1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tai chinh tien te on thi

25 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề về Hệ thống tài chính HTTC, Với đặc trưng là là sự hiện diện của các định chế tài chính và thị trườngtài chính TTTC bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng - ngânhà

Trang 1

1 Những vấn đề về Hệ thống tài chính (HTTC),

Với đặc trưng là là sự hiện diện của các định chế tài chính và thị trườngtài chính (TTTC) (bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng - ngânhàng, thị trường chứng khóan (thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu)), cóvai trò quan trọng trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn vốntrong nền kinh tế Sự phát triển lành mạnh của HTTC là một nhân tố thiếtyếu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng cạnh tranh của nềnkinh tế, và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Công cuộc Đổimới bắt đầu từ năm 1986 đã thay đổi đáng kể diện mạo đất nước Việt Nam.Nền kinh tế Việt Nam đã và đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung sang cơ chế thị trường và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thếgiới nói chung và HTTC toàn cầu nói riêng Các thể chế, định chế và cấuthành thị trường tài chính cũng từng bước được hình thành, cải cách theonguyên tắc thị trường, hội nhập Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế tại nhiều nước trên thế giới và suy giảm tăng trưởng kinh tếtrong nước chưa chấm dứt, cùng với mức lạm phát cao, rủi ro tài chính – tiền

tệ gia tăng, vấn đề tiếp tục cải cách, tái cấu trúc HTTC ở Việt Nam càng trởnên bức thiết Quí 1/2012 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Tái cơcấu hệ thống ngân hàng (với một số nội dung đã và đang được thực hiện),Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và ban hành Chỉthị về việc thúc đẩy hoạt động và tăng cường công tác quản lý, giám sát thịtrường chứng khoán Các văn bản này đã đưa ra một hệ thống các giải phápnhằm kiện toàn, phát triển, và giảm thiểu rủi ro HTTC Việt Nam Với cáchtiếp cận phát triển HTTC như một chỉnh thể (kể cả giác độ giám sát), dựatrên kinh nghiệm quốc tế cùng các chủ thuyết phát triển HTTC hiện đại, bàiviết này đánh giá một cách khái quát các hạn chế, rủi ro của HTTC ViệtNam Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất những định hướng giải pháp cơ bản,chủ yếu bổ khuyết cho nội dung được nêu trong 2 Đề án nhằm thúc đẩyHTTC Việt Nam phát triển lành mạnh, đóng góp hữu hiệu cho phát triểnkinh tế đất nước trong bối cảnh mới

Bản thân từng cấu thành của TTTC Việt Nam cũng còn không ít yếu kém, rủi ro.Đối với hệ thống ngân hàng: Thứ nhất, tuy đã giảm đáng kể, mức độ tích tụ vàphân khúc thị trường còn tương đối cao; các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhànước hiện vẫn chiếm khoảng 55 - 57% thị phần huy động tiền gửi và thị phần tín

Trang 2

dụng của toàn hệ thống Các quỹ tín dụng nhân dân, số lượng lớn, song có thị phầnhuy động tiền gửi rất nhỏ (dưới 1%) và hoạt động chưa có hiệu quả cao Tuy có xuhướng giảm trong vài ba năm gần đây, sự phân khúc thị trường thể hiện tương đối

rõ ở các nhóm khách hàng theo ngành nghề kinh tế và theo khu vực sở hữu Trongkhi đó, phân khúc thị trường tín dụng vi mô, tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ vàvừa chưa được quan tâm đúng mức Thứ hai, rủi ro tín dụng rất lớn, trước hết cóliên quan đến các khoản nợ xấu Nợ xấu của các NHTM Việt Nam chủ yếu xuấtphát từ việc thiếu/không giám định chặt chẽ các khoản vay có liên quan tới: (1) chovay chính sách (theo chỉ định chính thức của Chính phủ và chỉ định ngầm); (2) chovay các dự án/doanh nghiệp của các thành viên hội đồng quản trị/lãnh đạo cácngân hàng thương mại hoặc vaytheo chủ nghĩa thân quen (cánh hẩu); (3) các khoảnvay bất động sản/chứng khoán (chính thức, hoặc „đội mũ“ cho vay sản xuất – tiêudùng) Rủi ro khoản vay còn liên quan đến các khoản thế chấp có giá trị có thể sụtgiảm mạnh khi ‚bong bóng tài sản’xì hơi và hoặc/và được định giá quá cao (có chủý) (ví dụ, bất động sản) , hoặc do rủi ro chính sách Ngoài ra, việc chưa áp dụngđầy đủ các chuẩn mực phân loaị nợ quốc tế có thể tạo tâm lý xem nhẹ nợ xấu vàcác rủi ro kèm theo Thứ ba, rủi ro tín dụng có liên quan tới tình trạng “sai lệchkép” quá mức (trong cơ cấu kỳ hạn và cơ cầu đồng tiền trong bảng cân đối của cácNHTM) Tình trạng sai lệch quá mức về cơ cấu thời hạn có thể thấy ở việc nguồnvốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn, khoảng 75%song được các NHTM sử dụng một tỷ trọng quá mức để cho vay trung và dài hạn.Tình trạng này gây rủi ro lớn, đặc biệt là khi nguồn vốn được cho vay các dự án cóhiệu quả thấp, thiếu sự thẩm định cần thiết Mức sai lệch về cơ cấu đồng tiền rấtnhạy cảm với biến động tỷ giá, lãi suất, nhất là trong bối cảnh tình trạng đô la hóacao và tài khoản vốn được tự do hóa dần ở Việt Nam Thứ tư, rủi ro hoạt động cònliên quan tới tình trạng sở hữu chéo cổ phần (giữa các ngân hàng thương mại, cáctập đoàn/tổng công ty có các hoạt động liên quan tới hoạt động tài chính, bất độngsản) Tình trạng này tạo ra các nhóm lợi ích có thể chi phối thị trường, gây khótách bạch sở hữu, do vậy, cản trở quá trình giám sát, tái cơ cấu ngân hàng; gây ranhững cơn biến động mạnh về giá cả trên thị trường chứng khoán Thứ năm, rủi rohoạt động, nhất là rủi ro thanh khoản, lãi suất còn cao, nhất là khi nhiều ngân hàng

có năng lực tài chính hạn chế, năng lực quản trị rủi ro yếu kém (các chỉ tiêuCAMEL chưa đáp ứng đẩy đủ yêu cầu của Basel I), có nguồn thu nhập chủ yếudựa vào hoạt động tín dụng Thứ sáu, các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về quản lý,quản trị ngân hàng như quản lý rủi ro, quản trị tài sản có, tài sản nợ, khách hàng,sản phẩm, kiểm toán nội bộ,… mới được áp dụng, nên chưa thật sự hiệu quả và có

Trang 3

hiệu lực cao Nhìn chung, trình độ quản trị nội tại ngân hàng còn chưa đáp ứng tốtcác chuẩn mực quốc tế như CAMELS và Basel Thứ bảy, bên cạnh thị trường tíndụng chính thức, ở Việt Nam còn tồn tại thị trường tín dụng phi chính thức với qui

mô khá lớn, chủ yếu ở nông thôn Các vụ đổ vỡ tín dụng đen từ năm 2011 đến naycho thấy rõ quy mô và thiệt hại rất lớn của việc đổ vỡ kênh tín dụng này Từ năm

2011 đến nay, trong bối cảnh NHNN thắt chặt tiền tệ, mức lãi suất cho vay rất cao

và có chọn lọc, thị trường bất động sản lao dốc, nhiều (khoảng 12%) doanh nghiệpgặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, giải thể, cùng với tác động 8 tiêucực của khó khăn kinh tế trong nước và quốc tế, các yếu kém, rủi ro kể trên bắt đầubộc lộ, đặc biệt là vấn đề thanh khoản, nợ xấu Những khó khăn này đã buộcNHNN phải tái cơ cấu khu vực ngân hàng theo năng lực tài chính, nợ xấu và khảnăng thanh khoản Đối với thị trường chứng khóan: Thứ nhất, mức hiệu quả thịtrường thấp thể hiện phần nào ở thực trạng là gía cả hàng hóa không phản ánh tứcthời các thông tin trên thị trường và mức biến động về giá là rất lớn Thị trường tráiphiếu, nhất là trái phiếu công ty – vốn được coi có vai trò quan trọng trong việcgiảm thiểu rủi ro hệ thống (giảm thiểu sai lệch kép) vẫn kém phát triển (tổng vốnhóa thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp tương ứng tươngđương khoảng trên 16% năm và khoảng 2% GDP năm 2009) Thị trường chứngkhoán kém phát triển cũng khiến các NHTM phải “đảm trách” việc cung cấp vốndài hạn cho nền kinh tế - điều gây ra nhiều cơ rủi ro cho toàn HTTC Thứ hai, ngoàinhân tố xuất phát điểm thấp, sự biến động mạnh trên thị trường là do trên thịtrường còn ít hàng hóa có chất lượng/công ty lớn; tình trạng sở hữu chéo, thông tinchưa minh bạch; đặc biệt, chịu sự chi phối hành vi đầu cơ của các nhà tạo lập thịtrường có vốn lớn, có thông tin nội gián và được sự ‘ưu ái’ của các công ty chứngkhoán trong thanh toán và sử dụng các công cụ phái sinh (phi pháp), trong khinăng lực giám sát của UBCKNN chưa theo kịp, và chưa có chế tài thực thi, kỷ luậtthị trường có hiệu lực cao Mức giá thị trường, nhất là giá Phát hành lần đầu racông chúng (IPO), trong thời gian dài được định ở mức quá cao Thêm vào đó,lượng cung trên thị trường được cung ứng không đều, lúc quá nhiều, khi quá ítcũng dẫn đến những đột biến về giá cả trên thị trường Thứ ba, việc cổ phần hoánhiều khi gắn kết không chặt với việc niêm yết (thường sau 2-5 tháng, có trườnghợp kéo dài trên dưới 2 năm như SABECO, HABECO, Bảo Việt) Tính đại chúngcủa nhiều công ty niêm yết chưa cao, chưa đáp ứng được của một trong những tiêuchuẩn niêm yết là phân tán cổ phiếu trong công chúng Cơ chế xác định giá cổphiếu trên thị trường sơ cấp (IPO), nhất là trong giai đoạn từ quý I/2008 trở vềtrước, còn quá “méo mó”, bị chi phối bới các hành vi tận thu (bán giá cao cho các

Trang 4

nhà đầu tư, kể cả đầu tư chiến lược), đầu cơ, thao túng và trục lợi bất chính và cácđộng cơ khác, có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển lành mạnh của thị trường (làmtăng rất nhiều lần giá trúng đầu giá) Việc công bố thông tin về doanh nghiệp đấugiá cổ phần (trong Bản cáo bạch , báo cáo tài chính) còn bất cập, không trung thực.Thứ tư, các nhà đầu tư có tổ chức, chuyên nghiệp vẫn chưa nhiều; chủ yếu vẫn làcác nhà đầu tư cá nhân, gần đây đã ít nhiều chuyên nghiệp hơn, song vẫn thiếu kỹnăng đầu tư và hạn chế rủi ro Hành vi đầu tư của hầu hết các nhà đầu tư trongnước vẫn còn mang tính “bầy đàn” thái quá, nhất là trong bối cảnh thông tin thịtrường còn quá bất cập và hiệu lực pháp luật/kỷ luật thị trưởng yếu Các định chếtrung gian, nhất là các công ty chứng khóan do quy mô vốn nhỏ, số lượng quáđông so với tổng vốn hóa/giá trị giao dịch thị trường, trong khi đó năng lực về vốn

và quản lý, nhân lực thấp, nên rất nhiều công ty hoạt động kém hiệu quả Trên thịtrường thực sự vẫn còn thiếu vắng một số định chế tài chính quan trọng như cáccông ty xếp hạng tín nhiệm (có vai trò đặc biệt đối với thị trường trái phiếu), cácngân hàng đầu tư, các quỹ hưu trí và quỹ đầu tư tương hỗ Các định chế bảo lãnhphát hành ở Việt Nam vẫn chủ yếu là các NHTM nhà nước; các công ty chứngkhoán thực hiện bảo lãnh phát hành cổ phiếu chưa nhiều, chủ yếu là bảo lãnh pháthành đối với trái phiếu chính phủ Thứ năm, trong thời gian dài, lãi suất trái phiếuchính phủ vẫn chưa tạo dựng được đường cong lãi suất chuẩn làm cơ sở cho việcphát hành trái phiếu công ty và các hoạt động đầu tư trên TTTC Thành phần thamgia đấu thầu trái phiếu chính phủ trên thực tế chủ yếu vẫn là các NHTM nhà nước

và các hoạt động giao dịch chủ yếu trên thị trường sơ cấp Mức ấn định lãi suất tráiphiếu đối khi không hợp lý, thiếu hấp dẫn, là một nguyên nhân khiến nhiều cuộcđầu thầu (nhất là trong năm 2008-2009) bị thất bại (Sự ra đời của thị trườngchuyên biệt gần đây mong rằng giải quyết đáng kể những bất cập kể trên) Thứ sáu,quản trị doanh nghiệp cổ phần tuy được cải thiện đáng kể trong các công ty niêmyết song quyền lợi hợp pháp của các cổ đông thiểu số vẫn chưa được bảo vệ hữuhiệu trên thực tế Tỷ trọng vốn nhà nước vẫn còn lớn trong nhiều DNNN lớn(khoảng 75%), là tác nhân được coi là ảnh hưởng tiêu cực tới (mức độ cải thiện)chất lượng quản trị và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (trong thờigian dài, ở Trung Quốc tình trạng này rất phổ biến) Hiện tượng giao dịch nội giánvẫn còn và nhiều trường hợp chưa được nghiêm trị đích đáng (xem thêm Bảng 1).Thứ bảy, chuẩn mực về công bố thông tin, khả năng giám sát thị trường chậm đượccải thiện, không theo kịp với sự phát triển năng động, tinh vi của thị trường, Cáchthức công bố thông tin chưa đáp ứng chuẩn mực quốc tế; các thông tin đưa saichậm được cải chính Đối với các công ty không niêm yết, chỉ có một số nhỏ là

Trang 5

thực hiện nghĩa vụ báo cáo cho các cơ quan nhà nước có liên quan Khả năng kiểmsoát các luồng vốn gián tiếp (nhất là giá trị, nguồn gốc) của các nhà đầu tư nướcngoài chậm được cải thiện, đặc biệt, đối với nguồn vốn đầu tư theo uỷ thác Cácchuẩn mực kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính vẫn còn hạn chế, đang trongquá trình tương thích hoá với các chuẩn mực quốc tế Tính xác thực, chất lượngcủa các báo cáo tài chính là rất thấp, nhất là đối với các báo cáo chưa kiểm 10toán.6 Việc cưỡng chế thực thi pháp luật đối với các trường hợp không tuân thủnhìn chung còn yếu Ngoài ra, hệ thống thanh toán, hạ tầng công nghệ thông tinchưa theo kịp sự phát triển của thị trường cũng là những tác nhân kìm hãm sự pháttriển lành mạnh của thị trường Cuối cùng, việc nhiều tổng công ty nhà nước đầu tưvào các lĩnh vực ngoài lĩnh vực kinh doanh cốt lõi (vào thị trường chứng cổ phiếu,thành lập các định chế tài chính, trong đó có các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư)trong khi thiếu năng lực cần thiết cũng không những gây rủi ro cho bản thân màcòn gây rủi ro cho cả HTTC II Những định hướng giải pháp cơ bản Từ cuối năm

2011, NHNN đã xây dựng và được Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu hệ thốngngân hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg 01/03/2012 của Thủtướng Chính phủ), với một số nội dung đã và đang được thực hiện (ví dụ: tiến hànhphân loại tổ chức tín dụng thành 4 nhóm và các ấn định các hạn mức tín dụngtương ứng, hỗ trợ thực hiện 3 ngân hàng sáp nhập) Bộ Tài chính cũng đang hoànthiện Đề án Tái cấu trúc thị trường chứng khoán (Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị08/CT-TTG về việc thúc đẩy hoạt động và tăng cường công tác quản lý, giám sátthị trường chứng khoán và Quyết định QĐ 252/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lượcphát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020) Các nhóm giải pháp chính địnhhướng tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đưa ra trong Đề án Tái cơ cấu hệ thốngngân hàng bao gồm: (i) Định hướng và giải pháp cơ cấu lại NHTM nhà nước; (ii)Định hướng chẩn chỉnh, sắp xếp lại các NHTM cổ phần, công ty tài chính, các tổchức tín dụng nước ngoài, công ty cho thuê tài chính, quỹ tín dụng nhân dân (baogồm tái cơ cấu các tổ chức tín dụng lành mạnh, các tổ chức tín dụng thiếu thanhkhoản tạm thời, các tổ chức tín dụng yếu kém (thông qua tập trung hỗ trợ thanhkhoản; sáp nhập, hợp nhất, mua lại; cơ cấu lại tài chính, hoạt động và quản trị của

tổ chức tín dụng (thông qua xử lý nợ xấu; tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của

tổ chức tín dụng; làm sạch và cơ cấu lại bảng cân đối kế toán theo hướng lànhmạnh); (iii) Củng cố và đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng phù hợp hơn cácthông lệ chuẩn mực quốc tế thông qua tăng tính minh bạch; niêm yết cổ phiếu; tăngtính đại chúng; có kế hoạch hợp lý thoái vốn đầu tư và chấm dứt kinh doanh tronglĩnh vực ngân hàng tại tổ chức tín dụng; xử lý đối với các cổ đông lớn, người có

Trang 6

liên quan vi phạm quy định về giới hạn sở hữu cổ phần tại ngân hàng thương mại

cổ phần và các tổ chức tín dụng sở hữu vốn chéo lẫn nhau; các điều kiện, tiêuchuẩn về năng lực quản trị, kinh nghiệm công tác và trình độ chuyên môn đối vớicác chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt của các tổ chức tín dụng; (iv) Phát triểncác hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực của Basel II.Chỉ thị 08/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc thúc đẩy hoạt động và tăngcường công tác quản lý, giám sát thị trường chứng khoán theo các nội dung chínhsau: • Phát triển hệ thống các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; • Nâng tiêuchuẩn niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán trên Sở Giao dịch chứng khoán; •Xây dựng kế hoạch và lộ trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước; thoái vốnđối với các doanh nghiệp không thuộc danh mục nhà nước tham gia cổ phần; •Thực hiện tái cấu trúc thị trường trái phiếu; • Phát triển một số sản phẩm mới củathị trường chứng khoán trên nguyên tắc thận trọng, đảm bảo hiệu quả và khả năngquản lý, giám sát; • Nghiên cứu cải tiến hệ thống thanh toán chứng khoán và thanhtoán tiền giao dịch chứng khoán, nghiên cứu xây dựng đề án quản lý tập trung tàikhoản tiền giao dịch chứng khoán và tài khoản chứng khoán của người đầu tư; •Tăng cường quản lý, giám sát thị trường chứng khoán, đảm bảo thị trường pháttriển ổn định, hiệu quả; đánh giá, phân loại, giám sát hoạt động của các công tychứng khoán, công ty quản lý quỹ theo tiêu chí an toàn tài chính do Bộ Tài chính

đã ban hành; và • Tổng hợp, đánh giá việc chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài thành công ty cổ phần và rà soát Nhìn chung, hai Đề án đãđưa ra một hệ thống giải pháp tương đối toàn diện nhằm xử lý các yếu kém, ràocản phát triển của từng thị trường; hỗ trợ phát triển, giảm rủi ro hoạt động cho từngthị trường riêng biệt, tham khảo nhiều kinh nghiệm và thông lệ quốc tế tốt và cókhả năng thực thi Tuy nhiên, nhiều giải pháp này còn chưa thể hiện rõ định hướngcách làm cụ thể, không khác nhiều so với các giải pháp được đưa ra trong cácchiến lược/đề án ở giai đọan trước Điều quan trọng hơn là vẫn chưa có các nhómgiải pháp mang tính bao trùm, có hệ thống và liên thông giữa các thị trường cấuthành Vấn đề tăng cường giám sát dựa trên rủi ro, mang tính hệ thống chưa được

đề cập Dưới đây sẽ bổ khuyết các nhóm giải pháp mà hai Đề án chưa đưa ra, đồngthời, chi tiết hóa một số giải pháp trong hai Đề án Các giải pháp tái cơ cấu TTTCMột là, tái cấu trúc HTTC theo hướng cân đối hơn thông qua lành mạnh hóa thịtrường tín dụng và nâng cao vai trò TTCK trong huy động vốn dài hạn cho doanh

12 nghiệp Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong dài hạn, việc tạo lập một thịtrường vốn có cấu trúc cân đối hơn là rất quan trọng để có được một HTTC hoạtđộng an toàn và hiệu quả, giảm thiểu rủi ro của hệ thống ngân hàng, nâng cao chất

Trang 7

lượng quản trị doanh nghiệp Chính vì vậy, bên cạnh công cuộc cơ cấu lại hệ thốngngân hàng, việc đồng thời phát triển thị trường chứng khoán (thị trường cổ phiếu,

và đặc biệt là thị trường trái phiếu) có ý nghĩa chiến lược trong dài hạn (xem thêmHộp 1) Ở đây, mô hình Canada cũng có thể là một tham khảo tốt cho Việt Nam.Hai là, đổi mới mô hình và cách thức giám sát TTTC Trong dài hạn, cần chuyển

từ mô hình giám sát theo định chế/chuyên ngành sang mô hình giám sát hợp nhất(một phần rồi toàn bộ) Để làm tốt những yêu cầu này, trong 5-10 năm tới, ViệtNam cần phân định rõ, tăng cường chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý,nhất là đối với NHNN, UBCKNN/Bộ Tài chính NHNN cần có mức độ độc lậphơn nữa trong xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ - ngân hàng; đặc biệt, cầntăng cường hiệu lực sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý cũng như nâng cao hơnnữa vị trí pháp lý cho Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Sau năm 2020, có thểtừng bước áp dụng mô hình giám sát hợp nhất một phần rồi tiến hợp nhất giám sáttoàn bộ HTTC Trong ngắn và trung hạn, nâng cao hiệu quả và hiệu lực giám sátchuyên ngành, đồng thời, tăng cường giám sát tài chính vĩ mô của toàn bộ HTTCcũng như hoạt động các tập đoàn tài chính Đặc biệt, cần xây dựng các chế định,tiêu chí phân loại và giám sát các tập đoàn tài chính; xây dựng hệ thống chỉ tiêugiới hạn tín dụng, chỉ tiêu đánh giá hệ số an toàn vốn tối thiểu (vốn pháp định), vàvốn bổ sung đối với tập đoàn toàn chính Cần bảo đảm nguyên tắc cơ bản là thựchiện giám sát chặt chẽ song không bóp nghẹt tính năng động, sáng tạo của các địnhchế tài chính Đổi mới cách thức giám sát cũng là đường hướng quan trọng trongbối cảnh mới Trước hết, tăng cường hiệu lực giám sát tuân thủ, đồng thời chuyểndần sang giám sát dựa trên rủi ro thông qua việc thu hẹp các chuẩn mực trong nướcvới quốc tế (hoàn tất Basel II, tiến tới Basel III, xem thêm Hộp 2) và xây dựng và

áp dụng các chỉ tiêu giám sát và ngưỡng cảnh báo an toàn vĩ mô, các mô hình địnhlượng (như EWS, ST, VaR)

2 Thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay

* Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam năm 1999, nợ công bao gồm: nợ chínhphủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo báo cáo của

Bộ Tài chính, cơ cấu nợ công của Chính phủ tính đến ngày 31/12/2010 như sau: nợchính phủ chiếm 80%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 19% và nợ chính quyềnđịa phương chiếm 1% Trong cơ cấu nợ công tính đến ngày 31/12/2010, nợ trongnước chiếm 42% và nợ nước ngoài chiếm 58% Trong cơ cấu nợ nước ngoài, nợsong phương chiếm 46,66%, nợ đa phương chiếm 44,59%, còn lại các khoản nợ tín

Trang 8

dụng thương mại, tín dụng tư nhân và trái phiếu (Hình 1) Cùng với sự phát triểnnhanh chóng của nền kinh tế, nợ công ở Việt Nam có xu hướng tăng lên rất nhanh.Theo đánh giá của Bộ Tài chính, nợ công Việt Nam năm 2007 chiếm khoảng33,8% GDP, năm 2008 chiếm 36,2% GDP, năm 2009 chiếm 41,9% GDP, năm

2010 chiếm 52,6% GDP và năm 2011 chiếm 58,7% GDP Còn theo đánh giá củaQuỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công Việt Nam tăng từ 31,7% GDP năm 2001 lên42,2% GDP năm 2005, đạt 52,7% GDP năm 2010 Tính trong giai đoạn 2007-

2011, nợ công Việt Nam đã tăng khoảng 25%, đạt mức tăng trung bình 5%/năm.Tính theo tốc độ tăng trung bình, đến năm 2019, dự báo nợ công Việt Nam sẽ đạtmức 100% GDP Nợ công tăng cao khiến thâm hụt ngân sách của Việt Nam luôn ởmức lớn, dừng ở mức -5,8% GDP năm 2010 theo đánh giá của Bộ Tài chính, và ởmức -6% năm 2010 theo đánh giá của IMF (Bảng 1) Nếu so sánh với một số nướcđang gặp khủng hoảng nợ công ở châu Âu như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nhahoặc Mỹ thì tình hình nợ công của Việt Nam hiện nay vẫn được đánh giá là khá antoàn Vào thời điểm công bố khủng hoảng cuối năm 2009, nợ công ở Hy Lạp đạtmức 115% GDP, còn ở các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha nợ công đều khoảng100% GDP, thâm hụt ngân sách của các nước này đều gấp 3-4 lần cho phép Đốivới Việt Nam, các tổ chức xếp hạng quốc tế mặc dù duy trì mức tín nhiệm nợ công

là B+ nhưng họ đều cho rằng nợ công Việt Nam năm 2011 là khoảng 58,4% GDP(theo đánh giá của IMF) và mức nợ công này đã cao hơn rất nhiều so với mứctrung bình 37% đối với hạng B Trong khu vực châu Á, Việt Nam là nước có tỷ lệ

nợ công/GDP cao hơn nhiều so với Trung Quốc, Indonesia, Campuchia, HànQuốc, Đài Loan, Thái Lan, Philippines

3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ công hiện nay ở Việt Nam Nợ công hiện nay

ở Việt Nam có thể xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây: Thứ nhất, mởrộng đầu tư công một cách ồ ạt nhưng không hiệu quả dẫn đến nợ công tăng mạnh.Trong nhiều năm qua, Nhà nước đầu tư rất lớn cho các công trình công cộng, đặcbiệt là cơ sở hạ tầng, cảng biển, sân bay, đặc khu kinh tế Các chuyên gia chorằng, với tình hình tỉnh nào cũng lập kế hoạch xây dựng cảng biển, đệ trình kếhoạch làm sân bay, tỉnh nào cũng xin làm đặc khu kinh tế, thì đầu tư công dàn trải

và lãng phí là điều tất yếu xảy ra Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mỗi năm ViệtNam cần khoảng 25 tỷ USD để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trong khi đó vốn huyđộng được hàng năm từ các nguồn của Nhà nước cũng như của tư nhân chưa đến

16 tỷ USD, phần còn lại là phải vay nợ nước ngoài Chi tiêu và đầu tư nợ công kémhiệu quả đang đem lại những rủi ro đáng báo động cho nền kinh tế Nó khiến mức

Trang 9

thâm hụt ngân sách của Việt Nam luôn ở mức rất cao trong khu vực, đồng thờikhiến hiệu quả đầu tư trên một đồng vốn luôn ở mức thấp Nếu giai đoạn 2000-

2005 bỏ ra gần 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP, đến giai đoạn2006-2010 phải bỏ ra 7,4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP Trong nhiềunăm gần đây, Việt Nam đang gặp phải vấn đề thâm hụt kép: thâm hụt ngân sách vàchi tiêu công đều ở mức cao Tuy chưa đủ điều kiện để xảy ra một cuộc khủnghoảng nợ công như một số nước châu Âu và Mỹ như thời gian qua, bởi Việt Namvẫn là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng mộtkhi tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm vì nhiều lý do khác nhau thì Chính phủbuộc phải lựa chọn các gói kích thích kinh tế khiến nợ công ngày càng tăng mạnhhơn Với mức nợ công của Chính phủ như hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng đầu tưcông tiếp tục có xu hướng đi vay nước ngoài với lãi suất cao, khiến nợ công củaViệt Nam càng tăng nhanh, gây khả năng dễ bị tổn thương đối với nền kinh tế vĩ

mô Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nướcngoài của Chính phủ tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm vào năm

2009 và năm 2010 đạt 2,1%/năm Với thực trạng này, chi phí trả lãi đang trở thànhgánh nặng ngày càng gia tăng của Chính phủ Trong khi nợ nước ngoài của khuvực công tăng cao những năm gần đây, thì tỷ lệ dự trữ ngoại hối so với tổng dư nợngắn hạn lại có xu hướng giảm mạnh Điều này cho thấy việc trả nợ nước ngoài ởViệt Nam tuy vẫn ở trong mức độ an toàn, nhưng có nguy cơ mất an toàn trongnhiều năm tới khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, không cònđược hưởng ưu đãi từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong khi vay

nợ từ các ngân hàng thương mại nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn Thứ hai, chínhsách kích cầu của Chính phủ trong những năm qua đã khiến bội chi ngân sách củaViệt Nam tăng cao và Chính phủ buộc phải vay nợ để bù đắp ngân sách, dẫn đến

nợ công tăng cao Năm 2008, Chính phủ chi 1 tỷ USD để kích cầu đầu tư và tiêudùng, đến năm 2009, Chính phủ lại tung hai gói kích cầu với tổng trị giá 9 tỷ USD.Nhờ các gói kích cầu này, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực trongkhủng hoảng, nhưng đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nợ công giatăng Ngân sách nhà nước vốn đã rất căng thẳng vì nguồn thu từ thuế giảm trongnhững năm khủng khoảng kinh tế toàn cầu, cùng với giá dầu thế giới giảm khiếndoanh thu của Chính phủ bị ảnh hưởng, cho nên việc tung ra các gói kích cầu trên

đã ảnh hưởng mạnh đến tài chính công Thứ ba, nợ của khu vực doanh nghiệp nhànước ngày càng lớn Mặc dù trong cơ cấu nợ công của Việt Nam hiện nay chưatính đến nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhưng trong cơ cấu nợ của doanhnghiệp do Chính phủ bảo lãnh hầu hết là các khoản vay ngắn hạn, vì vậy trong

Trang 10

trường hợp doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, Chính phủ sẽ là người phải trả

nợ thay cho doanh nghiệp Hơn thế, nhiều chuyên gia cho rằng, việc không tính nợcủa doanh nghiệp nhà nước trong cơ cấu nợ công của Việt Nam là điều khó lườngtrước được rủi ro, có khả năng đưa Việt Nam rơi vào cái bẫy khủng hoảng nợ côngnếu không kiểm soát tốt nợ của doanh nghiệp nhà nước

4 Nguyên nhân của lạm phát là gì? Giải pháp kiểm soát lạm phát? Vận dụng vào thực tế ở Việt Nam hiện nay?

Trả lời:

- lạm phát là hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông quá lớn, vượt quá

số lượng tiền cần thiết trong lưu thông, làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện.

- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng lạm phát trong nền kinh tế:

Khi xem xét nguyên nhân dẫn đến lạm phát, người ta thường chia thành các nhóm nguyên nhân như sau:

- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chính sách của Nhà nước: Lạm phát do nguyên nhân này thường xảy ra khi có những thay đổi về chính sách tài chính-tiền

tệ của Chính phủ như chính sách thu chi NSNN, chính sách tiền tệ, chính sách giá

cả, chính sách tỷ giá,…làm cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế biến động hay làm cho giá ngoại tệ tăng lên Nhìn chung, Chính phủ chỉ ra những quyết định thayđổi các chính sách trên nhằm mục đích điều tiết vĩ mô theo hướng có lợi cho nền kinh tế, nhưng đôi khi do không lường trước được những biến động thực tế nên đã gây ra tình trạng lạm phát Chẳng hạn, trong một số trường hợp do sự thay đổi chính sách thu chi NSNN của Chính phủ đã dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách vàbuộc phải phát hành tiền để bù đắp Do phát hành vượt quá lượng tiền cần thiết nênlạm phát đã xảy ra; hoặc những thay đổi trong chính sách tiền tệ tín dụng: ngân hàng trung ương ra quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã làm gia tăng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, nếu lượng tiền gia tăng này quá lớn, vượt quánhu cầu của nền kinh tế sẽ dẫn đến lạm phát xảy ra

- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chủ thể kinh doanh: Trong thực tế, do quản lý điều hành kinh doanh yếu kém, các cơ sở kinh doanh có thể làm tăng giá

cả các yếu tố đầu vào Khi giá cả của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất tăng lên, đặc biệt là giá các nguyên nhiên vật liệu cơ bản của nền sản xuất (xăng,

Trang 11

dầu, sắt, thép, xi-măng, ) gia tăng sẽ đội giá thành sản phẩm và làm cho giá bán sản phẩm tăng lên Khi giá bán của các các sản phẩm thiết yếu tăng lên, sẽ gây ra hiệu ứng tăng giá dây chuyền trên diện rộng Lúc này, nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát.Trong trường hợp này, khi giá cả của hàng hóa tăng lên trên diện rộng sẽ có tác động ngược trở lại đối với giá cả các yếu tố đầu vào Quá trình này

cứ tiếp diễn sẽ gây ra vòng xoáy lạm phát Lạm phát ở mức độ cao đều ẩn chứa cácnguyên nhân này

- Nhóm nguyên nhân liên quan đến điều kiện tự nhiên: Khi xảy ra những rủi ro như dịch bệnh, hạn hán, lũ lụt, động đất, núi lửa, trên diện rộng thường để lại hậuquả nghiêm trọng đối với nền kinh tế xã hội và để khắc phục đòi hỏi Nhà nước cần chi một lượng tiền không nhỏ vào lưu thông Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm hàng hóa cục bộ và nhất thời cũng là một hiện tượng tất yếu của hậu thiên tai, dịch bệnh Lúc này, nếu Chính phủ không có những kế sách khắc phục những rủi ro nàymột cách phù hợp thì chính những hiện tượng này đã đẩy khu vực đó và nền kinh

tế rơi vào lạm phát Tuy nhiên, lạm phát bắt nguồn từ nguyên nhân này hầu như chỉxảy ra ở những nền kinh tế yếu kém

Ngoài những nhóm nguyên nhân trên, lạm phát còn có thể xảy ra bởi một số nguyên nhân khác như là: xảy ra chiến tranh, bất ổn chính trị, xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ,…

Thông thường, một nền kinh tế xảy ra lạm phát không thể chỉ bắt nguồn bởi một hoặc một nhóm nguyên nhân, mà sẽ là kết quả của tổng hợp tác động của nhiều nguyên nhân nêu trên

Các biện pháp kiểm soát lạm phát.

Về dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ giá trị tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp Vì thể duy trì sự ổn định tiền tệ là mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào Nhưng trong từng thời kỳ việc lựa chọn cac giải pháp kiềm chế lạm phát cũng như mức độ tác động của nó phải phù hợp với yêu cầu tăng trưởng và các áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánh chịu Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ, ít gây biến động cho nền kinh tế hoặc chiến lược giảm tỷ lệ lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm mạnh về sản lượng trong quá trình điều chỉnh

a Giải pháp cấp bách:

Trang 12

Đây được coi là những giải pháp tình thế, được áp dụng với mục đích giảm tức thời "cơn sốt" lạm phát để có cơ sở áp dụng các giải pháp chiến lược lâu dài.

- Biện pháp về tiền tệ- tín dụng: Mục đích là giảm bớt lượng tiền mặt trong

lưu thông, và kiểm soát được quá trình lưu thông tiền tệ

+ Quản lí chặt chẽ việc cung ứng tiền, thực hiện chính sách đóng băng tiền tệ

+ Quản lí và hạn chế thật mạnh khả năng "tạo tiền" của NHTM bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xiết chặt tín dụng,…

+ Nâng cao lãi suất tín dụng: Để biện pháp này thật sự có hiệu quả thì mức lãi suất phải đủ "hấp dẫn" và biến động theo tỷ lệ lạm phát, đảm bảo lãi suất thực phải lớn hơn 0

+ Các NHTM phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong công chúng: phát hành các loại trái phiếu, tín phiếu ngân hàng,…

- Biện pháp về tài chính ngân sách: Mục đích là làm giảm bớt tình trạng mất

cân đối trong thu chi NS tiến tới cân bằng ngân sách

+ Tiết kiệm chi NS bằng cách cắt giảm các khoản chi không tác động một cách trực tiếp đến sự phát triển có hiệu quả của nền kinh tế: chi cho bộ máy quản líhành chính, chi phúc lợi xã hội,…

+ Tăng cường và nâng cao hiệu quả thu của NSNN bằng cách: cải cách chính sách thuế theo hướng mở rộng và nuôi dưỡng nguồn thu (chống thất thu thuế, thu đúng, thu đủ, công bằng để không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất

+ Khuyến khích tự do mậu dịch, nới lỏng thuế quan nhằm mục đích tăng quĩhàng hoá tiêu dùng, giảm bớt sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong lưu thông

Ngày đăng: 24/05/2016, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w