1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan tien luong tien cong

21 3,3K 40

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 581 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Lý do chọn đề tài:Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và tổ chức thành công hội nghị cấp cao lãnh đạo kinh tế APEC 14 vào tháng 112016 đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của nước ta trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế toàn cầu. Đóng góp đáng kể trong tiến trình đó không thể không kể đến vai trò của nhà nước trong quản lý điều hành các chính sách vĩ mô như chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách việc làm, chính sách tiền lương. Chính sách tiền lương là một trong những chính sách vĩ mô còn nhiều bật cập đang đứng trước những thách thức lớn đòi hỏi, bắt buộc phải cải cách nhằm đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường lao động đồng thời cũng đảm bảo được quyền lợi của người lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa.Bắt đầu từ năm 1993 đến nay, chính sách tiền lương đã qua nhiều lần cải cách trong đó có việc thay đổi mức tiền lương tối thiểu và điều chỉnh lại cơ cấu thang bảng lương nhưng vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra. Tiền lương tối thiểu trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu cho người lao động như ý nghĩa của nó, còn có sự phân biệt tiền lương tối thiểu giữa các loại hình doanh nghiệp điều này đã mâu thuẫn với nguyên tắc “đối xử quốc gia của WTO”. Hệ thống thang bảng lương phức tạp nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng tất cả các nghành nghề mới xuất hiện ngày càng nhiều. Tiền lương còn mang tính bình quân chưa thực sự gắn với năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, chưa trở thành nguồn thu nhập chính của người lao động. Cơ chế quản lý tiền lương còn chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý, tiền lương tối thiểu do nhà nước công bố chưa trở thành lưới an toàn đảm bảo lợi ích cho người lao động nói chung. Lương trong khu vực công mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn có xu hướng kìm nén hơn so với khu vực ngoài nhà nước.Trước nhưng yêu cầu thay đổi cấp bách và những bất cập trên. Đảng và nhà nước ta đã chủ trương về đổi mới chính sách tiền lương theo hướng kinh tế thị trường trong đó coi tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên thị trường theo nguyên tắc tiền lương phải là động lực đối với người lao động, là điều kiện để doanh nghiệp hạch toán đúng. Tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Để có thể thực hiện sự đổi mới này một cách có hiệu quả cần có cái nhìn tổng quát về tình hình, thực trạng, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác, đề ra được các giải pháp và kiến nghị có tính khả thi để cải cách chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước. Đó là lý do em chọn đề tài:” Giải pháp cải cách chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước ” này làm tiểu luận kết thúc môn Nguyên lý tiền lương. 2.Mục tiêu nghiên cứu:Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước ở Việt Nam và một số kinh nghiệm từ các nước trên thế giới đề tài đưa ra một số giải pháp phù hợp cho cải cách chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 1

TIỂU LUẬN NGUYÊN LÝ TIỀN LƯƠNG

ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG

TRONG KHU VỰC NHÀ NƯỚC

Tp Hồ Chí Minh, tháng 12/2015

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, sựkiện Việt Nam gia nhập WTO và tổ chức thành công hội nghị cấp cao lãnh đạo kinh tếAPEC 14 vào tháng 11/2016 đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của nước ta trên conđường phát triển và hội nhập kinh tế toàn cầu Đóng góp đáng kể trong tiến trình đókhông thể không kể đến vai trò của nhà nước trong quản lý điều hành các chính sách vĩ

mô như chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính sách xóa đói giảm nghèo,chính sách việc làm, chính sách tiền lương Chính sách tiền lương là một trong nhữngchính sách vĩ mô còn nhiều bật cập đang đứng trước những thách thức lớn đòi hỏi, bắtbuộc phải cải cách nhằm đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường lao động đồng thờicũng đảm bảo được quyền lợi của người lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa

Bắt đầu từ năm 1993 đến nay, chính sách tiền lương đã qua nhiều lần cải cáchtrong đó có việc thay đổi mức tiền lương tối thiểu và điều chỉnh lại cơ cấu thang bảnglương nhưng vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra Tiền lương tối thiểu trên thực tếvẫn chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu cho người lao động như ý nghĩa của nó,còn có sự phân biệt tiền lương tối thiểu giữa các loại hình doanh nghiệp điều này đãmâu thuẫn với nguyên tắc “đối xử quốc gia của WTO” Hệ thống thang bảng lươngphức tạp nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng tất cả các nghành nghề mới xuất hiện ngày càngnhiều Tiền lương còn mang tính bình quân chưa thực sự gắn với năng suất lao động,hiệu quả kinh doanh, chưa trở thành nguồn thu nhập chính của người lao động Cơ chếquản lý tiền lương còn chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý, tiền lương tối thiểu do nhànước công bố chưa trở thành lưới an toàn đảm bảo lợi ích cho người lao động nóichung Lương trong khu vực công mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn có xu hướngkìm nén hơn so với khu vực ngoài nhà nước

Trước nhưng yêu cầu thay đổi cấp bách và những bất cập trên Đảng và nhànước ta đã chủ trương về đổi mới chính sách tiền lương theo hướng kinh tế thị trườngtrong đó coi tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên thị trường theonguyên tắc tiền lương phải là động lực đối với người lao động, là điều kiện để doanhnghiệp hạch toán đúng Tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp Để cóthể thực hiện sự đổi mới này một cách có hiệu quả cần có cái nhìn tổng quát về tìnhhình, thực trạng, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia khác, đề ra được các giải pháp

và kiến nghị có tính khả thi để cải cách chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước

Đó là lý do em chọn đề tài:” Giải pháp cải cách chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước ” này làm tiểu luận kết thúc môn Nguyên lý tiền lương

2. Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước ở ViệtNam và một số kinh nghiệm từ các nước trên thế giới đề tài đưa ra một số giải phápphù hợp cho cải cách chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước ở Việt Nam trongthời gian tới

Trang 4

-4. Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh

- Theo nguyên tắc duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

- Thu thập số liệu từ nguồn của Tổng cục thống kê và Bộ Lao Động -ThươngBinh và Xã Hội

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHÍNHCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN

LƯƠNG TRONG KHU VỰC NHÀ NƯỚC

1.1 Các khái niệm về tiền lương và chính sách tiền lương

Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữangười lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động, phù hợp vớiquan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy địnhtiền lương của pháp luật lao động

Tiền lương của người lao động được nghiên cứu trên hai góc độ là tiền lương danhnghĩa và tiền lương thực tế

Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao độngtheo giá trị hiện hành của đồng tiền, như vậy tiền lương danh nghĩa có ích cho việc sosánh tiền lương của người lao động khác nhau tại thời một thời điểm cho trước Số tiềnnày nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc củangười lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc trong quá trình laođộng

Tiền lương thực tế: được hiểu là các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cầnthiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa.Nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế giảm đi

Tiền lương trong khu vực hành chính nhà nước không phải là tiền lương trả theo cơchế thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động mà chịu sự chi phốitrực tiếp của Nhà nước, tiền lương trong khu vực này có tính độc lập nhất định với tiềnlương trên thị trường

Tiền lương tối thiểu:là mức lương để trả cho người lao động làm công việc đơngiản nhất (không qua đào tạo) với điều kiện lao động và môi trường lao động bìnhthường Tiền lương tối thiểu được xem là cái ngưỡng cuối cùng để từ đó xây dựng cácmức lương khác,tạo thành hệ thống tiền lương của một nghành nào đó hoặc hệ thốngtiền lương chung của một nước,là căn cứ để định chính sách tiền lương

Phương pháp xác định tiền lương tối thiểu:

Phương pháp 1: xác định tiền lương tối thiểu dựa trên nhu cầu tối thiểu của người laođộng

Phương pháp 2: xác đinh tiền lương tối thiểu dựa trên cơ sở tiền công trê n thị trườngPhương pháp 3 : xác định tiền lương tối thiểu dựa trên cơ sở thực tế đang trả trong cácdoanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế chính thức

Phương pháp 4: xác định tiền lương tối thiểu trên cơ sở khả năng của nền kinh tế(GDP) và quỹ tiền lương

Chính sách tiền lương:

Chính sách tiền lương là quan điểm, phương thức, cách tính toán để xác địnhmức tiền lương trong một phạm vi Chính sách tiền lương là những nỗ lực của chínhphủ trong tương quan với hệ thống lương quốc gia Chính sách lương nhằm mục đíchkiểm soát và điều tiết cơ cấu lương để đặt được mục tiêu về kinh tế xã hội của chínhphủ Chẳng hạn để bảo vệ những người yếu thế không có khả năng đàm phán lương.Chính phủ ban hành chính sách lương tối thiểu Hay để khuyến khích thu hút, phân bổnguồn nhân lực có hiệu quả Chính phủ ban hành chính sách mức lương khác biệt.Mục tiêu của chính sách tiền lương

Mục tiêu thứ 1: Tiền lương bằng nhau cho các công việc như nhau được thực hiện

Trang 6

trong điều kiện giống nhau

Mục tiêu thứ 2: Tiền lương khác nhau căn cứ vào những khác biệt trong công việchoàn thành, trách nhiệm được giao và phẩm chất

Mục tiêu thứ 3 :Tiền lương chính quyền cần được trả tương xứng với tiền lương khuvực tư nhân

Mục tiêu thứ 4: Các cơ cấu tiền lương của chính quyền phải xem xét lại một cách định

kì và rà soát một cách có hệ thống để đảm bảo có hiệu lực liên tục

Nội dung của chính sách tiền lương hiện hành đối với khu vực nhà nước

Chính sách tiền lương trong khu vực nhà nước có những vấn đề theo trật tự sau: Xácđịnh các loại vị trí công việc và đội ngũ nhân viên để áp dụng bảng lương nào Trìnhbày chính sách tiền lương : gồm tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp khác Bảngthanh toán tiền công ghi rõ các lớp tiền công tương ứng với mỗi lớp công việc Quyđịnh về các chế độ phụ cấp Các bảng biểu về quy tắc trả lương, trả lương làm thêmgiờ Các quy tắc xác định các khoản tiền trả cho những trường hợp đặc biệt ví dụ nhưkhi được đề bạt, thuyên chuyển, hạ chức Các quy tắc liên quan đến tỷ lệ chi trả đặcbiệt như tuyển dụng , khiếu nại của nhân viên các trường hợp nghiêm trọng các tìnhhuống khẩn cấp Các quy tắc chi trả liên quan hình thức nghỉ việc, nghỉ đẻ, những tìnhhuống bất thường và không nhất quán và giải quyết những khiếu nại của nhân viên vềcác quyết định trả công

1.2 Vai trò và tác động của chính sách tiền lương

Một nền công vụ quyết định trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước, sảnxuất hàng hóa công, chính sách phát triển kinh tế xã hội, quản lí dự án các vấn đề thuchi ngân sách, ổn định tài chính phát triển xã hội Chính sách tiền lương góp phầnquan trọng trong việc hình thành một nên công vụ tốt Tiền lương của cán bộ, côngchức phải đặt trong mối quan tâm hàng đầu vì nó tác động trực tiếp đến đời sống, đếnđộng cơ , đến mục tiêu hoàn thành công việc của công chức trong nền công vụ Nềncông vụ tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho phát triển kinh tế, xã hội, phát triển đất nước.Một chính sách tiền lương hợp lý sẽ góp phần kích thích, tạo động lực trong sản xuấtkinh doanh; thúc đẩy phát triển thị trường lao động; khuyến khích người lao động rènluyện nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, góp phần phát triển và phân bố hiệu quả nguồnnhân lực; đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng lực lượng lao động cho các ngành cácvùng lãnh thổ của đất nước nhằm tăng trưởng và phát triển kinh tế; góp phần làm tăngthu nhập, nâng cao đời sống người lao động; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, đồngthuận…Tiền lương là động lực kinh tế thúc đẩy người lao động quan tâm đến côngviệc của họ Trả đúng, trả đủ tiền lương cho người lao động tương xứng với công sức

họ bỏ ra sẽ khuyến khích người lao động quan tâm và gắn bó với công việc mà họ đảmnhận Họ không phải tìm kiếm thu nhập phụ thêm, không bị chệch hướng sức lực rakhỏi công việc của mình Từ đó năng suất lao động sẽ tăng Trên bình diện quốc gia,nền sản xuất sẽ phát triển, kinh tế sẽ tăng trưởng Chính sách tiền lương sẽ tác độngtích cực đến cải thiện đời sống không chỉ của cán bộ công chức, mà của toàn xã hội, từ

đó kích thích sản xuất, dịch vụ toàn xã hội phát triển, tăng thu ngân sách Chính sáchtiền lương hợp với mức lương cơ bản và chế độ khen thưởng, đãi ngộ hợp lý sẽ tạo ramột nền hành chính công được động viên, khuyến khích thỏa đáng Nhờ đó, chính phủ

có thể tuyển dụng được những cán bộ, công chức có năng lực, phục vụ tốt hơn cho nềnhành chính công Trong quá trình làm việc, phần lớn người lao động sẽ từ chối nhữngcám dỗ của đồng tiền bất chính để tránh bị mất việc làm Tham nhũng cũng nhờ đó màđược hạn chế

Trang 7

Từ quan điểm phân tích trên, chúng ta thấy chính sách tiền lương được sử dụngnhư một công cụ mạnh nhằm bảo đảm sản xuất phát triển, duy trì đội ngũ lao động cótrình độ nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn cao, có ý thức kỷ luật lao động tốt, đóng gópcho xã hội năng suất cao, hiệu suất tốt Tiền lương là cơ sở để thỏa mãn vật chất vàtinh thần của bản thân người lao động và gia đình họ, là tụ điểm của mọi vấn đề kinh

tế, chính trị, xã hội, đạo đức công bằng xã hội… Vì thế, chính sách tiền lương có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, việc xây dựng và thực hiện một chính sách tiền lương hợp

lý, có cơ sở khoa học sẽ đem lại không chỉ hiệu quả trước mắt, còn có hiệu quả tácđộng lâu dài

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về chính sách tiền lương

Trong khu vực công, tiền lương là số tiền mà các cơ quan, tổ chức của Nhà nướctrả cho người lao động theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong

hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định Trong hoạt động công vụ, tiềnlương đóng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố tiên quyết thuhút và giữ được người tài tham gia hoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượngchảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư Hiện nay đã có nhiều quốc gia(có đặc điểm kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam) đã thành công trong hoạt độngnày, điển hình như Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc

1.3.1 Singapore

Để thu hút nhân tài cho nền hành chính công, tháng 4/2007, Chính phủSingapore đã công bố chế độ lương mới, trong đó, 95% trong số 64.000 công chứcSingapore được tăng lương và 2/3 trong số này được tăng từ 3-5%.Cụ thể, nhằm đảmbảo cuộc sống cho các cán bộ trẻ và có triển vọng, khuyến khích họ cống hiến hơn nữacho đất nước, tránh tình trạng chảy máu chất xám, Singapore đã tăng mức lương củacán bộ trung cấp trẻ và có triển vọng trong khu vực công lên gần ngang với thu nhậpcủa người ở độ tuổi 32-35 làm việc trong khu vực tư nhân

Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore cũng đã nâng mức lương khởi điểm cho cáccông chức cấp cao (giữ các chức vụ như Thư ký Thường trực, Cố vấn bộ trưởng, Bộtrưởng, Thủ tướng và Tổng thống ) Trong tiền lương của các quan chức cấp cao nàybên cạnh phần trả cố định hàng tháng còn có phần được trả theo tỷ lệ tăng trưởng kinh

tế và hiệu quả công việc hàng năm

Mức lương Bộ trưởng và công chức ở Singapore hiện nay vào loại cao nhất thếgiới Chính phủ và những người ủng hộ chế độ lương cao lập luận rằng chế độ đãi ngộnày là một trong những nguyên nhân góp phần quyết định vào những thành công củaSingapore trong những thập kỷ qua và hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hoá và do sựcạnh tranh về chất xám ngày càng mạnh từ khu vực tư nhân và từ các nước khác ngàycàng quyết liệt, đãi ngộ công chức càng phải được quan tâm để giữ người tài cho bộmáy nhà nước 1 Singapore đã thay đổi phương pháp khen thưởng cán bộ công chức.Theo Singapore, điểm chính yếu là gắn lương với vai trò của cán bộ, công chức vàchất lượng thực thi công vụ của họ Nghĩa là thu nhập của cán bộ, công chức phải hoàntoàn phụ thuộc vào công việc họ làm và mức độ hoàn thành tốt công việc của họ chứkhông phải vào thời gian họ làm trong nền hành chính công (thâm niên) hay bằng cấp

Để áp dụng thành công phương thức này cần có một khuôn khổ đánh giá công bằngchất lương thực thi công vụ của các cá nhân Singapore đã xếp hạng các cán bộ dựatrên 2 tiêu chí: chất lượng thực thi công vụ và tiềm năng Chất lượng thực thi công việcđược sử dụng để quyết định mức tăng lương và thưởng cho cán bộ trong năm đó còntiềm năng sẽ được sử dụng để quyết định tốc độ đề bạt mỗi cán bộ

1 Chính phủ Singapore thực hiện chế độ lương mới, http://nhantainhanluc.com, 16/4/2007

Trang 8

Thu nhập cao hơn dễ dàng trở thành nhân tố có tính động viên cao nhất đối vớicông chức Ngoài thưởng cá nhân, công chức còn được một khoản thưởng tập thể gắnvới chất lượng hoạt động của nền kinh tế quốc dân Mọi công chức đều được nhậnkhoản thưởng này nếu nền kinh tế hoạt động tốt hơn dự kiến Điều này giúp cho mọicán bộ, công chức nhận thức được tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế và độngviên họ góp phần nâng cao sức cạnh tranh kinh tế của đất nước Chính phủ Việt Nam

có thể áp dụng nguyên tắc tương tự vào các lĩnh vực mà Chính phủ mong muốn cáccán bộ, công chức làm việc tốt

1.3.2 Hàn Quốc

Chính phủ Hàn Quốc đã thành công phần nào trong việc thu hút nhân lực, duytrì nhân lực giỏi, kích thích động viên nhân lực, đáp ứng các yêu cầu của pháp luật nhờvào chính sách tiền lương hợp lý của mình Trong cấu trúc tiền lương của Hàn Quốc,tiền lương cơ bản chiếm khoảng 54,7%, bao gồm tiền lương khởi điểm và tăng lươngđịnh kỳ hàng năm Trong đó, mức lương khởi điểm phụ thuộc vào bằng cấp và thịtrường lao động, còn nâng lương hàng năm phụ thuộc vào tuổi, thời gian phục vụ vàđóng góp Bên cạnh đó, chi phí sinh hoạt, tiền phụ cấp chiếm 19,4% cho việc làmthêm giờ, công tác ở vùng sâu, vùng xa; tiền thưởng chiếm khoảng 25,9% tặng chonhững lao động tích cực, gắn bó với cơ sở Chế độ tiền lương này đảm bảo được 4hướng mục tiêu cơ bản nêu ra: trên 50% tiền lương đảm bảo cuộc sống và dưới 50 tiềnlương còn lại dùng để kích thích người lao động.2

1.3.3 Trung Quốc

Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế theo hướng thị trường và điềunày đã làm xói mòn các nền tảng tư tưởng và thực tiễn của hệ thống lương bình quânchủ nghĩa Sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống công vụ cạnh tranh có thể hấp dẫn

và giữ được người tài, đã thúc ép các nhà cải cách Trung Quốc phải thay đổi hệ thốnglương công vụ

Để tăng cường bảo vệ quyền lợi của những người lao động bằng mức lương tốithiểu, Luật Lao động năm 1994 của Trung Quốc đã quy định hệ thống lương tối thiểuchung phải đảm bảo hỗ trợ được những nhu cầu thiết yếu của người lao động Đếnnăm 2003, Trung Quốc chính thức ban hành Quy định về mức lương tối thiểu là đápứng các nhu cầu cơ bản của người lao động và những người phụ thuộc họ, cũng nhưyếu tố về chỉ số giá tiêu dùng ở địa phương

Năm 2006, Trung Quốc thông qua Luật Công vụ Qua đó, đơn giản hóa cơ chếtrả lương bằng cách bãi bỏ lương cơ bản và phụ cấp thâm niên, đồng thời gộp phụ cấpchức vụ và phụ cấp vị trí vào một (gọi chung là lương cơ bản) Trong Kế hoạch 5 nămlần thứ 12 (2011 - 2015), Trung Quốc cũng đã đặt mục tiêu, từng bước nâng cao mứclương tối thiểu, đẩy nhanh xây dựng cơ chế tăng lương cho cán bộ, công chức Qua đó,căn cứ vào thực tiễn để điều chỉnh mức lương tối thiểu và xây dựng cơ chế tăng lươngcho cán bộ, công chức…

2 Phương Ngọc Thạch, Quan hệ giữa tiền lương và tăng trưởng kinh tế, www.quantri.com.vn, 06/08/2008

Trang 9

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TRONG

KHU VỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Hệ thống chính sách tiền lương hiện hành áp dụng trong khu vực nhà nướcTrong khu vực nhà nước, người lao động được áp dụng chế độ tiền lương nhiềubậc có sự phân biệt giữa lao động có trình độ tay nghề và không có tay nghề, giữa laođộng nhẹ và lao động nặng nhọc cũng như sự khác nhau về cường độ và tầm quantrong xã hội của lao động Chế độ tiền lương nhiều bậc gồm có: bảng cấp bậc kỹthuật, thang bậc lương, hệ thống tiền lương chức vụ, hệ số lương đối với từng khuvực

Đối với các công ty nhà nước, Theo nghị định số 205/2004/NĐ-CP Ngày 14tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định về thang bảng lương và chế độ phụ cấplương trong các công ty nhà nước Phụ cấp khu vực gồm 7 mức, mức cao nhất là 1,0

và mức thấp nhất là 0,1 lần mức lương tối thiểu chung Phụ cấp trách nhiệm gồm 4mức, mức cao nhất là 0,5 và mức thấp nhất là 0,1 lần mức lương tối thiểu chung Phụcấp độc hại, nguy hiểm cũng bao gồm 4 mức, mức cao nhất là 0,4 và mức thấp nhất là0,1 lần mức lương tối thiểu chung Ngoài ra còn phụ cấp lưu động và phụ cấp thu hút.Đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Nghị định số204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ có quy định 7 loại bảnglương cho cấp bậc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; 8 loại phụ cấp lương bao gồm phụcấp thâm niên, phụ cấp chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút,phụ cấp lưu động, Phụ cấp độc hại, nguy hiểm và các chế độ phụ cấp đặc thù theonghề hoặc công việc Hệ số lương cao nhất đối với trình độ chuyên môn cao cấp(chuyên gia) là 10 lần mức lương tối thiểu chung Hệ số lương thấp nhất trong hệthống thang bảng lương này là bậc 1 đối với nhân viên phục vụ (hệ số 1,0) Đối vớiphụ cấp, mức cao nhất là 1,3 lần và thấp nhất là 0,15 lần mức lương tối thiểu chung.Mức lương tối thiểu chung của Việt Nam đã được điều chỉnh từ mức 210.000đồng/tháng lên 1.150.000 đồng/tháng (bảng dưới đây) Mức lương tối thiểu cơ bản nàychủ yếu được áp dụng cho lao động làm việc trong khu vực nhà nước

Trang 10

BẢNG 1 Mức lương tôi thiểu trong khu vực nhà nước

Nguồn: ILSSA, Báo cáo xu hướng lao động và xã hội 2015

Theo dự kiến , năm 2016 mức lương tối thiểu sẽ được điều chỉnh tăng Phương ántăng và mức tăng hiện vẫn chưa được quyết định

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

2.2.1 Một số kết quả tích cực và những bất cập của chính sách tiền lương

Quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách chính sách tiền lương nhiều nămnay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từquan điểm, chủ trương này, Chính phủ đã không ngừng triển khai thực hiện, xem xét,điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, tối thiểu vùng; sửa đổi, bổ sung chế độ phụ cấp

ưu đãi, thâm niên theo nghề, phụ cấp đặc thù theo ngành; đổi mới cơ chế tài chính đốivới đơn vị hành chính, sự nghiệp , từng bước hoàn thiện chế độ tiền lương và cảithiện đời sống của cán bộ, công chức và người lao động Quá trình cải cách chính sáchtiền lương ở nước ta từ năm 1993 đến nay đã đem lại những kết quả tích cực, trướctiên là về tiền lương tối thiểu Điều 56 của Bộ luật Lao động ghi: Mức tiền lương tốithiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm công việc giảnđơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và mộtphần tiền lương tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tínhcác mức lương cho các loại lao động khác Từ năm 1993 đến nay, Nhà nước đã 9 lầnđiều chỉnh mức tiền lương tối thiểu, tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho người laođộng

Chính sách tiền lương đối với khu vực hành chính, sự nghiệp đã từng bước thayđổi theo hướng tách sự nghiệp ra khỏi hành chính theo nguyên tắc tạo thêm và nguồnthu và giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp Nhiều đơn vị sự nghiệp đã chuyểnhướng hoạt động giống như các doanh nghiệp công ích, góp phần giảm gánh nặngngân sách nhà nước, tạo điều kiện tăng lương cho khu vực hành chính

Hệ thống bậc lương, thang, bảng lương đã từng bước được đơn giản hóa, được thiết kế

Thời điểm

áp dụng

Mức TLTT

(nghìn đồng/tháng)

Căn cứ xác định và điều chỉnh

01/01/2001 210

- Theo mức lương tối thiểu điều chỉnh năm 1993

- Mứcđộ tăng giá sinh hoạt 51% so với tháng 12/1993

01/01/2003 290 Theo lộ trình của đề án cải cách chính sách tiền lương01/01/2005 350

Ngày đăng: 21/05/2016, 12:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1. Mức lương tôi thiểu trong khu vực nhà nước - tieu luan tien luong tien cong
BẢNG 1. Mức lương tôi thiểu trong khu vực nhà nước (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w