Tiểu luận: Nghiên cứu các công cụ tiền tệ phái sinh và thực tế áp dụng tại Việt Nam như thế nào
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Nam như thế nào?”
Nhóm thực hiện : Nhóm 04, bao gồm các thành viên
+ Nguyễn Đặng Trí Dũng – Nhóm trưởng + Phạm Lệ Trúc Hà
+ Đoàn Huy Hoàng + Phạm Huệ Phương + Nguyễn Thành Phúc + Phạm Thị Thanh Thúy + Nguyễn Ngọc Tuyền
TP HCM, 3/2008
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Trang 42.3.1 Các khái niệm: 14
3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG/ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TIỀN TỆ Ở
3.2 Sơ lược nguyên nhân của thực trạng áp dụng/sử dụng các công cụ phái
Trang 5NỘI DUNG
1 CÔNG CỤ PHÁI SINH LÀ GÌ ?
Như chúng ta cũng đã biết rằng theo thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế thì đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch phái sinh trên thị trường tài chính quốc
tế tương đương 417 tỷ USD Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới
Trong khuôn khổ một hội thảo do Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) và Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) phối hợp tổ chức, các chuyên gia ngành ngân hàng, tài chính đã cùng nhau chia sẻ thực trạng và tìm giải pháp phát triển thị trường phái sinh
Vậy, công cụ phái sinh là gì? Công cụ này sẽ đem lại lợi ích gì cho ngân hàng cũng như doanh nghiệp?
Nói nôm na, công cụ phái sinh chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận của các giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên Công cụ phái sinh gồm các công cụ giao dịch kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swaps), quyền chọn (Options) và tương lai (Futures)
Khi chia sẻ những lợi ích mà ngân hàng thương mại thu được khi thực hiện công
cụ phái sinh ta thấy rằng thực ra, mục đích của ngân hàng thương mại khi tham gia công cụ phái sinh là để bảo hiểm rủi ro giao dịch tài chính cho cả ngân hàng và khách hàng Trong quá trình hoạt động, nếu có sinh lời thì bản chất của nó vẫn là phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không hẳn chỉ đơn thuần là kiếm lời! Nếu vậy, thì doanh nghiệp sẽ được lợi gì? Để rõ ràng & cụ thể chúng ta có thể hình dung & xét tổng thể qua hàng năm của riêng 1 doanh nghiệp nước ngoài khi đưa vốn ngoại tệ vào Việt Nam đầu tư, sau khi thu lợi nhuận và chuyển tiền về nước, nếu sử dụng công cụ phái sinh, họ sẽ tránh được thiệt hại khi có rủi ro về tỷ giá
Trang 6Tiếp đó là các dự án đầu tư với số vốn lớn Các dự án này đều vay hay mua chịu một lượng lớn hàng hóa nước ngoài bằng USD, nếu sử dụng hoán đổi lãi suất (Swaps) thì có thể tránh được thiệt hại không nhỏ với những biến động khó lường của thị trường tiền tệ Thế nhưng, chủ các dự án này gần như chưa bao giờ sử dụng công cụ phái sinh
Ngay cả như quỹ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước, tương đương với lượng ngoại tệ của vài chục tuần nhập khẩu cũng đang tồn tại như một thứ "quỹ chết trong ao tù", mặc dù lượng dự trữ tăng lên và đồng USD đang yếu đi từng ngày Giá như có một cơ chế rõ ràng, cho phép sử dụng quỹ này thích ứng với các công cụ phái sinh thì đồng vốn sẽ được sinh lời thay vì nằm im trong két sắt
Trên đây là chúng ta nắm sơ qua về thế nào là công cụ phái sinh & lợi ích của chúng Ở các phần sau, chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu hơn vào từng công cụ/nghiệp vụ và sau cùng là chúng ta cùng nhau tìm hiểu thực trạng sử dụng/áp dụng của chúng tại Việt Nam
2 CÁC NGHIỆP VỤ CỦA CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH
Chúng ta căn cứ vào tính chất giao dịch trên thị trường ngoại hối & nội dung kinh doanh thì từ các công cụ phái sinh ở trên chúng ta có các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối như sau:
+ Nghiệp vụ giao ngay (Spot)
+ Nghiệp vụ kỳ hạn (forward)
+ Nghiệp vụ hoán đổi (Swaps)
+ Nghiệp vụ tương lai (future)
+ Nghiệp vụ quyền chọn (Option)
Trang 7Trong đó nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi được thực hiện phi tập trung; nghiệp vụ quyền chọn có thể được thực hiện phi tập trung hay là tập trung trên sở giao dịch; nghiệp vụ tương lai chỉ được thực hiện trên sở giao dịch
Ngoài ra nghiệp vụ giao ngay được coi là nghiệp vụ sơ cấp (nghiệp vụ cơ sở), còn các nghiệp vụ kỳ hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn là các nghiệp vụ phái sinh, tức là được bắt nguồn từ nghiệp vụ giao ngay
2.1 Tóm tắt những điểm chính của nghiệp vụ giao ngay
Kinh doanh giao ngay tiền tệ/ngoại hối được thống nhất trên thị trường quốc tế chỉ bao gồm việc mua bán các đồng tiền khác nhau có trên tài khoản ngân hàng và các bên mua bán tiến hành thanh toán ngay sau khi đã thỏa thuận Khái niệm giao ngay ở đây thường là vào ngày làm việc thứ 2 kể từ ngày ký kết hợp đồng Đây chính là điểm đặc trưng để phân biệt giữa thị trường giao ngay với các thị trường khác
Tỷ giá giao ngay được xác định theo quy luật cung cầu của thị trường ngoại hối liên ngân hàng
Theo nghĩa rộng thị trường giao ngay bao gồm thị trường bán buôn (interbank) và thị trường bán lẻ, nhưng do doanh số giao dịch trên interbank là chủ yếu; do đó, theo nghĩa hẹp người ta coi thị trường giao ngay chính là thị trường liên ngân hàng
Thị trường liên ngân hàng giao ngay là thị trường lớn nhất toàn cầu
Thị trường ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung, bao gồm các NHTM, các công ty tài chính lớn, những nhà môi giới ngoại hối và cả NHTW, trong đó các NHTM đóng vai trò chủ chốt Các thành viên tham gia thị trường liên hệ với nhau bằng điện thoại, telex, mạng vi tính và hệ thống Swift Các ngân hàng và các nhà môi giới có mối liên hệ khăng khít, hoạt động của họ ở 1 số trung tâm tài chính lớn hầu như là 24giờ/ngày nhằm nắm bắt kịp thời diễn biến của thị trường ngoại hối toàn cầu
Trang 8* Tính hiệu quả của thị trường giao ngay được thể hiện ở chỗ:
+ Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán là rất hẹp, thông thường nhỏ hơn 0.1% + Do tốc độ truyền tin nhanh chóng, cho nên những thay đổi của thị trường đã ảnh hưởng tức thời lên tỷ giá
+ Thị trường này có tính thanh khoản cao
2.2 Giao dịch ngoại hối kỳ hạn
Ngày nay, giao dịch ngoại hối kỳ hạn đã phát triển rất nhanh và đóng 1 vai trò quan trọng trên thị trường ngoại hối Giao dịch kỳ hạn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với công ty khi tham gia xuất - nhập khẩu, vay nợ nước ngoài hay thực hiện đầu tư quốc tế Thị trường kỳ hạn còn là nơi hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ để kiếm lời
Thông thường tỷ giá kỳ hạn sẽ khác với tỷ giá giao ngay, nếu tỷ giá kỳ hạn bằng với tỷ giá giao ngay và lãi suất của 2 nước là khác nhau thì sẽ xuất hiện các hoạt động arbitrage (tức kinh doanh chênh lệch lãi suất) để kiếm lời
+ Hợp đồng kỳ hạn: là 1 thỏa thuận giữa 2 bên, người mua và người bán, trong đó yêu cầu giao 1 hàng hóa tại một thời điểm với giá cả đã đồng ý ngày hôm nay Giống như 1 quyền chọn trên thị trường OTC, một hợp đồng kỳ hạn có thể được
bù trừ bằng cách tạo ra 1 hợp đồng kỳ hạn mới
Trang 9Các hợp đồng kỳ hạn đôi khi được gọi là các thỏa thuận kỳ hạn và rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày (VD: tiền thuê căn hộ, vé máy bay không được hoàn trả,}
Thị trường kỳ hạn tạo ra sự thuận lợi cho việc trao đổi các hợp đồng kỳ hạn về các loại ngoại tệ
Hợp đồng kỳ hạn tiền tệ là một thỏa thuận giữa doanh nghiệp và ngân hàng hay giữa hai ngân hàng với nhau để trao đổi một số lượng tiền nhất định với tỷ giá kỳ hạn vào 1 ngày nào đó trong tương lai
Hợp đồng kỳ hạn mua hoặc bán đứt là một thỏa thuận mua hoặc bán một ngoại tệ nào đó trong 1 kỳ hạn nhất định
Hợp đồng kỳ hạn không gia nhận (NDF) : là 1 thỏa thuận liên quan đến 1 vị thế về
số lượng nhất định một đồng tiền nào đó với 1 tỷ giá xác định vào ngày thanh toán
cụ thể trong tương lai NDF không ra trao đổi tiền tệ thực sự tại thời điểm tương lai
* Các đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn
+ Hợp đồng kỳ hạn thích hợp với các công ty lớn vì các giao dịch kỳ hạn thường có giá trị ít nhất từ 1.000.000USD trở lên
+ Hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là được thiết kế thích hợp để đáp ứng yêu cầu của
cả hai bên cả về qui mô giao dịch và ngày giao kỳ hạn
+ Một nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn là nó không thể bị hủy bỏ đơn phương mà không có sự thỏa thuận của cả hai đối tác
+ Nghĩa vụ của mỗi bên không thể chuyển giao cho bên thứ 3, vì vậy hợp đồng kỳ hạn không có tính thanh khoản cao
Không có gì bảo đảm rằng sẽ không có 1 bên vỡ nợ và hủy bỏ các nghĩa vụ hợp đồng
2.2.2 Các công thức:
Trang 102.2.2.1 Các công thức tổng quát xác định tỷ giá kỳ hạn : Các ký hiệu :
+ PV : giá trị hiện tại
+ FV : giá trị kỳ hạn
+ PVC : giá trị hiện tại của đồng tiền yết giá
+ t : thời hạn tính theo ngày
+ dpy : cơ sở tính lãi suất – số ngày trong 1 năm
+ S : tỷ giá giao ngay S =
PV
PVC T
+ F : tỷ giá kỳ hạn
F = S
)1
(
)1
(
dpy R
dpy R
C C
T T
tt
+
+
* Khi 2 đồng tiền có cùng cơ sở tính lãi suất:
Trang 11F = S + S
) 1
(
) (
dpy R
dpy R
R
t t
C
C T
(
)(
dpy R
dpy R
R
T C
T C
T
tdpy
tdpy
T T
(
)(
dpy R
dpy R
R
C C
C C
t
tdpyC
T+
(
) (
dpy R
dpy R
R
t t
C
C T
+
−
Từ công thức trên ta thấy:
Trang 12+ P>0 (khi RT > Rc) : Điểm kỳ hạn sẽ là 1 số dương và được cộng vào tỷ giá giao ngay Trong trường hợp này thì tỷ giá kỳ hạn sẽ lớn hơn tỷ giá giao ngay, nghĩa là đồng tiền định giá sẽ giảm giá kỳ hạn và đồng tiền yết giá sẽ lên giá kỳ hạn Như vậy, chỉ cần căn cứ vào mức lãi suất của 2 đồng tiền, chúng ta cũng biết được rằng: đồng tiền có lãi suất cao sẽ giảm giá kỳ hạn và đồng tiền lãi suất thấp sẽ lên giá kỳ hạn
Trong trường hợp này thì tỷ giá kỳ hạn nhỏ hơn tỷ giá giao ngay, nghĩa là đồng tiền định gia sẽ lên giá kỳ hạn và đồng tiền yết giá sẽ giảm giá kỳ hạn Như vậy, căn cứ vào mức lãi suất của 2 đồng tiền, chúng ta cũng biết được rằng: đồng tiền có lãi suất thấp sẽ lên giá kỳ hạn và đồng tiền có lãi suất cao sẽ giảm giá kỳ hạn
bằng nhau
* Các nhân tố ản hưởng lên điểm kỳ hạn:
+ Nếu tỷ giá giao ngay trong ngày biến động càng lớn thì điểm kỳ hạn thay đổi càng nhiều
+ Chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền càng lớn thì điểm kỳ hạn cũng càng lớn + Kỳ hạn càng dài thì điểm kỳ hạn càng lớn
2.2.3 Niêm yết tỷ giá kỳ hạn:
Có 2 phương pháp niêm yết là niêm yết theo kiểu Outright & kiểu Swap:
+ Niêm yết tỷ giá kỳ hạn theo kiểu Outright là cách niêm yết tỷ giá đầy đủ, chúng ta không cần tính toán gì thêm
+ Niêm yết tỷ giá theo kiểu Swap là cách niêm yết tỷ giá theo điểm kỳ hạn
Trang 13Trong thực tế, trên thị trường bán lẻ (giao dịch với khách hàng), các NHTM niêm yết tỷ giá theo kiểu Outright; còn trên thị trường Interbank, tỷ giá kỳ hạn được niêm yết theo kiểu Swap
2.2.4 Bảo hiểm rủi ro tỷ giá bằng hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn thường được dùng để bảo hiểm rủi ro cho các trường hợp sau: 2.2.4.1 Bảo hiểm thanh khoản nhập khẩu:
Thông thường các nhà nhập khẩu được yêu cầu thanh toán cho nhà xuất khẩu nước ngoài bằng ngoại tệ Ví dụ, nếu nhà nhập khẩu của Úc mua ô tô từ Nhật Bản, thì việc thanh toán cho nhà xuất khẩu Nhật Bản có thể được tiến hành bằng đồng yên Nhật Nhà nhập khẩu phải đối mặt với rủi ro tỷ giá do cam kết thanh toán cho nhà xuất khẩu 1 lượng ngoại tệ cố định Nếu giá AUD giảm so với JPY, thì chi phí bằng AUD để mua JPY sẽ tăng lên; và vì lẽ đó, nhà nhập khẩu sẽ xem xét để sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm/ phòng ngừa rủi ro cho chính mình
2.2.4.2 Bảo hiểm khoản thu xuất khẩu
Nếu khoản thu xuất khẩu bằng ngoại tệ, thì nhà xuất khẩu sẽ chịu 1 rủi ro về tỷ giá Nếu ngoại tệ lên giá, sẽ phát sinh lãi; còn nếu giảm giá thì sẽ phát sinh lỗ Điều này hàm ý rằng nếu không tiến hành bảo hiểm rủi ro về tỷ giá thì thu nhập bằng VNĐ của nhà xuất khẩu sẽ không chắc chắn Để biết trước và cố định thu nhập bằng VNĐ, nhà xuất khẩu có thể dùng hợp đồng kỳ hạn để lọai bỏ rủi ro tỷ giá bằng cách bán kỳ hạn khoản thu xuất khẩu bằng ngoại tệ
2.2.4.3 Bảo hiểm khoản đầu tư bằng ngoại tệ:
Việc Ngân hàng huy động bằng ngoại tệ để đầu tư bằng ngoại tệ làm cho tài sản bên nợ và tài sản bên có bằng nhau (bỏ qua chênh lệch lãi suất huy động và cho vay), nghĩa là không tạo ra trạng thái ngoại tệ, do đó không chịu rủi ro tỷ giá Tuy nhiên, ngày nay, do thị trường tài chính quốc tế đã liên thông, do đó, các ngân hàng (hay nhà đầu tư nói chung) có thể huy động bằng đồng tiền này và đầu tư vào 1 đồng tiền khác, làm cho tài sản nợ và tài sản có của các nguyên tệ trở nên
Trang 14không cân xứng, làm phát sinh trạng thái ngoại tệ và sẽ chịu rủi ro về tỷ giá Vì lẽ
đó, nhà đầu tư sẽ xem xét để sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm/phòng ngừa rủi ro cho chính mình
2.2.4.4 Bảo hiểm các khoản vay bằng ngoại tệ
Việc đi vay ngoại tệ không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng Tuy nhiên, nếu ngoại tệ
đi vay được chuyển hóa ra đồng tiền khác (thông thường là được bán để đổi lấy nội tệ) phát sinh rủi ro về tỷ giá Chi phí bằng nội tệ để hoàn trả khoản vay ngoại
tệ sẽ tăng lên nếu như nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ nhà đầu tư sẽ xem xét để sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm/phòng ngừa rủi ro cho chính mình Ngoài ra, trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng & các của nhà đầu tư nói chung, hợp đồng kỳ hạn được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến vào việc lực chọn các đồng tiền để đầu tư, lựa chọn đồng tiền đi vay, đặc biệt là trong việc kinh doanh chênh lệch (arbitrage) lãi suất/tỷ giá
2.3 Giao dịch ngoại hối giao sau:
2.3.1 Các khái niệm:
Hợp đồng tiền tệ giao sau là một thỏa thuận giữa 2 đối tác ấn định các điều kiện trao đổi một số lượng tiền tệ cụ thể với tỷ giá được ấn định vào lúc thỏa thuận hợp đồng
Các hợp đồng giao sau giống với hợp đồng kỳ hạn ở tất cả các khía cạnh ngòai trừ
1 số chi tiết quan trọng là các hợp đồng giao sau là những thỏa thuận đã được tiêu chuẩn hóa để trao đổi tiền tệ Thuật ngữ hợp đồng “đã được tiêu chuẩn hóa” ở đây
ám chỉ đến thỏa thuận cụ thể với số lượng cụ thể vào 1 ngày giao cụ thể hay ngày đáo hạn cụ thể trong tương lai
2.3.2 Hợp đồng giao sau và điều chỉnh theo thị trường:
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của hợp đồng tiền tệ giao sau là cơ chế điều chỉnh theo thị trường mỗi ngày
Trang 15Ví dụ như sau:
Giả sử mua 1 hợp đồng giao sau đồng Bảng Anh vào tháng 6 với giá mở cửa là
$1,350/£ Giả sử ký quỹ ban đầu là $2000 Công ty thanh toán bù trừ sẽ thực hiện điều chỉnh tài khoản ký quỹ theo các mức giá thanh toán hằng ngày với giá thanh toán hằng ngày là trung bình các mức giá của các giao dịch cuối cùng mỗi ngày Vào ngày thứ nhất, một hợp đồng £62.500 có giá thị trường là :
Vậy việc mua £ tạo khoản lãi cho người mua là $84.450-$84.375 = $75
Phần này sẽ cộng thêm vào tiền ký quỹ ban đầu của người mua Giả sử, vào ngày thứ 2, tỷ giá hợp đồng giao sau tháng 6 của £ giảm còn $1,3408/£ Lúc này hợp đồng chỉ có giá trị là: $1,3408 x £62.500 = $83.800
So với giá hợp đồng thanh toán kỳ hạn trước là $84.450, có 1 khoản lỗ là:
phải đóng thêm vào tài khoản ký quỹ để đủ $2.000 số tiền phải đóng thêm ít nhất là: $675
Trang 16Nếu ngày thư tư, tỷ giá hợp đồng giao sau là $1,3550/£, hợp đồng sẽ có giá trị là
$84.687,5 khoản lãi so với giá thanh toán ngày hôm trước là $937,5 (=$84.687,5 - $83.750)
Lúc này, tài khoản ký quỹ là $2.937,5 và người mua hợp đồng giao sau có thể rút
ra khỏi quỹ là $937,5 hay có thể sử dụng vào 1 hợp đồng giao sau khác
Nội dung của việc điều chỉnh theo thị trường tóm tắt trong bảng sau:
hay giá thanh toán
Giá hợp đồng
Điều chỉnh ký quỹ
Góp thêm vào (+) hay rút
ra (-) khỏi quỹ
Tài khoản ký quỹ
+$2.000
0
0 +$625 -$937,5
Trang 172.3.3 So sánh giữa hợp đồng giao sau & hợp đồng kỳ hạn
Các thành
viên tham
gia
Các ngân hàng, các nhà môi giới và các công ty đa quốc gia, những nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro
Các ngân hàng, các nhà môi giới, các công ty đa quốc gia, thích hợp cho các nhà đầu cơ
Nhà bảo
đảm
Trang 18giao dịch giá mua và giá bán của ngân
hàng
Thị trường
thứ cấp
2.3.4 Mối quan hệ giữa thị trường giao sau & thị trường kỳ hạn
Những giao dịch hằng ngày trên thị trường ngoại hối cho thấy các hợp đồng kỳ hạn
có quy mô lơn gấp nhiều lần so với thị trường hợp đồng giao sau nhưng chúng vẫn
có mối quan hệ phụ thuộc tương hỗ lẫn nhau giữa chúng theo cách thị trường này
có thể tác động đến thị trường kia Sự phụ thuộc qua lại lẫn nhau này là do sự tác động các nhà kinh doanh chênh lệch thực hiện các trạng thái cân bằng vị thế mua
& vị thế bán ở 2 thị trường trong những tình huống giá cả ở 2 thị trường này có sự chênh lệch
2.4 Giao dịch ngoại hối quyền chọn
2.4.1 Các khái niệm:
Các quyền chọn tiền tệ cho người mua cơ hội nhưng không bắt buộc mua hoặc bán với giá đã được thỏa thuận trước, gọi là “giá thực hiện” trong tương lai
Quyền chọn chỉ có giá trị cho đến “ngày hết hiệu lực” hay ngày đến hạn
Người mua phải trả cho người bán một khoản phí cho quyền chọn gọi là “phí quyền chọn”
Theo đó, trên thị trường chính thức, các hợp đồng sẽ được tiêu chuẩn hóa; ngược lại, trên thị trường phi chính thức OTC, chi tiết các hợp đồng không được tiêu chuẩn hóa mà sẽ được thỏa thuận giữa các đối tác với nhau
Trên thị trường OTC sẽ bao gồm 2 bộ phận
Trang 19+ Thị trường bán lẻ: bao gồm các khách hàng không phải là ngân hàng
+ Thị trường bán buôn giữa các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, và các công ty kinh doanh chuyên môn hóa
* Quyền chọn kiểu Mỹ: cho phép người nắm giữ thực hiện vào bất kỳ lúc nào cho đến trước ngày hết hiệu lực
Ví dụ: Quyền chọn mua 1 triệu Euro với giá $0,9/Euro từ ngày hôm nay cho đến ngày hết hiệu lực là ngày 15/09/2003
* Quyền chọn kiểu Châu Âu: cho phép người nắm giữ thực hiện chỉ vào ngày hết hiệu lực
Ví dụ: Quyền chọn mua 1 triệu Euro với giá $0,9/Euro chỉ vào ngày 15/09/2003
* Quyền chọn mua (call option): cho phép người nắm giữ được mua 1 ngoại tệ nào đó với tỷ giá thực hiện trong 1 khoản thời gian nhất định
Quyền chọn mua được gọi là:
+ Cao giá ITM (in the money) nếu tỷ giá giao ngay > tỷ giá thực hiện
+ Ngang giá ATM (at the money) nếu tỷ giá giao ngay = tỷ giá thực hiện
+ Kiệt giá OTM (out the money) nếu tỷ giá gia ngay < tỷ giá thực hiện
Người nắm giữ quyền chọn có thể thực hiện (hay bán) quyền chọn Họ cũng có thể
để quyền chọn hết hiệu lực, trong trường hợp này họ sẽ mất phí quyền chọn
Phí quyền chọn mua sẽ cao hơn khi:
+ Chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện lớn hơn
+ Thời gian đáo hạn dài hơn
+ Tính bất ổn của tiền tệ cao hơn
Trang 20* Quyền chọn bán (put option): cho phép người nắm giữ được bán 1 ngoại tệ nào đó với tỷ giá thực hiện trong 1 khoản thời gian nhất định
Quyền chọn bán được gọi là:
+ Cao giá ITM nếu tỷ giá giao ngay < tỷ giá thực hiện
+ Ngang giá ATM nếu tỷ giá giao ngay = tỷ giá thực hiện
+ Kiệt giá OTM nếu tỷ giá giao ngay > tỷ giá thực hiện
Phí quyền chọn bán sẽ cao hơn khi:
+ Chên lệch giữa tỷ giá thực hiện và tỷ giá giao ngay lớn hơn
+ Thời gian đáo hạn dài hơn
+ Tính bất ổn của tiền tệ cao hơn
2.4.2 Việc sử dụng & lợi nhuận của các quyền chọn
Nếu các doanh nghiệp kỳ vọng ngoại tệ sẽ tăng giá trong tương lai, họ có thể mua quyền chọn mua ngoại tệ đó:
Lợi nhuận = giá bán – giá thực hiện – phí quyền chọn
Đối với bên bán quyền chọn mua, nếu kỳ vọng ngoại tệ giảm giá trong tương lai họ
có thể bán quyền chọn mua ngoại tệ đó:
Lợi nhuận = phí quyền chọn – giá mua + giá thực hiện
Người mua quyền chọn mua sẽ hòa vốn khi:
Giá bán = giá thực hiện + phí quyền chọn
Người bán quyền chọn mua sẽ hòa vốn khi:
Giá mua = giá thực hiện + phí quyền chọn
Trang 21Để thấy được các quyền chọn tiền tệ có thể sử dụng như thế nào hãy xem xét 1 công ty nhập khẩu Mỹ phải chi trả SFr 62.500 cho 1 nhà nhập khẩu Thụy Sĩ trong thời hạn 60 ngày Nhà nhập khẩu có thể mua quyền chon mua kiểu Châu Âu đồng Franc Thụy Sĩ để trả cho nhà xuất khẩu với tỷ giá vào ngày đến hạn (giá thực hiện) Giả sử phí quyền chọn là $0,02 cho mỗi SFr và giá thực hiện là $0,64/SFr Nhà nhập khẩu phải chi trả $1250 để được quyền mua SFr62.500 với giá
$0,64/SFr vào cuối ngày thứ 60 Nếu vào lúc đó, các khoản thanh toán của nhà nhập khẩu giảm do giá trị của SFr tăng lên, giả sử là $0,70/Sfr thì quyền chọn ở trạng thái cao giá ITM Trong trường hợp này,nhà nhập khẩu sẽ thực hiện quyền chọn mua và mua đồng Franc Thụy Sĩ với giá $0,64 Nhà nhập khẩu sẽ thu được khoản lợi nhuận là $3750 (=SFr62.500 x$0,06) cao hơn $1.250 trả cho chi phí quyền chọn Nếu tỷ giá giảm dưới tỷ giá thỏa thuận, chẳng hạn là $0,60/Sfr, thì gọi
là kiệt giá – OTM Kết quả là nhà nhập khẩu sẽ để cho quyền chọn hết hạn và sẽ mua SFr trên thị trường giao ngay Mặc dù lỗ $1.250 phí quyền chọn nhưng vẫn còn tốt hơn sử dụng các hợp đồng kỳ hạn hoặc các hợp đồng giao sau với tỷ giá thỏa thuận ở mức $0,64/SFr
Hình 1: Lợi nhuận từ việc mua quyền chọn mua với các giá giao ngay tại ngày đáo hạn
625
0 -625 -1.250 -1.875
$0,60 $0,62 $0,64 $0,66 $0,68 $0,70 Giá giao ngay của
SFr trong thời gian hiệu lực
Giá thực hiện