế kỷ VIII tr.CN đến thế kỷ V tr.CN

+ Brahmana: (gọi là Phạn chí hay kinh Bàlamôn), gồm những bài cầu nguyện, giải thích các nghi lễ của Veda

+ Aranyaka: Nghĩa là suy tưởng trong rừng - kinh rừng, giải thích ý nghĩa huyền

bí của những nghi lễ Veda và phát hiện những ý nghĩa tượng trưng cao siêu của Veda

+ Kinh Upanishad : Là những kinh sách bình chú tôn giáo - triết học, gồm 200 bài kinh giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của những tư tưởng thần thoại, tôn giáo Veda

Nó thể hiện một tinh thần mới là giải phóng ý thức khỏi sự ràng buộc của nghi lễ và bàn đến những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự Đây cũng là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh Veda, được biên soạn (trong khoảng thời gian 800 – 600 năm trước kỷ nguyên) bởi các tông phái, các đạo sĩ trong những hoàn cảnh và địa phương khác nhau Nội dung tư tưởng triết học này chủ trương thuyết ―Phạm ngã đồng nhất ‖ (Bràhman, Àtman ailkyam), và lý tưởng giải thoát Lý tưởng giải thóat chia làm

ba giai đoạn

- Giai đoạn 1: là việc đi tìm giải thoát, nhưng giải thoát phải tìm ở tự nơi mình, không phải tìm ở bên ngoài, cho nên nhân của giải thoát là tự giác và nhân của luân hồi là bất giác

- Giai đoạn 2: là muốn thoát luân hồi cần phải an trụ cái bản tính, và bồi dưỡng phần trí tuệ

- Giai đoạn 3: là phải noi theo phương pháp tu trì để mong phát minh trực quán trí, tức là phép tu Du già (Yoga) Theo thứ tự như thế mà tu, dần dần chân ngã sẽ toàn hiện, tới lúc chân ngã toàn hiện, thì Àtman trở thành Bràhman, tức là giải thoát chấm dứt luân hồi

Trang 6

4 Nguồn gốc giai cấp và thuyết Tứ Hành Kỳ

a Nguồn gốc hệ thống đẳng cấp

- Đẳng cấp ở Ấn đã trải qua nhiều thay đổi trước khi trở thành có hệ thống như hiện nay Về mặt văn bản, đẳng cấp được đề cập đầu tiên trong Rg-

Veda, bản kinh cổ nhất của Bà La Môn giáo Theo Rg-Veda thì bốn đẳng

cấp đều được sinh ra từ một nguồn, từ trên cùng cơ thể của con người sơ

thủy (Purusa): Bà La Môn được sinh ra từ miệng; Sát Đế Lợi sinh ra từ tay; Phệ Xá sinh ra từ bắp vế; và Thủ Đà La sinh ra từ chân (Rg-Veda,

10.90).

Từ khởi đầu, sự phân chia cao thấp giữa các đẳng cấp được dựa theo vị trí trên cơ thể của con người sơ thủy mà từ đó các đẳng cấp được sinh ra Đẳng cấp sinh ra từ miệng, do ở gần đầu nhất, nên được xếp cao nhất; và ngược lại, đẳng cấp sinh ra từ chân thì được coi là thấp nhất Như vậy theo

Rg-Veda, cả bốn đẳng cấp đều xuất phát từ một nguồn và có những liên hệ

với thần linh

Có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc hệ thống đẳng cấp của Bà

La Môn giáo(6) Nếu xem xét những gì được mô tả trong các thánh điển

của tôn giáo này, ta thấy có hai vấn đề: 1 Đẳng cấp là một vấn đề ―siêu

hình‖, vì nó được cho là do thần linh tạo ra, hay nói cách khác, nó có

nguồn gốc từ thần linh, từ ―Con người sơ thủy‖ 2 Đẳng cấp được phân

chia dựa trên đặc điểm sinh học, tức dựa trên sắc da và tính cách của từng nhóm người Dựa trên sắc da, nhóm người có da trắng là các Bà La Môn; nhóm người có da đỏ là Sát Đế Lợi; nhóm người có da vàng là Phệ Xá; và nhóm người có da đen thuộc về Thủ Đà La Về đặc tính, các Bà La Môn thường được cho có các đặc điểm như thông minh, chân thật, thanh sạch

và những đặc tính tốt khác Sát Đế Lợi và Phệ Xá thì được cho có các đặc tính như dũng cảm, kiêu hãnh, hăng hái… Đẳng cấp cuối cùng, Thủ Đà

La, bị gán cho các đặc tính xấu như ngu muội, dơ bẩn và thiếu tính sáng tạo

Về phương diện lịch sử xã hội, hệ thống đẳng cấp được cho là sản phẩm của những người Aryan khi những người này xâm chiếm Ấn Độ Trước khi những người Aryan đến, có nhiều tộc người khác nhau sinh sống tại

Ấn, trong đó tộc người Dravidian chiếm đa số Sau khi chinh phục Ấn Độ,

Trang 7

trong quá trình phân bổ lao động, những người Aryan đã phân chia cộng đồng của họ thành ba nhóm là Sát Đế Lợi, Bà La Môn và Phệ Xá để đảm trách những công việc khác nhau Về sau, những người Aryan đã lập nên một đẳng cấp thứ tư, đó là Thủ Đà La, những cư dân bản địa được người Aryan chấp nhận, hoặc những người pha trộn huyết thống giữa Aryan và người bản địa Ngoài ra, còn có một đẳng cấp thứ năm là Panchama, những người tiện dân, là những cư dân bản địa mà người Aryan không thừa nhậnTrong Upanishad, Bà La Môn thậm chí được đồng nhất với Phạm thiên, và như vậy Bà La Môn cũng được xem là nguồn gốc mà từ đó tất cả các đẳng cấp khác đã sinh ra Do đó, các đẳng cấp khác không được xâm phạm Bà La Môn, vì xâm phạm Bà La Môn là xâm phạm nguồn gốc của mình Sát hại một Bà La Môn bị xem là tội lỗi lớn nhất Các đẳng cấp khác, đặc biệt là Sát Đế Lợi, phải có nhiệm vụ bảo vệ đẳng cấp Bà La Môn Như vậy 4 giai cấp đã hình thành như sau:

- Thứ nhất: Giai cấp Bà la môn ( Bràhmana) tức giới tăng lữ đảm trách tín ngưỡng

-Thứ hai: Giai cấp Sát đế lỵ (Khattiya) tức chiến sĩ, quý tộc nắm quyền lãnh đạo, thống trị lãnh thổ

-Thứ ba: Giai cấp Phệ xá (Vessas) tức là gồm cả thương gia và địa chủ

- Thứ tư: Giai cấp Thủ đà la (Shadra) tức thợ thuyền, tôi tớ, là giai cấp tiện dân, suốt đời làm nô lệ, phục vụ cho giai cấp trên

 Lưu ý: Chỉ có ba giai cấp đầu là được phép tụng đọc các Veda, còn giai cấp Shadra

bị cấm đoán hoàn toàn

b Thuyết Tứ hành kỳ

Cùng với chế độ giai cấp thì tư tưởng Bràhama cũng chủ trương mẫu thức lý tưởng về cuộc sống theo tư tưởng Veda Theo triết lý này, để mỗi cá nhân có thể đạt đến sự mẫu mực, đạo đức, cũng như về con đường đi đến giải thoát thì đời người được chia thành bốn giai đoạn cụ thể sinh hoạt, gọi tắt là Thuyết Tứ Hành Kỳ:

 Phạn hành kỳ: đây là thời gian học tập Kinh điển Veda (từ 6 tuổi đến 12 tuổi)

 Gia trú kỳ: thời kỳ sống ở gia đình

Trang 8

 Lâm thế kỳ: Là lúc phải nương náu ở trong rừng và nghiêm chỉnh thực hành các quy định về cúng bái, nghiêm khắc khổ hạnh và tu tập thiền định

 Độn thế kỳ: Vân du bốn phương, sống hạnh khất sĩ và mong cầu đạt được giải thoát

Chương thứ Hai GIAI ĐOẠN NGUYÊN THỦY PHẬT GIÁO

(Từ thế kỷ VI trước Công nguyên đến thế kỷ X sau Công nguyên)

1 Tình hình chính trị xã hội

Đây là thời kỳ nền kinh tế, xã hội nô lệ Ấn độ đã phát triển cao, nhưng vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của tổ chức công xã nông thôn, cùng sự thống trị của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấp Trong lĩnh vực tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Các trào lưu triết học thời kỳ này với khuynh hướng đa dạng, đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau, vừa mang tính chất triết học, vừa mang đậm màu sắc tôn giáo

Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo lên đến đỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Veda Từ đó đã hình thành cách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trường phái triết học thành hai phái chính:

- Phái triết học chính thống (Astika) thừa nhận uy thế tối cao của kinh Veda của đạo Bàlamôn, bao gồm 6 trường phái chính là: 1)Samkhya, 2) Mimamsa,3) Vaisesika, 4) Nyaya, 5) Yoga và 6)Védanta

- Phái triết học bác bỏ uy thế tối cao của kinh Veda đạo Bàlamôn gồm 3 trường phái chính là: 1) Các trường phái triết học vô thần, duy vật trong phong trào mới đòi tự

do tư tưởng ở Đông ấn và trường phái triết học duy vật tiêu biểu Lokayata hay chủ nghĩa duy vật khoái lạc như Charvaka; 2) Phật giáo và 3) Đạo Jaina Ngoại trừ Phật giáo là một tôn giáo mang tính giác ngộ và giải thoát hoàn toàn, còn trường phái

Trang 9

Lokayata là trường phái triệt để duy vật, vô thần, các trường phái khác đều mang tính chất nhị nguyên luận hay thiếu triệt để

2 Tư tưởng triết học của sáu trường phái chính và những trường phái triết học phủ nhận uy thế của Veda

i Trường phái Samkhya (Số luận): Khai tổ là Kapia (Ca Tỳ La) Phái này chủ tương Nhị nguyên luận là tinh thần và vật chất Vật chất là yếu tố

để thành lập vạn vật, đối lập với vật chất là vô số linh hồn Linh hồn thì họat động tự

do kết hợp với vật chất để tạo thành sinh vật Lý luận về bản nguyên vũ trụ là tư tưởng triết học trung tâm của trường phái này Họ cho rằng loại nào có nguyên nhân của loại

ấy với luận điểm nổi tiếng " Trồng Sali đượcSali, trồng Vrihi được Vrihi" Với họ bản chất của linh hồn là thuần túy chủ quan không biến động, vật chất là khách quan luôn luôn biến hóa dao động, nương theo ba nguyên chất là ―sattva‖ (hỷ), ―Rajas‖ (ưu) và

―Tamas‖ (ám) Ba nguyên nhân này gọi là ba đức (guna) Căn cứ vào sự phối hợp của

ba đức này để thuyết minh hiện tượng vạn hữu

ii Trường phái Mimansa (Nhĩ Man Tát Phái) Khai tổ là Jaimimi (Sà Y Nhĩ Ni)

Kinh điển của triết học Mimansa là "Mimansa - Sutra" Một đại biểu lớn của trường phái này là Sabara, người viết chú giải cho "Mimansa - Sutra" Phái này chú trọng về phương diện luân lý triết học, phục tùng mệnh lệnh và cấm chế của kinh điển veda, chủ trương thuyết ―Âm thanh thường trụ‖ Về nguồn gốc thế giới, phái Mimansa

có quan điểm duy vật cho rằng thế giới được sinh ra từ các nguyên tử (Anu)Phái Mimansa coi đời người là khổ và vấn đề đặt ra là phải thoát khỏi nỗi khổ ấy Họ chủ trương thoát khổ bằng cách duy trì các nghi lễ, đặc biệt là lễ "Hiến sinh" Khi giải quyết mối quan hệ giữa tinh thần với thể xác, họ lại đứng trên lập trường duy tâm coi tinh thần tồn tại mãi mãi, còn thể xác thì mất đi

iii Trường phái Védanta (Phệ Đàn Đa Phái) Khai tổ là Bàdarayana (Bà Đạt La Gia Na)

Tư Tưởng triết học của phái này chủ trương rằng Bràhman là tổng nguyên lý của

vũ trụ, vạn hữu, là duy nhất, là siêu việt Các nhà tư tưởng Védanta hệ thống các tư tưởng của Upanishad - tác phẩm được coi là kết thúc của Veda (Védanta nghĩa là "kết thúc Veda") Tác phẩm Brahman - Sutra được coi là kinh điển của Védanta, nhưng nội dung không rõ ràng, khá mơ hồ nên có nhiều cách giải thích khác nhau.Cách luận giải

Trang 10

có ảnh hưởng lớn nhất là " thuyết Védanta nhất nguyên" Đó là triết học nhất nguyên luận duy tâm chủ quan cho rằng chỉ có Brahman, tức ý thức thuần túy là tồn tại duy nhất, mà Brahman lại được đồng nhất với "Cái tôi" (Atman) Thế giới vật chất không tồn tại hiện thực, hình ảnh của nó chỉ là ảo ảnh do "Vô minh" sinh ra Đại biểu cho thuyết này là Sankara, người viết chú giải cho Brahman - Sutra.Các phái Védanta sau này lại giải thích Brahman - Sutra theo quan điểm hữu thần, hay duy tâm khách quan

Họ coi Brahman là linh hồn vũ trụ, vĩnh hằng; còn Atman là linh hồn cá thể, một bộ phận của linh hồn tối cao, tưc Thượng đế Brahman

iv Trường phái Yoga (Du già phái) Khai tổ là Patanjali (Bát Tử

Xà Lê)

Yoga xuất hiện rất sớm, từ nền văn minh Indus Cuốn Yoga - Sutra được coi là của Patanjali(Thế kỷ II tr.CN).Tư tưởng cốt lõi của trường phái này là sự thừa nhận nguyên lý hợp nhất vũ trụ nơi mỗi cá thể Yoga còn là phương pháp dưỡng sinh được xây dựng trên cơ sở nhận thức về thế giới và con người Phái này chú trọng ở pháp môn thiền định để mong cầu giải thoát, theo phương pháp thực tu chia làm tám giai đoạn

- Cấm chế (Yama): Giữ các điều răn (giới), bao gồm ngũ giới: Sát sinh, đạo, vọng ngữ tà dâm,của riêng

- Khuyến chế (Niyama): Thanh tịnh trong học tập kinh điển- Tọa pháp (Anasa): Giữ vị trí thân thể đúng đắn

- Điều tức (Pranayama): Giữ hơi thở đều, sâu, nhịp nhàng.- Chế cảm (Pratyahara): Điều khiển cảm giác sao cho lúc ngồi thiền, giác quan được thoải mái

- Chấp trì (Dharana): Tập trung tư tưởng

- Thiền định (Dhyana): Giữ tâm thống nhất

- Đẳng trì hay Tam muội (Samadhi): Đưa tâm đến hư không, chứng được cảnh giới sán lạn

Phương pháp tu luyện này sẽ sản sinh ra những năng lượng lớn mà những người bình thường không đạt được Nhiều phái cho rằng, nếu thực hiện các phương pháp Yoga thì sẽ có sức mạnh siêu nhiên

Trang 11

v Trường phái Nyaya (Chính lý phái)Thủy tổ tên là Aksapàda (Túc Mục)

Tư tưởng của phái triết học này thuộc Đa nguyên luận, lấy kinh điển Nyàya Sutra làm căn cứ Kinh này có 538 câu Về quan niệm nhân sinh lấy phương châm lìa khổ tới chỗ giải thoát làm mục đích Phái này cho rằng con người được sinh ra nơi trần thế là

có đầy dẫy sự khổ mà nguyên nhân được sinh ra (janma) là do tác nghiệp (pravrtti), tác nghiệp làm cơ sở cho phiền não (dosa), phiền não là căn bản của vô tri (mithyajnàna) Vậy nên muốn lìa khổ phải tiêu diệt vô tri, tiêu diệt được vô tri tức là tới cảnh giới an vui giải thóat (nihsreyasa) Lý thuyết này tương tự với thuyết mười hai nhân duyên trong Phật giáo Về phương thức nghị luận thì thuyết biện luận của phái Nyaya có đóng góp quan trọng về lôgic hình thức Họ đưa ra hình thức biện luận gọi là "Ngũ đoạn luận" gồm năm mệnh đề: 1 Tôn (Pratijanà)), 2 Nhân (Hetu), 3 Dụ (Udàhadana), 4 Hợp ( Upanaya), 5 Kết (Nigamana) Về sau phương thức luận lý này được phủ chính những chỗ chưa hòan bị qua tay hai bậc thạc học trong Phật giáo là Thế Thân và Trần

Na, và được chuyển làm môn luận lý học trong Phật giáo

vi Trường phái Vaisésika (Thắng luận phái) Đại biểu cho phái Vaisesika là Kananda, tác giả của "Vaisesika - Sutra" gồm

370 câu, Trong đó có nêu ra sáu phạm trù là: Thực cú nghĩa, Đức cú nghĩa, Nghiệp

cú nghĩa, Đồng cú nghĩa, Dị cú nghĩa và Hòa hợp cú nghĩa, sáu nguyên lý kể trên tức là sáu phạm trù căn bản để thuyết minh và lý giải vạn hữu Nhưng tóm lại vạn hữu đều do ba nguyên lý ―Thực, Đức, Nghiệp‖ (Thể, tướng, dụng) kết hợp lại mà thành lập Về phương diện nhân sinh quan, phái này cho con người được được thành lập bởi tám yếu Àtman, Manas (ý), Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn, Thân căn, Nghiệp lực đây là yếu tố cuối cùng, bởi nghiệp lực huân tập nên

bị luân hồi, muốn thóat luân hồi cần phải diệt nghiệp lực, muốn diệt nghiệp lực cần phải tu trì khổ hạnh để mong đạt tới cảnh giới thuần túy của Àtman, đó là lý tưởng giải thoát

vii Trường phái triết học Lokayata và phong trào tư do tư tưởng

ở Đông ấn Trong học thuyết về tồn tại, phái Lokayata cho rằng tất cả mọi sự vật và hiện tượng trong vũtrụ đều do bốn nguyên tố đất, nước, lửa và không khí cấu thành Chúng có khả năng tự tồn tại, tựvận động trong không gian để tạo thành vạn vật,

Trang 12

kể cả con người Tương ứng với bốn nguyên tố là bốn nguyên tử đất, nước, lửa và không khí tồn tại ngay từ đầu, không thay đổi và không thể tiêu diệt được Về mối quan

hệ giữa vật chất và ý thức, họ giải thích trên quan điểm duy vật thô sơ, mộc mạc.Theo

họ, ý thức là thuộc tính cố hữu của cơ thể; rời khỏi nhục thể thì người ta không thể có ý thức.Khi con người chết đi, thể xác tan ra thì ý thức về "cái tôi" cũng hết

Về nhận thức luận và lôgic học, phái Lokayata mang tính chất duy cảm, thừa nhận cảm giác là nguồn gốc duy nhất xác thực của nhận thức Chỉ có cái gì cảm giác biết được thì mới tồn tại Các giác quan có thể tri giác được sự vật bởi vì bản thân các giác quan cũng gồm các nguyên tố giống như các sự vật Theo họ, suy lý, kết luận hay những chứng minh của kinh Véđa đều là những phương pháp sai lầm của nhận thức Từ

đó, họ phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, linh hồn.Về đạo đức học, họ phê phán những thuyết tuyên truyền cho sự chấm dứt khổ đau bằng cáchkiềm chế mọi ham muốn, dục vọng và hy vọng cuộc sống tốt đẹp ở thế giới bên kia sau khi chết Họ chủ trương hãy

để cho mọi người sống, hoạt động, hưởng thụ tất cả mọi thứ trong cuộc đời nên đạođức học của họ được gọi là "chủ nghĩa khoái lạc"

viii Triết học Phật giáo

Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ

VI tr.CN ở miền Bắc Ấn độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa Ấn độ với Nêpan hiện nay Đạo Phậtra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ đó

Thế giới quan Phật giáo nguyên thủy chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng chất phác, phủ nhận tư tưởng về đấng sáng tạo Brahman, cũng như phủ nhận

"Cái tôi" (Atman) và dưa ra quan niệm "Vô ngã" (Anatman) và "Vô thường";

Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp" trong Upanishad, Phật giáo đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana).Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Đức Thích Ca Mâu Ni đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên" để giúp giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi Đây là triết lý nhân sinh chủ yếu của đạo Phật

Trong giai đoạn đầu, thế giới quan nhân duyên của Phật giáo đã có những yếu tố duy vật và biện chứng tự phát Về lĩnh vực chính trị - xã hội, đạo Phật là tiếng nói phản

Trang 13

kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ xã hội bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nêu lên ước nguyện giải thoát con người khỏi nỗi bi kịch cuộc đời, khuyên dạy mọi người sống có đạo đức với từ bi

ix Trường phái triết học Jaina Jaina là một tôn giáo xuất hiện gần đồng thời với Phật giáo Người sáng lập ra trường phái nàylà là Maharvira, có hiệu là Jaina (nghĩa là Chiến thắng).Triết học cơ bản của Jaina là học thuyết và "cái tương đối" Theo thuyết nay, tồn tại đầu tiên là bất biến,

vô thủy, vô chung, sự biến đổi của vạn vật là không cùng; thế giới vạn vật là sự thống nhất của cái biến đổi và cái bất biến Cái vĩnh hằng là vật chất; cái không vĩnh hằng là các dạng của vật chất (Thí dụ: Đất sét thì không thay đổi, nhưng cái bình bằng đất sét thì có thể thay đổi) Điều đóđược thể hiện qua các khái niệm: 1 Tồn tại; 2 Không tồn tại; 3 Vừa tồn tại vừa không tồn tại; 4.Không thể miêu tả; 5 Tồn tại và không thể miêu tả; 6 Không tồn tại và không thể miêu tả; 7 Tồn tại và không tồn tại và không miêu tả được

mẹ Ngài là Hoàng hậu Ma da Nước Ca tỳ la vệ tức là xứ Pipaova ở phía Bắc thành Ba

la nại (Bénares) ngày nay

Thái tử sinh lúc mặt trời vừa mọc, nhằm ngày trăng tròn tháng hai Ấn Độ, tức là ngày mồng tám tháng tư lịch Tàu Ngài sinh vào khoảng 563 năm trước Tây lịch Theo tục lệ Ấn Độ đàn bà có chồng lúc sinh nở phải trở về nhà cha mẹ Bà Hoàng hậu Ma da trở về ngang qua vườn Lâm tỳ ni của vua Thiện Giác thì sinh Ngài dưới cây vô ưu Khi mới sinh, Ngài đứng trên hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, miệng nói: "Trên trời dưới trời chỉ một mình ta là lớn." Sau khi sinh Thái Tử được bảy ngày thì Ma Da phu nhân từ trần Thái Tử được kế mẫu là Ma ha Ba Xà Ba Đề (Prajàpati) trông nom nuôi nấng

Khi lên 8 tuổi, Thái Tử được trang bị kiến thức văn võ song toàn Để tiếp xúc với cuộc đời, đã ba lần Thái Tử được phép vua cha cho ra ngoài thành để quan sát cuộc

Trang 14

sống dân gian và tìm hiểu xã hội Thái Tử đã mục kích thấy những cảnh tương tàn tương sát của các loài sâu bọ chim muông, những cảnh già, ốm, chết của nhân thế Vì vậy, nên Thái Tử cảm ngay thấy cuộc đời không có chi là vui sướng, là bền vững, là giải thoát, hết thảy đều là vô thường Sau khi quan sát, Thái Tử sinh ra buồn rầu, và luôn luôn suy nghĩ để tìm phương cách cứu khổ cho chúng sinh Lại một lần nữa Thái

Tử ra chơi ngoài thành, lần này gặp một vị Sa môn, tướng mạo đoan trang, đi đứng ung dung, trông có vẻ tiêu dao giải thoát, do đó Thái Tử liền nảy ra tư tưởng xuất gia cầu đạo

Thái Tử đã mấy lần xin phép vua cha đi xuất gia, nhưng vua cha đều không ưng thuận Vì sợ Thái Tử đi xuất gia nên vua bắt tìm đủ mọi sự khoái lạc để cho Thái Tử khuây lòng Khi 18 tuổi, Thái Tử đã phải vâng lệnh vua cha, thành hôn cùng công chúa

Da Du Đà La (Yásoddharà), con gái vua Thiện Giác (Suppabuddha) nước Câu Ly (Koli), sau Thái Tử đã sinh một con trai tên là La Hầu La (Rùhula) Vua cha thấy thế lại càng yêu quý, vui mừng, và sai tuyển thêm mỹ nữ vào cung để hầu hạ Thái Tử Nhưng

vì chí xuất gia đã quyết, nên dù ở trong hoàn cảnh cao quý, xa hoa, lộng lẫy mà Thái

Tử cũng không say đắm

Khi 29 tuổi (có thuyết 19 tuổi), là thời kỳ xuất gia đã đến, Thái Tử không thể chậm trễ được nữa, liền trốn vua cha, từ giã vợ và con, bỏ nơi hoàng cung, nửa đêm vượt thành ra đi, nhằm vào ngày mồng 8 tháng Hai Đi sâu vào rừng đến bờ sông Anoma, Ngài cắt tóc và thay đổi y phục trao lại bảo Xa nặc đem về dâng Phụ hoàng và

tỏ rõ sự tình Từ đây, Thái tử đã trở thành một đạo sĩ và dấn thân trên đường tìm đạo Ngài đi đến thành Vương xá (Rajagrìha) xứ Ma kiệt đà, tìm đến các vị Đạo sĩ Bà la môn mà tham khảo phương pháp tu hành Sau một thời gian tu luyện, Ngài không thỏa mãn vì cho rằng chưa được rốt ráo Ngài liền vào rừng Ưu lâu tần loa, xứ Phật đà già da (Bouddhagaya) tu hạnh ép xác, một ngày chỉ ăn một hạt mè, hạt gạo và suy nghĩ trong sáu năm, song vẫn thấy vô hiệu Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh ấy không phải là lối tu giải thoát Và sau khi nhận bát sữa của nàng Su jà ta dâng cúng, thân thể bình phục, tâm hồn sảng khoái, Ngài đến dưới gốc cây bồ đề ngồi trên thảm tọa và phát nguyện: "Nếu không tìm ra chân lý thì thà chết ta không rời thảm tọa này" Trải một thời gian thiền quán, Ngài đã chiến thắng được tất cả những ma chướng phiền não của thân và tâm Ngài lại dẹp được mọi sự phá rối của ma vương bên ngoài Đầu đêm, Ngài chứng được Túc mạng minh, thấy rõ ràng những đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nửa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy được cả vũ trụ bao la; cuối đêm vào lúc sao mai mọc, Ngài chứng được Lậu tận minh, nhận chân nguồn gốc sanh tử luân hồi là sự mê mờ gọi là vô

Trang 15

minh, và hoàn toàn giác ngộ Ngài đã thành đạo vào lúc sao mai mọc, ngày 8 tháng Chạp

4 Giáo lý căn bản nguyên thủy Phật giáo (Tứ đế, Duyên khởi và vô ngã, Ngũ uẩn, Nhân quả và nghiệp báo, Niết bàn)

Trong khi luận điểm của các trường phái khác chấp nhận đấng sáng tạo Brahman, cũng như chấp nhận "Cái tôi", thì giáo lý căn bản của Phật giáo là vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự "giả hợp" do hội đủ nhân duyên nên thành ra "có" (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành phần là thể xác (Rupa - sắc) và tinh thần (Nâma- danh), do sự hợp tan của ngũ uẩn (sắc - thụ - tưởng - hành - thức) Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta,duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt, nhưng không phải là mất đi mà là trở lại với ngũ uẩn Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo luật nhân quả không ngừng nên vạn vật,con người cứ biến hóa vụt mất, vụt còn, không có sự vật riêng biệt tồn tại mãi mãi do đó không có cái tôi thường định (An - Atman)

Và cũng từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Đức Phật đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên" để giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi Đây là triết lý nhân sinh chủ yếu của đạo Phật

"Tứ diệu đế" là bốn chân lý chắc chắn, hiển nhiên, hoàn toàn cao hơn hết, gồm:

+ Khổ đế : Phật giáo coi " đời là bể khổ" Có trăm ngàn nỗi khổ, nhưng có 8 nỗi khổ trầm luân, bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt

ly (Yêu thương mà phải chialìa), Oán tăng hội (Oán ghét nhau mà phải sống với nhau),

sở cầu bất đắc (Cầu mong mà khôngđược), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố vô thường nung nấu làm nên sự đau khổ)

+ Tập đế: Giải thích những nguyên nhân gây nên đau khổ cho chúng sinh Đó là12 nguyên nhân (Thập nhị nhân duyên): 1 Vô minh; 2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc;

5 Lục nhập; 6.Xúc; 7 Thụ; 8 ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh và 12 Lão, tử Trong 12 nhân duyên ấy thì Vô minhtức là ngu tối, không sáng suốt là nguyên nhân đầu tiên

+ Diệt đế : Là lần theo Thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của nỗi khổ, tiêu diệt nó và đưachúng sinh thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, đạt tới cảnh trí Niết bàn

Trang 16

+Đạo đế : Chỉ ra con đường diệt khổ đạt tới giải thoát Đó là con đường "tu đạo", hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bát chính đạo): Chính kiến; Chính tư duy; Chính ngữ; Chính nghiệp; Chính mệnh; Chính tinh tiến; Chính niệm; Chính định Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào 3 điều phải học tập, rèn luyện là: Giới - Định - Tuệ

Niết bàn có nghĩa là diệt độ Tức là đã đoạn diệt hết mọi khổ sinh tử tới cõi hoàn toàn yên vui giải thoát Nguyên lai ý nghĩa đó có hai phương diện là tiêu cực và tích cực Cần phải đoạn hết phiền não là nghĩa tiêu cực, cần phải đạt tới chỗ an lạc giải thoát

là nghĩa tích cực Vậy bậc tu hành đã chứng tới Niết-bàn, thời không còn phải sinh tử, tới chốn đại an lạc Niết-bàn còn có nghĩa là hết mọi vọng động tới chỗ tịch tĩnh, lìa mọi pháp hữu vi tới chỗ vô vi, lìa mọi hư vọng tới chỗ chân như, lìa mọi giả tướng tới chỗ thực tướng, siêu việt mọi nghĩa đoạn thường của thế gian tới chỗ trung đạo, vượt mọi ngã và phi ngã của thế gian thường kiến tới chỗ chân ngã

5 Thành lập Tăng đoàn

Ngay từ những ngày tháng đầu tiên sau khi chứng ngộ, Đức Thế Tôn đã thiết lập Tăng đoàn, mở đầu bằng sự quy ngưỡng Phật pháp của năm anh em tôn giả Konỉdỉanõnõa (Kiều Trần Như) Nhóm bạn đồng tu khổ hạnh này đã trở thành những thành viên đầu tiên của Tăng đoàn Phật giáo Từ đó Tăng đoàn phát triển dần thành một hội chúng đông đảo Giáo đoàn của Phật giáo gọi là Tăng già (Sangha), nghĩa của Tăng già là đại chúng hay hòa hợp Thành phần tổ chức của Tăng già là đoàn thể tôn giáo Đức Thích Tôn khi còn tại thế, phương thức đoàn thể tôn giáo cũng đã được chế định Những pháp quy của đoàn thể Tăng già gọi là Luật tạng để quy định về cách tổ chức và sinh hoạt Thành phần của đoàn thể Tăng già gồm có bảy chúng xuất gia và tại gia

Về mặt giáo hội, Tăng già là rường cột của Phật pháp Vì thế, Đức Thế Tôn đặc biệt chú trọng đến việc hoàn thiện từng cá nhân trong Tăng đoàn Ngài sẽ chưa vào Niết-bàn khi chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni chưa thành tựu Giới-Định-Tuệ, chưa đủ khả năng truyền bá chánh pháp ở đời Đó là lời Thế Tôn tuyên bố với Ác ma Điều này nói lên rằng, Đức Thế Tôn đã xác nhận Tăng đoàn là những người thay thế Ngài nối truyền ngọn đèn Chánh pháp ở thế gian Hẳn nhiên, đó là Tăng đoàn thanh tịnh gồm những thành viên đã và đang nỗ lực trên con đường phạm hạnh Chỉ có sự hưng thịnh của Tăng đoàn thì Phật giáo mới thăng hoa theo chiều lịch sử Sự tồn tại của Tăng đoàn là

sự tồn tại của Chánh pháp

Trang 17

6 Thành lập ni đoàn

Như chúng ta thấy trên hết, đây là một giai đoạn đầy hiểm hóc có những thành quả sâu xa nhất trong lịch sử giải thoát hàng phụ nữ Hai ngàn năm trăm năm sau thời Đức Phật, cuộc vận động để giải phóng nữ giới vẫn còn được mạnh mẽ tiếp diễn khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên, hơn hai mươi lăm thế kỷ về trước Đức Phật đặc ân công nhận và cho phép hàng phụ nữ được xuất gia và gia nhập vào giáo hội, mặc dù không khỏi phần nào do dự Người trực tiếp đảm đang trách nhiệm đưa vượt qua khúc quanh lịch sử, giải phóng nữ giới, không ai khác hơn là Bà Maha Pajapati Gotami vĩ đại Bà sanh trưởng tại thị trấn Devadaha của xứ Ấn Độ cổ xưa, trong gia đình Suppabuddha

Bà là em của Hoàng Hậu Maha Maya, mẹ Thái Tử Siddhattha Tên tộc bà là Gotami Người ta gọi bà là Maha Pajapati Gotami bởi vì các nhà tiên tri đoán rằng về sau bà sẽ trở nên vị lãnh đạo của một nhóm người rộng lớn ―Maha‖ có nghĩa lớn ―Pati‖ là người dẫn đầu và ―Paja‖ là một nhóm đông người có tổ chức Vua Suddhodna, trị vì dân tộc Sakyan tại Kapilavattu, cưới luôn cả hai bà, Maha Maya và em là Gotami

Theo học giả E.J.Thomas vào năm thứ năm Đức Phật đã trở về cung thành Ca Tỳ

la vệ để thăm vua Tịnh Phạn đang lâm bệnh và thuyết Pháp giúp vua cha chứng đắc A

la hán trước giờ lâm chung Cũng trong khoảng thời gian đó Đức Phật đã phải dàn xếp

sự mâu thuẫn giữa hai thị tộc Sakya và Koliyas để giúp họ tránh được cuộc chém giết lẫn nhau Vào dịp này, sau khi lo tang lễ của chồng là Tịnh Phạn vương, di mẫu Ma ha

Ba xà ba đề (Mahà Pajapàti) đến công viên Nirodha nơi đức Phật đang tạm trú, cầu xin Ngài cho phái nữ được gia nhập tăng đoàn, xuất gia tu hành sống đời sống không gia đình Sau ba lần từ chối lời thỉnh nguyện của di mẫu, đức Phật trở về thành Tỳ xá li (Vesali) Bà Gotami vẫn không nao núng, không ngã lòng vì những đợt thỉnh nguyện bất thành, mà bền gan cam chịu mọi khổ nhọc và đương đầu với nghịch cảnh, quyết định theo chân Đức Thế Tôn đến Vesali cùng với một số mệnh phụ phu nhân có niềm tin nơi bà

Cắt lìa những chùm tóc đẹp đẽ một thời nào, vứt bỏ những đồ trang điểm giàu sang tráng lệ, và khoác lên mình tấm y vàng thô thiển, các bà cam chịu khổ nhọc đi bộ, trải qua đoạn đường dài 150 dặm đến Vesali Vốn chưa từng quen thuộc với những thử thách quá cam go dường thế ấy trong quá khứ, các bà chiến đấu và vất vả khổ nhọc trăm bề trên cuộc hành trình Dài theo đường, nhiều người thấy vậy rất cảm kích, sẵn lòng hào hiệp nhường chỗ trên xe, nhưng các bà lễ độ khước từ và tiếp tục nhọc nhằn lê bước Cảnh tượng thật não nề và rất đáng thương tâm Cuối cùng các bà đến Vesali, suy yếu và kiệt quệ, đùng trước cổng chùa, mình mẩy lấm lem cát bụi - y phục nhăn nhó tả tơi, chân cẳng sưng vù đau nhức

Trang 18

Đại đức Ananda, vị thị giả trung thành và rất tận tuỵ, người hầu cận thân tín và cần mẫn siêng năng của Đức Phật, thấy cảnh tượng khổ đau như vậy, động lòng trắc ẩn,

ba lần Đại Đức Ananda cố nài xin, nhưng Đức Phật một mực từ chối Tuy nhiên, Đại Đức Ananda cũng không nản lòng Khi một người thành thật và kiên trì cầu khẩn cho người khác và tập trung cố gắng nhằm làm mềm dịu một thái độ cứng rắn thì không có

lý do gì để từ bỏ triển vọng Lúc bấy giờ Đại Đức Ananda áp dụng đường lối khác, kính cẩn bạch đấng Toàn Giác như sau: ―Bạch hóa Đức Thế Tôn, người phụ nữ có khả năng thành đạt những mức sống cao thượng trong đời sống tinh thần - bốn tầng thánh(1)- một khi họ từ bỏ cuộc sống tại gia, tiến đến đời sống không nhà cửa, tự khép mình vào khuôn khổ của Giáo Pháp và Giới Luật của Đức Thế Tôn?‖ ―Có, này Ananda, họ có đủ khả năng làm được vậy‖, Đức Phật trả lời Trước lời khẩn cầu nồng nhiệt của Đại Đức Ananda, Đức Phật không thể làm gì hơn là thuận lòng Tuy nhiên, với trí tuệ nhìn xa và hiểu rộng, Đức Thế Tôn có thể thấy những hiểm họa và những khuyết điểm không thể tránh trong việc điều hành song song hai Giáo Hội Tăng Già cùng một lúc Do đó Ngài ban hành một vài điều kiện và quy định về giới luật cho Giáo Hội chư Tỳ kheo Ni nhằm giữ gìn và bảo vệ tương lai cho cả hai Giáo Hội Ngài dạy A Nan: "Những giới luật và ―bát kỉnh pháp‖ phải được tôn trọng, khâm sùng, kính cẩn tuân hành, và nghiêm túc thọ trì suốt đời, không được vi phạm dầu bất cứ trường hợp nào

1 Môt vị Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ do sự thọ trì cụ túc gìới (upasamapada) phải chào hỏi một vị Tỳ kheo, đứng dậy trước mặt vị Tỳ kheo, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo, mặc dầu vị này mới thọ cụ túc giới trong ngày hôm nay

2 Một Tỳ kheo ni không thể nhập hạ (vassa) ở một nơi mà không có Tỳ kheo

3 Vào mỗi ngày sám hối (một tháng hai lần), vị Tỳ kheo ni phải hỏi Giáo Hội chư Tỳ kheo ngày giờ nào một vị Tỳ kheo đến hành lễ phát lồ (uposatha)

4 Khi mãn thời gian an cư kiết hạ mỗi vị Tỳ kheo ni phải thọ lễ tự tứ (pavarana)(4) trước cả hai Giáo Hội, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (để kiểm thảo xem trong ba điểm: thấy, nghe và hoài nghi, mình có làm điều chi lỗi lầm không)

5 Một vị Tỳ kheo ni đã phạm một trọng tội phải chịu hình phạt manatta (5) trước cả hai Giáo Hội, Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni

6 Một nữ giới tử (sikkhamana, trong thời gian học tập) đã có tu tập sáu giới trong thời gian hai năm, có thể thọ trì cụ túc giới với cả hai Giáo Hội, Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni

Trang 19

7 Bất cứ trong trường hợp nào một vị Tỳ kheo ni không quyền khiển trách hay nặng lời một vì Tỳ kheo

8 Kể từ hôm nay Tỳ kheo ni không được làm lễ sám hối cho Tỳ kheo, nhưng Tỳ kheo

ni có thể hành lễ sám hối cho Tỳ kheo ni

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo một Giáo Hội Nữ Tu Sĩ được thành lập và nữ giới được chấp nhận vào đời sống tu viện Cánh cửa đã rộng mở để cho hàng phụ nữ xuất gia, đặc ân cho phái nữ gia nhập vào một Giáo Hội Nữ Tu Sĩ đã được ban hành

7 Vấn đề Giới luật

Theo lịch sử, trong 12 năm đầu, đức Phật chưa chế ra giới, vì chưa có chuyện gì rắc rối xẩy ra trong Tăng đoàn, có thể gây nên cản trở cho sự tu tập của tăng ni Nhưng vào năm thứ 13, có xẩy ra chuyện Na-đề-tử ân ái với vợ cũ, cho nên Phật mới bắt đầu chế giới Mỗi khi chế một giới, ngài lại nói 10 lợi ích (" cú nghĩa ") của việc chế giới đó: " Vì sự kiện toàn của Tăng già, sự trường tồn của Chánh Pháp, sự an lạc của Tăng chúng, sự tăng trưởng của lòng tin, sự đoạn diệt phiền não trong hiện tại và tương lai

"Cứ như vậy, mỗi khi xẩy ra một sự cố, ngài lại chế thêm một giới, và dần dần số giới mỗi ngày một gia tăng, đa số là giới nhẹ và một số ít là giới trọng Và sau khi Đức Phật diệt độ, các bậc Kỳ túc Trưởng lão lại theo đấy mà giải thích và quy định lại, biên thành Tỷ-khưu giới bản và Tỷ-khưu-ni giới bản Y vào luật Tứ Phần thì kinh Giới bản của Tỷ-khưu có 250 giới, Tỷ-khưu-ni có 348 giới Theo Nam truyền Luật tạng thì giới bản của Tỷ-khưu có 277 điều, Tỷ-khưu-ni có 311 điều Các giới điều tuy có khác, nhưng chỉ khác phần chi tiết, còn phần đại cương vẫn giống nhau Giới bản của Tỷ-khưu có

250 giới Người đi xuất gia sau khi đã được thọ giới Cụ túc rồi, cần phải nương theo vào các điều giới luật như trong giới bản để làm mực thước sinh hoạt hàng ngày Vì " tâm dẫn đầu các pháp " (Kinh Pháp Cú, 1), cho nên Giới có thể xem là một điểm khởi đầu, một giai đoạn của sự tu tập: nhờ giữ Giới cho nên tâm mới Định, nhờ Định cho nên mới có Huệ, nhờ Huệ mới có giải thoát

Nhà tu hành thường ban đầu còn nhiều lậu hoặc, cho nên cần phải chú tâm đến tác ý trong mọi hoạt động của thân, khẩu, ý Phải tự kiểm soát, tự kiềm chế đừng để cho tâm buông lung, ô nhiễm bởi các lậu hoặc, và làm nẩy lên những cái mà ngày nay người ta gọi là " cảm xúc tiêu cực " Đó là chức năng của các giới luật Ba-la-đề-mộc-xoa (Biệt giải thoát giới) đặt ra cho các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni Các giới luật này được xem như là phương tiện nhiếp tâm trao cho bởi đức Phật: càng nhận được nhiều giới luật tức là càng được ưu ái trên con đường giải thoát

Trang 20

Về sinh hoạt của người xuất gia, phải nương vào Tứ y pháp:

1 Y vào khất thực để sinh sống;

2 Y vào áo vải thô để che thân;

3 Y vào dưới gốc cây để ngủ nghỉ;

4 Y vào thuốc dân gian để chữa bệnh

Nghĩa là sự sinh hoạt hàng ngày của người xuất gia thì không chú trọng ở các vật

xa hoa, các món ăn cao lương mỹ vị, chỉ lấy sự thanh đạm làm mãn nguyện, đó là tinh thần của Tứ y pháp Tuy nương vào Tứ y pháp làm tiêu chuẩn cho sinh hoạt, nhưng tùy từng địa phương, từng trường hợp các hàng tại gia Phật tử, đàn việt làm tinh xá, giảng đường, áo mặc, đồ ăn đem cúng dường bố thí, cũng vẫn được thọ dụng, mà không trái với Tứ y pháp

8 Ảnh hưởng của Tăng đoàn Phật giáo đối với xã hội Ấn Độ

Chúng ta đều biết rằng lúc bấy giờ xã hội Ấn Độ được thiết lập theo cấu trúc kim

tự tháp, gồm 4 tầng chồng chất lên nhau như nương dựa hữu cơ vào nhau Có lẽ, với thực tế xã hội lúc bấy giờ tại Ấn Độ, thì Tăng đòan của Đức Phật là một giáo đoàn có một không hai trong một xã hội bất bình đẳng, một xã hội mà ở đâu đâu cũng là phân biệt giai cấp kỳ thị chủng tộc Vậy mà Tăng đoàn của Đức Phật đã triệt tiêu mọi cách biệt của giai cấp, giáo pháp của Đức Phật, vốn định vị con người không phải trên giai cấp nhưng trên luật Nhân quả và Nghiệp báo do mình quyết định và tự mình tạo ra, đã san bằng mọi hố sâu thần quyền và chính trị, mọi cách biệt kinh tế và xã hội, mở cơ hội cho mọi người đều bằng nhau: Những vị Phật sẽ thành! Như các con sông mất hết tên gọi riêng biệt khi cùng đổ ra biển lớn (Trung A Hàm, 8.19) Trong Kinh Tập Đức Phật

có dạy như sau:

“Không phải do sanh ra người ta trở thành Bà La Môn

Không phải do sanh ra người ta trở thành kẻ hạ tiện

Do hành động (nghiệp) người ta trở thành Bà la môn

Do hành động (nghiệp) người ta trở thành kẻ hạ tiện”

Chính vì vậy mà Tăng đoàn Phật giáo được xem là hình ảnh tiêu biểu nhất cho sự kiện lịch sử trong cuộc cách mạng xóa bỏ triệt để hệ thống đẳng cấp của tư tưởng Bà la môn Vì không có bất cứ một tổ chức nào của tôn giáo thời bấy giờ cho phép hay tiếp

Trang 21

nhận tất cả mọi thành viên củ mọi đẳng cấp xã hội vào tổ chức của nó ngoại trừ Phật giáo Đối với Tăng đoàn Phạt giáo những ai thật tâm quy y Phật Pháp, gia nhập Tăng già thì sẽ không còn bận tâm đến dấu vết cội nguồn xã hội của mình

Ví dụ như tôn giả Vô Não (Angulimala), người được chính vua Ba Tư Nặc tôn kính cúng dường, trước khi trở thành Tỷ kheo Ngài là một tên cướp khét tiếng cướp của giết người Những nhân cách đặc biệt như Sunita là người quét dọn vệ sinh, Svàti

là thợ chài lưới, Nanda là kẻ chăn bò, Upàli là thợ hớt tóc, Ambapàli là gái làm tiền hạng sang, Vimalà là con của cô gái điếm, Pùrna là con của người đàn bà nô lện, Chàpa

là con người thợ săn… đây là những bài pháp sống động soi rọi tinh thần bình đẳng trong Tăng đòan Phật giáo

Một ảnh hưởng khác của Tăng đoàn Phật giáo đối với tư tưởng xã hội của Ấn Độ thời bấy giờ là cuộc cách mạng giới tính Bằng chứng rằng Đức Phật đã cho nữ giới gia nhập Tăng đoàn Trong nguồn sử liệu của lịch sử tôn giáo Ấn Độ chưa đề cập đến sự kiện người nữ xuất gia và tổ chức tu hành cho đến khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chấp nhận cho nữ giới xuất gia và cho phép thành lập Ni đòan Do vậy, người ta thường cho rằng Tăng đoàn Phật giáo là tổ chức đầu tiên đặt nền móng cho triết lý bình đẳng giới tính trong lĩnh vực tâm linh ở xã hội Ấn Độ

Chương thứ Ba GIAI ĐOẠN BỘ PHÁI PHẬT GIÁO

 Ngay sau khi Phật nhập niết bàn, đã có các đệ tử cho rằng phải làm điều này, không làm điều nọ, không chịu ràng buộc tâm ý Để tránh sự sai biệt, và bảo tồn các giáo pháp và luật lệ cho được toàn vẹn, Ma-ha-

Trang 22

ca-diếp (Maha Kassapa) đã đề nghị kết tập và phân loại toàn bộ lời dạy của Phật lại thành kinh điển để tránh chia rẽ, sai lầm về giáo pháp[2]

* Diễn biến và kết quả

Cuộc kết tập lần I đã được tổ chức tại thành Vương Xá (Rājagaha), gồm 500 la-han Arhat Được sự bảo trợ của vua A Xà Thế (Ajatasatru)là vua xứ Ma Kiệt Đà (Magadha Thời gian: vào mùa Hạ năm Đức Phật Niết-bàn Ngài Ưu Ba Ly (Upali) trùng tuyên Luật tạng trước, Ngài A Nan trùng tuyên Kinh tạng sau Bộ luật được trùng tụng là: Bát thập tụng Luật Lý do kiết tập: Tỳ kheo Bạt Nan Đà vui mừng khi nghe tin Đức Phật nhập niết bàn Phương pháp kết tập được kể lại bằng trí nhớ và cũng không

A-có ghi thành văn bản Những điều ghi nhận này sau đó được viết lại thành 4 bộ kinh:

1 Kinh Trường A Hàm (Digha agama)

2 Kinh Trung A Hàm (Majjhima agama)

3 Kinh Tăng Nhất A Hàm (Anguttara agama)

4 Kinh Tạp A Hàm (Samyutta agama)

Đây là các tài liệu cổ nhất có ghi lại cuộc đời của Phật và hoạt động của Tăng đoàn, đánh dấu bước đầu hình thành Kinh tạng và Luật tạng Các bộ kinh văn trên cũng

là căn bản cho Phật giáo nguyên thủy

- Kết tập Kinh điển lần thứ hai

Lí do

 Sau 100 năm (đầu thế kỉ thứ 5 TCN) thì có nhiều người muốn thay đổi một số điều chi tiết trong giới luật Đại hội kết tập lần thứ II cốt

để bàn thảo về những thay đổi này

 Đại hội còn nhằm mục đích ngăn không để các tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào giáo lý Phật giáo

Diễn biến và kết quả

Đại hội có 700 vị tỳ kheo, được tổ chức tại Vesali trong tám tháng dưới sự trợ giúp của vua Kalasoka Trong đại hội những người không đồng ý với việc giữ nguyên giới luật ban đầu đã bỏ ra để tổ chức một hội nghị kết tập riêng và thành lập Đại chúng

Trang 23

bộ (mahāsāṅghika) Số người còn lại vẫn tiếp tục kết tập kinh điển, sau đó hình thành Thượng tọa bộ (Theravada)

- Kết tập Kinh điển lần thứ ba

Lí do:

Trong thời gian vua Asoka trị vì vào giữa thế kỉ thứ 3 TCN, Phật giáo đã phát triển rộng ra nhiều nơi Một điều tất yếu là có nhiều sự phân hóa ngay trong đạo Phật Tăng đoàn cũng đã bị một số người trà trộn và lạm dụng, gây nhiều bất hòa nội bộ

Diễn biến và kết quả:

Hội nghị được chủ trì bởi Moggaliputta Tissa, khoảng 1.000 tì kheo ưu tú được

cử đến Hội nghị được tổ chức vào khoảng năm 225 TCN và kéo dài trong 9 tháng Địa điểm kết tập là thành Pataliputta thuộc về đế chế Magadhan dưới sự khởi xướng và giúp đỡ của vua Asoka Đây là lần đầu tiên Tam Tạng Kinh bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng được hoàn thiện

Cuối đại hội, Moggaliputta Tissa đã chỉ ra "Những Điểm Dị Biệt" (Kathavatthu)

để bác bỏ luận thuyết không hợp lệ của một số bộ phái Đại hội kết tập này có hạn chế

là chỉ được sự công nhận về giáo pháp của tông phái Thượng tọa bộ, tông phái chiếm

đa số lúc bấy giờ

Sau đại hội, Tam Tạng kinh cùng với các chú giải được con trai vua Asoka là Mahinda đem tới Tích Lan Các kinh điển này sau đó đã được dịch sang tiếng Pali và còn nguyên vẹn cho đến nay

Diễn biến và kết quả: Thời gian kết tập là vào khoảng 400 năm sau khi Phật nhập niết bàn (thế kỉ thứ 1) Địa điểm là vùng Kasmira miền Tây Bắc Ấn Độ Hội nghị bao

Trang 24

gồm 500 học giả giỏi về Tam Tạng kinh và do Vasamitra chủ tọa với sự trợ giúp của Parsva

Sau khi kết tập, vua Kanishka đã ra lệnh khắc lại toàn bộ Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng lên trên những lá đồng, bảo quản tại một nơi cố định, không cho mang ra ngoài Tuy nhiên, những di vật này đã bị thất lạc, nay chỉ còn phần thích luận A Tỳ Đạt

Ma Đại Tỳ Bà Sa (Abhidharma Mahavibhasa sastra) mà Trần Huyền Trang đã dịch sang tiếng Hán, gồm hai trăm quyển

* Thuyết thứ hai: Thời gian kết tập là vào khoảng 400 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, do vua xứ Tích Lan là Vattagàmani hỗ trợ Kì kết tập này đã đọc, hiệu đính và sắp xếp lại thứ tự của Tam Tạng kinh, cũng như dịch bộ kinh này sang tiếng Pali Thuyết này được nhiều học giả công nhận chính là kết tập lần thứ IV của Thượng Tọa Bộ (Theravada)

* Các kì kết tập khác: Các lần kết tập còn lại đều là của riêng bộ phái Thượng Tọa

Bộ (còn gọi là Nam Truyền) tiến hành

Kết tập lần thứ V được tổ chức vào năm 1871, trong suốt 5 tháng tại thủ đô của Miến Điện lúc bấy giờ là Mandalay Số người tham dự gồm 2.400 cao tăng dưới sự bảo trợ của vua Mindon Kết quả là 3 tạng kinh được hiệu đính lại và đem khắc trên 729 phiến đá hình vuông cất vào trong chùa tháp Kuthodaw

Kết tập lần thứ VI bắt đầu ngày 17 tháng 5, nhân dịp lễ Phật Đản, năm 1954, trong suốt thời gian là 2 năm Địa điểm kết tập là phía Bắc của Ngưỡng Quang (Yangon), trên núi Nghệ Cố Dưới sự khởi xướng của Giáo hội Phật giáo Miến Điện và bảo trợ của chính phủ Miến Điện Kết quả là sự tham khảo lại tất cả kinh điển của các nước Phật giáo Nam truyền, rồi đúc kết và đem xuất bản để truyền bá

2 Sự phân phái ở Ấn Độ

Mối phân liệt căn bản của Giáo đoàn Phật giáo là do sự đối lập của Thượng Tọa

bộ và Đại Chúng bộ, rồi từ hai bộ này đã chia thành nhiều mạt phái, gồm có 20 bộ, đó

là sự phân phái của Tiểu thừa

o 2.1 Các phái bộ trong Đại Chúng bộ

Đại Chúng bộ có trung tâm hoạt động tại Amgotara, thuộc vùng Trung Ấn Nguyên có hệ tư tưởng cấp tiến nên đã xảy ra việc phân hoá trước Các cuộc phân hoá

Trang 25

này tất cả đều tách ra từ Đại Chúng Bộ và hình thành tổng cộng thành 9 bộ phái trong

đó quan trọng về mặt lý luận bao gồm:

* Nhất Thuyết bộ (Ekavyavahàrikah) cho rằng mọi pháp thế gian hay xuất thế đều là giả không có thực thể

* Thuyết Xuất Thế bộ, hay Chế Đa Sơn bộ, (Lokuttaravàdinàh) quan niệm pháp thế gian là do vọng tưởng mà ra, từ đó sinh phiền não, phiền não tạo nghiệp, do nghiệp mới

có quả báo Do đó, các pháp thế gian đều là hư vọng Bộ phái này thừa nhận các pháp xuất thế gian là thật có

* Kê Dận bộ (Kankkutikàh) cho rằng Kinh tạng và Luật tạng là giáo lý do Đức Phật thuyết tùy căn cơ và hoàn cảnh, chỉ có Luận tạng mới là giáo lý chân thật vì nó giải thích ý nghĩa của Kinh và Luật

* Đa Văn bộ (Bàhusrutiyàh), do Yajnavalkya cổ xuý, cho rằng chỉ có ngũ ấm (vô thường, khổ, không, vô ngã và Niết Bàn) và Bát chánh đạo mới là pháp xuất thế; những lời dạy khác của Thích Ca là thế gian pháp

* Thuyết Giả bộ (Prajnàptivadinàh), do Mahakatyayana chủ xướng, phân biệt giáo lý thành nhiều cấp độ: giả lập, chân thật, có ý nghĩa tương đối, ý nghĩa tuyệt đối; các pháp thế gian và xuất thế gian đều có một phần là giả thuyết.\

Các bộ phái khác là Chế Đa Sơn bộ (Caityasailàh), Tây Sơn Trú bộ (Aparasailàh) và Bắc Sơn Trú bộ (Uttarasailàh)

o 2.2 Các phái bộ trong Thượng Tọa bộ

Sự thay đổi về điều kiện xã hội và điạ lý và sự phân hoá trong Đại Chúng bộ có thể là nguyên nhân gây ra sự chia phái của Thượng Tọa bộ thành tổng cộng hơn 10 bộ Các phái có sự chuyển hoá về lý luận bao gồm:

* Nhất Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh), hay Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, Thuyết Nhân

bộ (Hetuvàdàh), đề cao Luận tạng và cho rằng tất cả các pháp đều là thực hữu

Từ khi phân phái Thượng Tọa bộ yếu thế hơn, chuyển căn cứ đến Tuyết Sơn đổi tên thành Tuyết Sơn bộ (Haimavàtàh)

Trang 26

* Độc Tử bộ (Vatsipatriyàli) tách ra từ Nhất Thiết Hữu bộ Bộ này vẫn đề cao Luận tạng, nhưng điểm khác biệt là chỉ dựa vào Pháp uẩn túc luận (tương truyền do ngài Xá Lợi Phất (Sariputra) soạn)

Sau đó, Độc Tử bộ phân hóa và thành bốn bộ phái là Pháp Thượng bộ (Dharmottariyàh), Hiền Trú bộ (Dhadrayàniyàh), Chánh Lượng bộ (Sammitiyàh) và Mật Lâm Sơn bộ (Sandagirikàh)

* Hóa Địa bộ (Mahìsarakàh) Hình thành từ Nhất Thiết Hữu bộ, sau khi Phật nhật tịch khoảng 300 năm, và do sư Hóa Địa, nguyên là một Bà La Môn thông thạo Vệ Đà, chủ xướng Ông thường vận dụng hiểu biết của mình để giảng giải kinh Phật

* Pháp Tạng bộ (Dharmaguptakàh), do Pháp tạng chủ xướng Pháp Tạng (Dharmagupta) là đệ tử của Tôn giả Mục Kiền Liên (Moggallàna) Pháp Tạng đã kết tập những lời giảng của thầy và lập thành bộ phái mới, tách ra từ Hoá Địa bộ, chia giáo

lý thành năm tạng là Kinh, Luật, Luận, Chú và Bồ tát tạng

* Ẩm Quang bộ (Kàsyapiyàh), do sư Ẩm Quang (Kàsyapa) tách ra từ Nhất Thiết Hữu bộ, cho rằng những lời Phật dạy gồm hai dạng: một nhằm đối trị phiền não, và còn lại là để chỉ ra những bất ổn của các học thuyết ngoại đạo

Ngoài ra, lần phân hoá cuối cùng của Nhất Thiết Hữu bộ cũng tạo ra Kinh Lượng bộ (Sautràntikàh), hay còn gọi là Thuyết Chuyển bộ (Samkràntivàdàh), xem Kinh tạng mới là giáo lý quan trọng nhất

3 Các nguyên do dẫn đến sự phân phái

* Từ thời Phật còn tại thế, ông đã dùng rất nhiều biện pháp, cách thức và công cụ khác nhau để tuỳ theo trình độ, khả năng liễu đạo và tuỳ theo hoàn cảnh của đối tượng

để truyền giảng

* Ngôn ngữ chỉ là phương tiện được mượn để Thích Ca chỉ rõ chân lý cho người nghe Chính vì sự linh hoạt, mềm dẻo và phong phú trong Phật giáo đã dẫn đến nhiều lý giải khác nhau về các lời truyền giảng

* Phật giáo đã tồn tại trong thời gian rất dài và lan toả ra nhiều địa bàn khác nhau Các đặc điểm của tôn giáo này sẽ chuyển vận để thích nghi môi trường và phù hợp với phong tục tập quán của từng con người, từng cộng đồng khác nhau trong xã hội cũng như các nền văn minh riêng biệt

Trang 27

* Cốt tuỷ của đạo Phật không phải là các hình thức cứng nhắc của lễ đạo hay các lời sấm giảng mà là các phương pháp thực hành đôi khi dị biệt để dẫn dắt hành giả chứng ngộ được chân lý tối thượng Sự hiện hữu của sự phân hoá về cách tu học, lý giải và chứng đạo cũng là một phản ánh thực tế đặc điểm của đạo Phật Sự khác biệt này không chỉ tìm thấy được qua số lượng (lên đến vài trăm) các bộ phái trong Phật giáo mà còn

có thể thấy được qua các hình thức bề ngoài chẳng hạn như là các kiến trúc, tác văn và các tượng Phật ở từng nơi, từng thời kỳ

* Ngoài ra, khi số lượng người trong tăng đoàn thực sự đủ lớn thì việc khác biệt nhau

về quan điểm hầu như là thực tế tất yếu Các quan điểm khác nhau về giới luật hay hình thức tu học dù chỉ là những điểm nhỏ cũng là một nguyên nhân đủ để tạo được các cuộc phân phái Những cuộc phân phái xảy ra thời vua Asoka phần lớn là vì sự sai biệt về giáo luật dù chỉ là các điểm nhỏ nhặt

* Ngay trong thời kì đầu của giáo hội, việc chuyên biệt hoá đã xảy ra cho từng nhóm

tu học Mỗi nhóm chuyên biệt có thể giữ một trọng trách để ghi nhớ một bộ phận khác nhau của giáo lý Những nhóm này thường chỉ nghiên cứu, học hỏi sâu trong các chuyên phần mà họ có trách nhiệm Đây cũng là nguyên nhân đưa đến phân phái sau này

* Trong mấy trăm năm đầu hình thành giáo hội, thì việc ghi chép lại giáo lý chưa được tiến hành Giáo lý chỉ được truyền miệng và đọc tụng bằng trí nhớ và thiếu hệ thống ghi chép chặt chẽ Kinh văn do từ các cá nhân nhớ, hiểu và đọc lại rất có thể nảy sinh các dị biệt

* Trong toàn bộ giáo hội không phải lúc nào cũng hoàn toàn trong sạch, có nhiều thời kì vì lòng tham một số cá nhân đã tìm cách giành quyền lãnh đạo (dù rằng điều này hoàn toàn đi ngược với giáo lý) cũng là nguyên nhân gây chia rẽ và phân phái

Dù rằng Phật giáo đã có nhiều phân nhóm, nhưng tựu trung đây vẫn là tôn giáo ít bạo động nhất Chủ trương một cuộc sống hoà hợp với môi trường Trong hơn 2500 lịch sử, Phật giáo đã chứng minh rằng đây là một tôn giáo của hòa bình Với tinh thần thanh tịnh và hòa hợp của Tăng đoàn là phương thức tu tập chung trên giáo lý và đời sống của Tăng đoàn, làm nên một mô hình cho xã hội về một môi trường sống yêu thương, hòa hợp, bình đẳng cho nhân loại, làm cho sự phát triển của con người thăng hoa trí tuệ và từ bi Tư tưởng và học thuyết của hai hệ phái tuy có sự khác biệt nhưng đều dựa trên hình thức căn bản từ lời Phật dạy từ các bản kinh và giáo lý như Tứ đế, Ngũ uẩn, Duyên khởi, Bát chánh đạo, Tam pháp ấn… những giáo pháp ấy chính là

Ngày đăng: 26/05/2016, 05:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w