1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

de tai ĐẶNG NGUYỆT đề tài NCKH

152 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là dân tộc đông thứ 9 trong các dân tộc Việt Nam, đã cắm rễ trênmảnh đất Việt từ lâu đời, dân tộc Dao cũng xác lập cho mình cho mình một khônggian văn hóa riêng, trong không gian đó, cái

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



ĐẶNG THỊ NGUYỆT

ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC DAO

QUA TỤC NGỮ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chuyên ngành: Sư phạm Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kiến Thọ

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Mục lục ii

Danh mục bảng iv

Phần mở đầu 5

Phần nội dung 14

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC DAO 14

1.1 Lịch sử tộc người 15

1.2 Đời sống kinh tế 19

1.3 Đời sống văn hoá 23

1.3.1 Ngôn ngữ và chữ viết 23

1.3.2 Trang phục 24

1.3.3 Thôn xóm và nhà ở 26

1.3.4 Đời sống tâm linh 27

1.3.5 Ăn uống, y học dân tộc 36

1.3.6 Văn nghệ dân gian 37

Chương 2: TỤC NGỮ - KHO KINH NGHIỆM DÂN GIAN PHONG PHÚ CỦA DÂN TỘC DAO 41

2.1 Vị trí của tục ngữ trong đời sống dân tộc Dao 41

2.2 Khái niệm về văn hóa ứng xử 46

2.3 Tục ngữ Dao –Văn hóa ứng xử của người Dao với môi trường tự nhiên và lao động sản xuất 47

2.3.1 Những tri thức về tự nhiên và lao động sản xuất 47

2.3.2 Những đức tính đáng quý của con người lao động 55

2.4 Tục ngữ Dao- Những bài ca giáo lý truyền thống của người Dao 58

2.5 Tục ngữ Dao - biểu hiện tư tưởng đạo đức truyền thống của nhân dân lao động 62

2.6 Tục ngữ Dao- Văn hóa ứng xử trong cộng đồng người Dao qua tục ngữ 71

2.6.1 Văn hóa ứng xử trong gia đình 71

Trang 3

2.7 Tục ngữ Dao – Văn hóa trong giao tiếp 95

2.8 Tục ngữ Dao – Dấu ấn tín ngưỡng dân tộc 99

Chương 3: LỐI TƯ DUY DIỄN ĐẠT ĐỘC ĐÁO ĐẶC SẮC CỦA DÂN TỘC DAO 106

3.1 Không gian và thời gian trong tục ngữ Dao 106

3.1.1 Không gian trong tục ngữ Dao 106

3.1.2 Thời gian trong tục ngữ Dao 109

3.2 Cấu trúc của tục ngữ Dao 110

3.2.1 Tục ngữ Dao đa dạng và linh hoạt về cấu trúc 110

3.2.2 Tục ngữ Dao có tính chất đối xứng 115

3.2.3 Các kiểu cấu trúc câu trong tục ngữ dân tộc Dao 116

3.3 Tục ngữ Dao đa dạng và linh hoạt về vần, nhịp 118

3.3.1 Vần trong tục ngữ Dao 118

3.3.2 Nhịp trong tục ngữ Dao 122

3.4 Kết cấu lặp trong tục ngữ Dao 124

3.5 Ngôn ngữ trong tục ngữ dân tộc Dao 126

3.5.1 Ngôn ngữ Dao thể hiện lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân 127

3.5.2 Ngôn ngữ trừu tượng, Hán - Việt 128

3.6 Các kiểu suy luận của người Dao trong tục ngữ 128

3.6.1 Liên hệ tương đồng 129

3.6.2 Liên hệ không tương đồng 130

3.6.3 Liên hệ tương phản, đối lập 131

3.6.4 Liên hệ nhân quả, phụ thuộc 132

3.7 Dấu ấn văn hóa nông nghiệp của người Dao qua hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng 133

3.7.1 Hình ảnh về các hiện tượng tự nhiên 135

3.7.2 Hình ảnh về thực vật 136

3.7.3 Hình ảnh các loài vật trong tục ngữ Dao 137

PHẦN KẾT LUẬN 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng câu tục ngữ theo chủ đề 64

Bảng 2.3 Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các mối quan hệ trong gia đình dân tộc Dao 74

Bảng 3.1: Bảng thống kê hình ảnh không gian xuất hiện trong tục ngữ Dao 107

Bảng 3.2: Bảng thống kê số câu tục ngữ theo số từ 114

Bảng 3.3: Bảng thống kê tỷ lệ các mối liên hệ trong trong tục ngữ Dao 129

Bảng 3.4: Bảng thống kê tần số xuất hiện những hình ảnh về tự nhiên, thực vật và động vật trong tục ngữ Dao 134

Bảng 3.5: Bảng thống kê tần suất của một số hình ảnh về thực vật xuất hiện trong tục ngữ dân tộc Dao 137

Bảng 3.6: Bảng thống kê tần số xuất hiện của một số hình ảnh các loài động vật trong tục ngữ Dao 138

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ trước đến nay, kho tàng văn hóa các dân tộc thiểu số luôn được cácnhà nghiên cứu quan tâm khai thác Đặc biệt từ sau “Nghị quyết hội nghị lần thứnăm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 8 về xây dựng và phát triển nền văn hóatiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu về lĩnh vực này Đảng ta đã nhận định: “những thành tựu của cuộc cáchmạng khoa học công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội

để chúng ta tiếp thụ những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ranhững thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” [40] Đúng vậy,

sự phát triển của nền kinh tế thị trường với xu hiến hiện đại hóa đã khiến con ngườinhìn ra thế giới nhiều hơn mà không biết rằng trong nội tại của dân tộc mình vẫntiềm ẩn những viên ngọc quý Nghị quyết của Đảng được ban hành, đây là lúcchúng ta nhìn lại quá khứ để tìm ra những thứ đã tạo nên những giá trị của ngàyhôm nay Chính sách “ bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”

đã huy động được đông đảo đội ngũ nghiên cứu hướng về dân tộc để tìm ra nhữngmảnh ghép đã tạo nên bức tranh văn hóa Việt Nam hiện nay Rất nhiều công trìnhsưu tầm, nghiên cứu,… được tiến hành và đạt được những thành quả đáng quý cả vềvăn hóa vật thể lần văn hóa phi vật thể Là một công dân của nước Việt Nam, hòatrong dòng chảy của văn hóa các dân tộc Việt Nam, bản thân cũng muốn làm mộtđiều gì đó để góp phần tô đậm thêm sắc màu đất nước như là một hành động nhằmgiữ cho ngọn lửa văn hóa dân tộc không bao giờ mờ nhạt

1.2 Dải đất hình chữ S của chúng ta khoác trên mình chiếc áo nhiều màu sắcđược thêu dệt bởi những nét bản sắc văn hóa khác nhau Bản sắc dân tộc, cái màdân tộc nào cũng phải khoác trên mình Đó là cái đẹp được kết tinh từ bao đời củaông cha tổ tiên Là dân tộc đông thứ 9 trong các dân tộc Việt Nam, đã cắm rễ trênmảnh đất Việt từ lâu đời, dân tộc Dao cũng xác lập cho mình cho mình một khônggian văn hóa riêng, trong không gian đó, cái đẹp về con người, về sinh hoạt, vềnghệ thuật, về phong tục tập quán,… hiện lên như một bức tranh đa màu của cuộcsống tộc người này Văn học dân gian là một phần quan trọng tạo nên bức tranh đa

Trang 6

màu ấy, trong đó, tục ngữ dân tộc Dao là một “di sản” quý báu làm cho bản sắc vănhóa của người Dao mãi mãi trường tồn.

Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian mang đậm dấu ấn cốt cách và hơi thởcủa con người, sản phẩm của quá trình truyền miệng ấy qua thời gian vẫn giữ đượctrong mình một bề dày văn hóa với đầy đủ diện mạo của nó Hơn nữa, những đặctrưng của nó như ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ lưu truyền,… đã khiến cho việc sửdụng tục ngữ được phổ biến hơn so với các thể loại khác, tính đời thường trong tụcngữ chính là sự gặp gỡ giữa những người dân lao động chất phác với những nét vănhóa cổ truyền trường tồn trong không gian sống ấy Với mục đích “Ôn cố tri tân”,

chúng tôi cũng có nguyện vọng soi chiếu lớp tục ngữ để lần tìm những mảng màu

văn hóa hiện đang ẩn mình trong thứ văn học dân gian độc đáo ấy

1.3 Trên thực tế, nghiên cứu văn hóa dân tộc Dao nói chung và văn học dân

gian Dao nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nhưng chưa toàn diện, vì những

nghiên cứu chỉ tập trung ở góc độ sưu tầm, biên soạn mang tính chất giới thiệu đếnđộc giả kho tàng văn hóa văn học chứ chưa đi sâu vào khai thác cái hay, cái đẹptrong các công trình đó Nghiên cứu tục ngữ dân tộc Dao lại càng hạn chế hơn, mớichỉ xuất hiện các cuốn sách sưu tầm, thống kê và mới chỉ phân tích chúng với tínhchất khái quát ở một phạm vi hẹp, chưa làm nổi bật lên được những nét đặc sắc vềnội dung, nghệ thuật của tục ngữ Dao cũng như đặc trưng văn hóa được thể hiệntrong đó Những sự hạn chế này đã vô tình tạo nên một khoảng trống trên bộ mặtvăn hóa dân tộc Dao nói riêng cũng như văn hóa dân tộc thiểu số nói chung Việclựa chọn đề tài này của chúng tôi là một sự nỗ lực lấp đầy khoảng trống đó

1.4 Là người dân tộc Dao, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đất Quảng Ninh,nơi mà có số lượng dân tộc Dao đứng thứ hai trong tỉnh Từ thuở nhỏ đã được tắmmát trong không gian văn hóa đầy sắc màu của dân tộc Dao, đó là nguồn cảm hứngthôi thúc tác giả tìm về cội nguồn, tìm về cái nôi của mình để xem ông cha ta đãươm mầm cho bông hoa của dân tộc như thế nào mà tất cả đều hiện lên thật sinhđộng, muôn hình muôn vè từ cuộc sống, sinh hoạt, đến phong tục tập quán, tínngưỡng, Từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành, không một người dân tộc Dao nàolại không được ông bà, cha mẹ truyền lại những kinh nghiệm sống quý báu, những

Trang 7

lời răn dạy đầy ý nghĩa,… trong mỗi bước bước đường đời cùa mỗi người con dântộc Dao đều có sự chỉ đường dẫn lối của thế hệ trước Và trong mỗi bước đi ấy ôngcha ta đã gieo vào trong tiềm thức của mỗi người những nét đẹp văn hóa như là mộtcách giữ cho ngọn lửa văn hoa luôn cháy mãi trong tâm hồn mỗi người Sự nỗ lực

ấy là điều mà con cháu đời sau đều cần phải khắc cốt ghi tâm Việc lựa chọn đề tàinày của chúng tôi cũng xuất phát từ mong muốn giữ gìn, phát huy những cái đẹp màcha ông đã gieo xuống cho mảnh đất quê hương và để màu xanh ấy luôn hiện hữatrong tâm hồn của mỗi người đang mang dòng máu dân tộc Dao

1.5 Đến với văn hóa dân tộc không phải là một sự ngẫu nhiên, mong muốntìm về vốn văn hóa dân tộc của mình bằng việc nghiên cứu khoa học được thôi thúcbởi tình yêu mến, quý trọng các giá trị văn hóa của người hướng dẫn đề tài này,một người có niềm đam mê sâu sắc với văn học dân tộc thiểu số Đam mê với vănhọc dân tộc cũng như những thành quả mà thầy tạo nên đã thắp cho ngọn lửa tìnhyêu dân tộc của chúng tôi trở nên mạnh mẽ Để chúng tôi có thể tiếp cận với việcnghiên cứu văn học dân tộc dễ dàng hơn, để ước mơ tìm về với cội nguồn khôngcòn là niềm mong muốn Chọn đề tài này vừa để thể hiện sự ngưỡng mộ đối vớithầy và cũng vừa là cách để chúng tôi tiếp nối con đường thầy đã đi

Đó là động lực thôi thúc chúng tôi đến với mảnh đất dân tộc Dao, khám phánhững điều mà người Dao thể hiện trong tục ngữ Dẫu biết rằng nghiên cứu khoahọc là một điều khó khăn, bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như năng lực.Nhưng với lòng nhiệt tâm và sự tự hào dân tộc cũng như bằng niềm đam mê củachính mình Chúng tôi sẽ cố phát huy cao nhất sự cố gắng để hoàn thành sản phẩmnày như một lời tri ân đến gia đình, dòng họ, đồng bào Dao và cũng có thể coi đây

là một cơ hội để quảng bá văn hóa dân tộc Dao đến tất cả những người yêu mến vàquý trọng văn hóa dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu văn hóa Dao nói chung, văn học dân tộc Dao nói riêng trongnhững gần đây được nhiều giới nghiên cứu quan tâm và đạt được những thành tựuquan trọng, qua đó những sắc diện văn hóa của dân tộc Dao đã bước đầu được khám

Trang 8

phá và giới thiệu rộng rãi, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu vàđông đảo bạn đọc.

2.1 Tình hình nghiên cứu văn hóa dân tộc Dao

Nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số hiện nay ngày càng được quan tâm vàphát triển, là nguồn cảm hứng của rất nhiều người ham mê văn hóa dân tộc Nhiểungười đã rất thành công trong xu hướng này Trong đó, vấn đề nghiên cứu về vănhóa dân tộc Dao cũng đã đạt được nhiều thành tựu nhất định

Một trong những nhà nghiên cứu quan tâm đến văn hóa dân tộc Dao và đạtđược nhiều thành tựu rõ rệt hơn cả là Tiến sĩ dân tộc học Trần Hữu Sơn, ông đã

khái quát tình hình nghiên cứu dân tộc Dao trong bài viết “Ngiên cứu người Dao ở

Việt Nam” Trong bài viết này, tác giả đã liệt kê nhiều công trình có nói đến tộc

người Dao từ rất xa xưa như “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn – công trình được

ra đời năm 1778, đề cập đến nguồn gốc và miêu tả một cách khái quát về cách ănmặc, cuộc sống di cư của một nhóm người Dao ở nước ta.Cũng năm đó, tác phẩm

“Hưng hóa phong thổ tục” của Hoàng Bình Chính được xuất bản, giới thiệu đến

độc giả một cách sơ lược về người Dao ở Lào Cai Năm 1856, nhà sử học Phạm

Thuật Duật viết tác phẩm “Hưng hóa kỉ lược”, công trình này cũng chỉ đề cập đến

phong tục, tập quán của các dân tộc ở Hưng Hóa, trong đó có dân tộc Dao Tuynhiên do chúng không phải là những công trình chuyên sâu nghiên cứu tộc ngườiDao mà mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra được một vài nét văn hóa đặc trưng, “hầu hếtcác tác phẩm của họ đều giới thiệu sơ lược về tên gọi và một vài đặc điểm về trang

phục, phong tục tập quán người Dao” [55] Một vài công trình khác mà tác giả nói

đến trong bài viết này cũng đã giới thiệu được khá đầy đủ về người Dao nhưng lạichưa tập trung nhiều ở góc độ văn hóa

Cuốn “Người Dao ở Việt Nam” là công trình của các tác giả Bế Viết Đẳng,

Nguyễn Khắc Tụng, Nam Trung, Nguyễn Nam Tiến, xuất bản năm 1971 đã nghiêncứu khá quy mô về dân số, địa vị, kinh tế, các nhóm Dao và sinh hoạt vật chất, mặc dù cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu về văn hóa nhưng có thể coi đây là cơ sở

để các nhà nghiên cứu khác có cơ hội tìm hiểu rõ hơn về văn hóa dân tộc này

Trang 9

Năm 1999, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc đã cho ra đời cuốn sách “Lễ Hội cổ

truyền của người Lào Cai” của Tiến sĩ Trần Hữu Sơn, giới thiệu về những sinh hoạt

lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở Lào Cai, trong đó có ngườiDao với một số sinh hoạt lễ hội như Tết nhảy, Lễ lập tịch của một số nhóm Dao.Cuốn sách giới thiệu quy mô nhất về văn hóa dân tộc Dao có lẽ là cuốn

“Người Dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” của Đỗ Quang Tụ và Nguyễn

Liễn Nội dung cuốn sách giúp chúng ta hiểu thêm về lịch sử tộc người, bản sắc vănhóa, tập tục, nếp sống và những đóng góp quan trọng của cộng đồng người Daotrong lịch sử cách mạng của dân tộc, góp phần nâng cao hiểu biết và củng cố khốiđoàn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Đến năm 2002, Thạc sĩ Đỗ Đức Lợi – cán bộ bảo tàng văn hóa các dân tộc

Việt Nam đã đem đến cho độc giả cuốn sách “Tập tục chu kì người đời của các

tộc người ngôn ngữ H’Mông – Dao ở Việt Nam”, do Nhà xuất bản Văn hóa Dân

tộc xuất bản “Tác giả tập trung công sức và tâm huyết trình bày, phân tích, lý giải

về các tập tục trong chu kì đời người bao gồm: các tập tục liên quan đến sinh đẻ vànuôi con, tập tục đánh dấu sự trưởng thành, tập tục trong cưới xin, ma chay Bạnđọc có thể tìm thấy ở đây hệ thống các nghi lễ gắn liền với cuộc sống mỗi conngười của các dân tộc Mông, Dao, Pà Thẻn trong khung cảnh hùng vĩ vùng caophía Bắc với các sắc thái nhóm địa phương tộc người đa dạng trong thống nhất.Cùng với hoạt động các nghi lễ là một phức hợp về nếp sống tộc người thông quaquan niệm truyền thống về các giá trị của con người và mối quan hệ gia đình –cộng đồng” [31]

Một công trình đáng chú ý khác về đề tài văn hóa dân tộc Dao, đó là cuốn

“Người Dao” (2005), do Chu Thái Sơn (chủ biên), Võ Mai Phương thực hiện đã

tập trung nghiên cứu tương đối đầy đủ nhất về người Dao, từ nguồn gốc lịch sử, sựphân ngành, tập quán kinh tế đến những nét tiêu biểu trong văn hóa vật chất cũngnhư tinh thần của dân tộc Dao, đó là nguồn tư liệu đáng quý của tác giả đối vớinhững ai ham mê văn hóa và văn hóa Dao

Lại có nhiều công trình nghiên cứu đã có sự tập trung sâu về văn hóa dân tộcDao nhưng lại chỉ thực hiện ở một quy mô nhỏ hơn trên một địa bàn cụ thể như

Trang 10

“Một số sinh hoạt văn hóa lễ hội của người Dao Họ ở Lào Cai” của Lê Hồng Lý,

“Văn hóa truyền thống của người Dao ở Hà Giang” của Phạm Quàn Hoan, Hùng

Đình Quý, “Văn hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang”

do Ninh Văn Độ chủ biên,

Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác, nhiều cuốn sách, nhiều bàibáo, tạp chí về dân tộc Dao, nhưng trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ giới thiệu một

số công trình tiêu biểu

Như vậy, văn hóa dân tộc Dao là một đề tài khá quen thuộc và được nhiềungười quan tâm Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng các công trình này chỉtiếp nhận từ một góc độ, đó là văn hóa Chứ chưa có sự khúc xạ, thâu chiếu từnhững góc nhìn khác nhau Văn hóa Dao nói riêng cũng như các dân tộc thiểu sốnói chung còn được thể hiện trên rất nhiều phương diện, nhiều loại hình nghệ thuật,cho nên cần phải được nhìn từ những góc độ khác nhau thì mới thấy được một cách

đa diện hơn những nét đặc sắc của dân tộc này

2.2 Tình hình nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian dân, tục ngữ dân tộc Dao

Mặc dù những nghiên cứu về văn hóa Dao diễn ra rất sôi nổi, nhưng vấn đềnghiên cứu văn hóa qua văn học dân gian, đặc biệt là qua tục ngữ Dao còn rấthạn chế Ngoài các bài viết về văn hóa, Trần Hữu Sơn còn có niềm đam mê đặcbiệt đối với việc nghiên cứu văn học dân gian dân tộc Dao Ông có nhiều côngtrình sưu tầm, dịch những tri thức dân gian dân tộc Dao và được xuất bản thành

sách như cuốn “Lễ cưới người Dao Tuyển” (2001), “Thơ ca dân gian người

Dao Tuyển” ( 2005),…

Cuốn “Tục ngữ câu đố dân tộc Dao” là công trình đầu tiên sưu tầm tục ngữ

Dao của Trần Hữu Sơn, với 396 câu tục ngữ và 186 câu đố Với đóng góp này, ôngcũng đã vinh dự được nhận Giải thưởng Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam năm

1998 Năm 2011, ông lại tiếp tục “trình làng” cuốn “Những bài ca giáo lý của

người Dao” ghi chép lại những lời ca mang tính chất răn dạy giáo lý, đạo đức trong

gia đình, cộng đồng và trong đó sử dụng rất nhiều các câu thành ngữ, tục ngữ, châmngôn Với 17 bài ca giáo lý bằng chữ Nôm – Dao và 13 bài được dịch sang tiếng

Trang 11

Việt Chứng tỏ nguồn tri thức dân gian của người Dao rất phong phú và còn nhiều

di sản chưa được khai quật một cách toàn diện

Ngoài Trần Hữu Sơn, đã có một vài nhà nghiên cứu cũng hướng tới tìm hiểu

tục ngữ Dao sau đó như Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn với cuốn “Câu đố, tục ngữ,

dân ca dân tộc Dao” xuất bản năm 2007 và “Thành ngữ, tục ngữ, câu đố các dân tộc Thái, Giáy, Dao” là đóng góp của nhiều tác giả, tuy nhiên trong cuốn này phần

dành cho tục ngữ Dao chỉ chiếm 50 trên tổng sổ 487 trang

Một công trình dài tập có đề cập đến tục ngữ Dao cùng với tục ngữ các dân tộc

thiểu số khác là cuốn “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam”

(tập 1, tập 2), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, công trình này chỉ nhằm giới thiệu đếnđộc giả những câu tục ngữ đã được các tác giả khác sưu tầm và biên soạn với mụcđích tổng hợp cũng như có những so sánh giữa các dân tộc thiểu số với nhau, đượcsắp xếp theo nhiều chủ đề khác nhau

Tóm lại, tình hình ngiên cứu tục ngữ dân tộc Dao bắt đầu khá muộn và nhìnchung chưa phát triển, mặc dù đã có được những đóng góp quan trọng Còn tiềm ẩn

ở nhiều nơi, trong tiềm thức của nhiều người những câu nói, những kinh nghiệm,những lời răn dạy,… có giá trị không chỉ cho dân tộc Dao mà còn giá trị với nềnvăn học dân gian Việt Nam nói riêng, văn hóa dân tộc nói chung

Mặc dù trong những cuốn sách trên, các tác giả cũng đã đề cập đến một số nétđặc trưng về nội dung cũng như nghệ thuật thể hiện trong tục ngữ, nhưng vì mụcđích sưu tầm là chính nên có lẽ những phân tích đó chưa đủ sâu để có thể nhận diệnnhững cái đặc trưng nhất trong tục ngữ Có nhiều công trình nói về văn hóa Daonhưng chỉ dừng lại ở góc độ sưu tầm, dịch hoặc nói một cách khái quát Chưa cómột công trình nào chuyên biệt về đặc trưng văn hóa qua tục ngữ Dao Vậy nên,chúng tôi thấy rằng, nghiên cứu những nét đặc trưng văn hóa dân tộc Dao qua tụcngữ là việc làm cần thiết, để nguồn tri thức dân gian quý báu của dân tộc Dao sẽhiện lên, hòa vào dòng chảy văn hóa bất tận của dân tộc Việt Nam Góp thêm mộtviên ngọc quý làm lấp lánh thêm cho kho tàng văn hóa chung của cả dân tộc Cùngvới các giá trị dân gian khác của dân tộc Dao nói riêng, các dân tộc anh em trênmảnh đất hình chữ S nói chung đã và đang được nghiên cứu trở thành thành trì kiên

cố để nhằm bảo tồn những giá trị văn hóa Việt, dù có hòa nhập vào nền những sắc

Trang 12

màu văn hóa thế giới, nhưng giá trị của nó vẫn nguyên vẹn và không bị hòa tan vàodòng chảy của thời cuộc, những biến động của xã hội.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- “Thành ngữ, tục ngữ, câu đố các dân tộc Thái, Giáy, Dao”, nhiều tác giả,

NXB Văn hóa dân tộc, HN, 2012

- “Những bài ca giáo lý của người Dao”, Trần Hữu Sơn ( chủ biên), NXB

văn hóa dân tộc, HN, 2012

- Tục ngữ do người viết sưu tầm được trong quá trình điền dã

- Một số câu tục ngữ trong các công trình nghiên cứu khoa học có liên quanđến tộc người Dao

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “ Đặc trưng văn hóa dân tộc Dao qua tục ngữ” nhằm:

- Tập hợp đầy đủ và bước đầu chỉ ra quy mô, diện mạo của tục ngữ dân tộc Dao

- Đi sâu vào nghiên cứu nội dung và hình thức nghệ thuật trong tục ngữ Dao

để chỉ ra những nét đặc trưng trong văn hóa tộc người và nét độc đáo trong phươngthức biểu đạt

- Chỉ ra dấu ấn giao thoa văn hóa ảnh hưởng tới sự phổ biến tục ngữ dân tộc Dao

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê – phân loại: bởi các công trình sưu tầm , biên dịchtục ngữ Dao còn khá tản mát, cho nên chúng tôi có sử dụng biện pháp thống kê, tậphợp các công trình sưu tầm về tục ngữ và phân loại sao cho khoa học và hợp lý

Trang 13

- Phương pháp điền dã: nhằm bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu cũng nhưmong muốn có được cái nhìn trực quan sinh động về văn hóa dân tộc Dao, làm cho

đề tài chân thực và khách quan hơn

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: để chỉ ra được những nét đặc trưng vềnội dung và nghệ thuật của tục ngữ Dao

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: nhằm làm nổi bật sự độc đáo của tụcngữ dân tộc Dao so với các dân tộc khác cũng như những biểu hiện của sự giaothoa văn hóa

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: đề tài đặt vấn đề xem xét, nghiên cứumột hiện tượng văn học (tục ngữ) dưới góc độ văn hóa nên chúng tôi có sử dụngmột số phương pháp liên ngành như: Văn hóa học, dân tộc học, ngôn ngữ học,…

6 Đóng góp mới của đề tài

Nếu đề tài của chúng tôi thành công thì sẽ đóng góp vào kho tàng tục ngữ, vănhọc dân gian nói riêng cũng như văn hóa dân tộc nói chung những giá trị sau:

- Tập hợp, thống kê tương đối đầy đủ và toàn diện về kho tàng tục ngữ dân tộcDao trên cơ sở các cuốn sách, các công trình sưu tầm, biên dịch của các tác giả khác

- Chỉ ra được những nét đặc trưng mang tính bản sắc của văn hóa dân tộc Daoqua tục ngữ

- Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai đam mê nghiên cứu,giảng dạy, học tập về dân tộc thiểu số, văn học Dao

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài củachúng tôi gồm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về văn hóa dân tộc Dao

- Chương 2: Tục ngữ - Kho kinh nghiệm dân gian phong phú của dân tộc Dao

- Chương 3: Lối tư duy diễn đạt độc đáo và đặc sắc của dân tộc Dao qua tục ngữ

Trang 14

PHẦN NỘI DUNGChương 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC DAO

Nhằm phát hiện những giá trị văn hoá tựa hồ như những viên ngọc quí hiệnđang ẩn mình trong đời sống sinh hoạt và nhất là trong kho tàng văn hoá dân gian,đặc biệt là tục ngữ, chúng tôi thấy cần phải có một cái nhìn tổng quan về văn hóadân tộc này như một thứ chìa khoá để xác định và lí giải những nét văn hóa đặc sắc

và độc đáo trong tục ngữ Dao Bởi lẽ, như Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa làmột hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra vàtích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người vớimôi trường tự nhiên và xã hội” [66; tr.10] Hay nói đến văn hoá như một sự cụ thểhơn những phương diện vật chất và tinh thần, Unesco định nghĩa: “Văn hóa là mộtphức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tìnhcảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miềnquốc gia, xã hội,… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cảlối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền

thống tín ngưỡng…” [69] Như vậy, văn hóa là sản phẩm của con người, nhưng lại đặt

trong sự tương tác với tự nhiên và phát triển suốt chiều dài lịch sử con người Mỗingười đều nằm trong một cộng đồng người với đặc điểm hoàn cảnh địa lý khácnhau trong những không gian văn hóa khác nhau, văn hóa Việt Nam khác với vănhóa Trung Quốc, Ấn độ; văn hóa dân tộc Tày khác với văn hóa dân tộc Mông,…Những sự khác nhau đó chính là đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc Mang nhữngđặc điểm của một quốc gia, một khu vực, nhưng mỗi dân tộc đều khoác lên mìnhmột chiếc áo văn hóa khác với các dân tộc khác bởi họ còn chịu sự chi phối của lịch

sử tộc người, đặc điểm địa hình, tự nhiên, đời sống kinh tế,… Các nhà khoa học đãđặt bản sắc văn hóa trong sự so sánh đối chiếu giữa dân tộc này với dân tộc khác

Tuy nhiên, đó không phải là sự hơn kém mà là sự khác biệt “Bản” là cái gốc, “sắc”

là cái được biểu hiện ra bên ngoài của sự vật Bản sắc văn hóa được xem là sứcmạnh nội tại, là hạt nhân duy trì sức sống một dân tộc “Một dân tộc qua các biến cốlịch sử nào đó một lúc nào đó, một thời đại nào đó có thể bị mất đi độc lập, bị người

Trang 15

ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được vốn văn hóa dân gian, vẫn giữ vàphát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm được chìa khóacủa sự giải phóng, chìa khóa của tự do độc lập” [86] Bách khoa toàn thư của Liên

Xô có viết: “Mỗi dân tộc đều có những đặc tính của mình, chỉ tiêng mình mới có,còn các dân tộc khác thì không có Những đặc điểm đó chính là phần tài sản mà mỗidân tộc đóng góp vào kho tàng văn hóa chung của thế giới, làm cho kho tàng này

đầy đủ và phong phú” [86].

Vậy, đâu là đặc trưng văn hoá của người Dao? Đặc trưng văn hoá đó đượcbiểu hiện như thế nào qua đời sống văn hoá vật thể và phi vật thể? Sự tương đồng

và khác biệt giữa văn hoá Dao và văn hoá của các dân tộc khác ở đây là gì? Tất cả

sẽ được hiện lộ (với một khát khao được làm hiển lộ) qua kho tàng tục ngữ củangười Dao, từ cách tiếp cận văn hoá

cổ của người Dao như truyện Quả Bầu Vàng, Quá Sơn Bảng Văn, Bài ca vượt

biển, Tên “Dao” cũng có mặt trong các cuốn thư tịch cổ của Trung Quốc như sách

“Tùy thư địa chí”, sách “Thuyết man”, “Quế hải ngu hành chí”, [13; Tr.153, 154,

155] Như vậy, Dao là tên gọi được chính tộc người này công nhận và được các nhà

nghiên cứu sử dụng Về dân số, theo số liệu thống kê dân số và nhà ở năm 2009,dân tộc Dao ở Việt Nam hiện nay có 751.067 người, cư trú ở 23 tỉnh, thành phố,đứng thứ 9 trong 54 dân tộc anh em Xét trên phạm vi thế giới, dân tộc Dao cư trú ởnhiều nước, nhiều nhất ở Trung Quốc ước tính có khoảng 3,5 triệu người Dao, ởThái Lan khoảng 5 vạn người, Mỹ là 3 vạn và ở Pháp ước chừng 1.200 người Về

Trang 16

phân loại các nhóm địa phương, dân tộc Dao là một trong những dân tộc hiện nay

có nhiều nhóm địa phương nhất, theo sự phân chia của Nguyễn Khắc Tụng trong

cuốn Người Dao ở Việt Nam thì gồm 7 ngành: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô

Gang, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn [54; tr.12]

Mỗi dân tộc đều có cội nguồn riêng của mình Là một dân tộc độc lập có têngọi, có bản sắc riêng bởi người Dao có lịch sử và quá trình di cư khác với các dântộc khác Tìm về quá khứ chính là tìm về nơi người Dao đã vỡ lòng, nơi đã gieomầm để những bông hoa tươi đẹp của dân tộc có thể vươn lên khoe sắc trong đạingàn văn hóa Việt Nam Nguồn gốc dân tộc Dao qua huyền thoại là những mảnhchuyện được tổ tiên của người Dao chắp vá bằng những tình tiết hư cấu, về nhữnglực lượng siêu nhiên kì ảo với một thái độ kính trọng và suy tôn giống nòi Dân tộc

Mường có mo Đẻ đất đẻ nước kể về “Ông Thu Tha, bà Thu Thiên” là ông tổ làm ra đất ra trời và sinh ra người Mường Người H’Mông có “ông Chày, Bà Chày” nắn

trời đất tạo ra vũ trụ và đất trở dạ sinh ra người Mông Người Thái có thủy tổ là ông

Tôn được kể trong thần thoại Ẩm ẹt luông,… Còn người Dao, trong kho tàng sách

cổ của mình có ghi lại câu chuyện Quá Sơn Bảng Văn (Bình hoàng khoán điệp) –

một huyền thoại về gốc tích của người Dao kể về Bàn Hồ, là con long khuyển từtrên trời giáng xuống, “thân dài ba thước, lông đen vằn vàng trông rất kỳ lạ” đượcvua Bình Hoàng quý mến Khi đất nước bị bọn giặc Cao Vương xâm lăng, trong khivua và các quần thần đang bày mưu tính kế chống lại kẻ thù, thì Long Khuyển đã từtrong điện vàng nhảy xuống và xin Bình Vương đi giết Cao Vương Trước khi ra đi,Vua hứa với Hồ nếu thành công thì gả công chúa cho Long khuyển vượt biển hếtbảy ngày bảy đêm thì đến được vùng đất của Cao Hoàng Lúc đó Cao Hoàng đang

thiết triều, Bàn Hộ bèn nhảy vào điện vàng mà phủ phục Cao Vương cho đó là

điềm lành nên đã nuôi nó trong triều Một hôm nhân cơ hội Cao Vương say rượu,chú Long Khuyển đã cắn chết cao vương và ngoạm đầu mang về trình Bình Vương.Vua vui mừng gả công chúa cho Hồ, hai vợ chồng cùng vào núi Cố Kê sinh sống vàmột thời gian sau sinh được 6 người con trai, 6 người con gái, được nhà vua “sắccho được mang các họ Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng,

Đái, Lưu, Triệu” [28; Tr.235] Con cháu người Dao sinh sôi nảy nở từ đó

Trang 17

Trong bài ca Bàn Vương Xướng, người Dao quan niệm nguồn gốc vũ trụ và

dân tộc mình là do vị thần “Bàn Cổ” sáng tạo ra:

Thái cực tiên sinh, sinh bàn cổ Khai bảo nguyên niên vua ra đời Chưa có trời mà đã có đất

Trước có Ngọc Hoàng với Bàn Cổ Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa thân Bàn cổ ba trăm sáu hóa thân Mắt trái biến thành mặt trời đỏ Mắt phải biến thành mặt trăng tròn

Cỏ tranh trên đồi là tóc biển

Cá nước dưới biển là tim gan Răng biến thành vàng bạc

Móng chân tay biến thành ngôi sao Chín khúc minh chu với lục tạng Ruộng đồng cày cấy là chân ông [54; tr.79]

Cái nôi của người Dao, chính là vùng đất láng giềng với Việt Nam – TrungQuốc: “Do nhiều biến cố lịch sử làm cho người Dao ở Trung Quốc phân tán thànhnhiều nhóm nhỏ và rời khỏi cái nôi của mình là dất Châu Dương và Châu Kinh tảnmát đi các nơi để sinh sống, trong đó có một số nhóm đã vào Việt Nam” [54; 13].Quá trình thiên di của người Dao, một hành trình vượt sóng vượt gió từ mảnh đất xa

xôi được in đậm trong bài ca “Quỷa Khói Duung” (Bài ca vượt biển), tiến sĩ Đặng

Phúc Lường trong cuốn giáo trình của mình đã tóm lược hành trình đó như sau:

“Tốp người Dao vào Việt Nam đầu tiên bằng đường biển Họ đi trên những chiếcthuyền bè đơn sơ, nên bị sóng đánh chìm, số người sống sót liền khấn Bàn Vươngche chở cho họ và hứa khi thuyền cập bến đất liền, ổn định cuộc sống họ sẽ bắt lợnrừng, nấu rượu làm lễ tạ ơn Bàn Vương Sau khi khấn xong, trời yên biển lặng, chỉtrong 3 ngày 3 đêm thuyền đã cập bến đất liền, người Dao có đất làm ăn sinh sống

Trang 18

đến ngày nay Có người nói rằng, người Dao đi thuyền cập bến Việt Nam chính là

mảnh đất thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay” [33; Tr.3]

Mặc dù chứa đựng những tình tiết hư cấu, nhưng những câu truyện cổ và

những bài ca truyền tụng của người Dao chính là một trong những cứ liệu quantrọng để các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, dân tộc học, khảo cổ học, nhà sử học,nhân chủng học, khám phá một cách dễ dàng hơn gốc tích và con đường thiên dicủa người Dao Cho đến nay, người ta công nhận rằng, dân tộc Dao nằm trong khôiBách Việt, thuộc ngữ hệ Mông – Dao Quá trình di cư của họ kéo dài từ thế kỉ XIIIcho đến những năm 40 thế kỉ XX qua nhiều đợt khác nhau Sống trên mảnh đấtTrung Quốc, cùng với những ảnh hưởng của biến cố lịch sử, hạn hán, mất mùa liêntiếp nhiều năm đã gây ra bao nhiêu đau thương cho người Dao, khiến họ mất điniềm tin vào vùng đất sinh thành và mong ước càng đi kiếm một vùng đất mới kiếm

kế sinh nhai càng mãnh liệt khi họ gặp phải sự áp bức bóc lột nặng nề của giai cấpthống trị, nhất là dưới các triều đại Nguyên, Minh, Thanh, “bọn quan lại phong kiếnchiếm và thổ ty chiếm hết ruộng đất, núi rừng, thuê người làm không công Bọn thổ

ty còn bắt tất cả tráng đinh đều phải phục dịch cho chúng,… bị đối xử không bìnhđẳng, bị coi là người man di, mọi rợ,… tăng tô thuế, làm cho cuộc sống của ngườiDao gặp nhiều gian nan” [13; tr.173]

Mặc dù phải trải qua quá trình thiên di gian khổ và nhiều mất mát, nhưng thựctại tăm tối đã khiến cho người Dao không còn lựa chọn nào khác, dường như đó là

đó là thử thách đầu tiên đặt ra cho con cháu Bàn Hồ trên con đường bảo vệ giốngnòi thiêng liêng, cao quý:

Nhiều người hiến kế tìm quê mới Băng qua biển rộng cứu giống nòi Bảy ngày bảy đêm không bờ bến Thuyền bè xoáy tít giữa biển khơi Mọi người đồng lòng cùng cầu nguyện

Ba hôm thuyền đã cập đến bờ…[33; tr.138]

Người Dao di cư vào Việt Nam và tập trung sinh sống ở các tỉnh miền núi dọcbiên giới Việt – Trung, Việt – Lào đến một số tỉnh Trung du và miền núi Bắc bộ

Trang 19

Bỏ lại sau lưng nỗi ám ảnh của một vùng quê đầy đọa đày khổ đau, họ đã đặt chânlên mảnh đất mới với một niềm kì vọng lớn lao:

Thăm hết các nơi cùng ngõ hẻm.

Đất nước Việt Nam lòng thấy vui, Việt Nam giàu đẹp đừng quên nhé, Mau mau dọn nhà đến Việt Nam [13.tr.174]

Niềm tin yêu vào vùng đất mới khiến cho con cháu Bàn Hồ tự nhận thấy mìnhphải có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và xây dựng quê hương, đất nước Họ đã cùngcác dân tộc khác trên Việt Nam kiên quyết chống lại ách thống trị và ngoại xâm của

kẻ thù, trong thâm tâm họ tự nhận thấy rằng chỉ có vậy mới xứng đáng để đượcsống trên mảnh đất giàu đẹp, bất khuất này, nhận được sự đồng lòng của cả dân tộc

và quan trọng hơn, trở thành một trong 54 dân tộc anh em của Việt Nam

1.2 Đời sống kinh tế

Dân tộc Dao tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, một “khu vực núi

non hiểm trở nằm bên tả ngạn sông Hồng” [66 tr.3] Vùng đất cheo leo, hiểm trở

với “núi xếp nghìn đá dựng”, “men vách đá vực sâu/ qua khe suối rì rào” hùng vĩ

như “tấm áo choàng của đất”, là nơi “chân đồi xóm núi bên lưng” có “trâu gõ mõ,

chó leo thang, ăn cơm lam, ngủ mặt sàn” [71] Chính điều kiện tự nhiên có phầnkhắc nghiệt và hoang dã nơi đây đã chi phối đến kinh tế người Dao – một nền kinh

tế điển hình của vùng núi Bắc Bộ

Như bao dân tộc khác cùng cư trú, sinh hoạt kinh tế chủ yếu của người Dao lànông nghiệp với hình thức nương rẫy du canh là chủ yếu, bên cạnh đó còn có nươngđịnh canh và ruộng nước thích ứng với ba dạng địa hình: vùng núi cao, vùng núigiữa và vùng núi thấp Ngày xưa các bà mẹ Dao thường ru con:

Người Dao là con chim xanh Thấy quả thì ăn, thấy nước thì uống Tung cánh bay hết rừng này đến rừng khác [13; tr.372]

Chính điều này đã nói lên sự phổ biến của tập quán du canh trong kinh tếngười Dao thời xưa

Địa bàn định cư thuộc vùng núi cao của người Dao phần nhiều là núi đá vôithuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang,… Là nơi

Trang 20

tập trung chủ yếu của người Dao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền và một số ít Dao LànTiẻn Nương rẫy vùng cao núi đá được canh tác chủ yếu bằng hình thức định canhhoặc luân canh với loại hình thổ canh hốc đá – trồng trọt trên các thửa nương cónhiều đá lởm chởm Lương thực được trồng chủ yếu là ngô, ngoài ra còn trồng kê,bông, lúa mì, tam giác mạch,… và các loại cây ăn quả ôn đới Dụng cụ sản xuất córìu, dao, cuốc, gậy chọc lỗ, cái nạo, cái hái nhắt,… Năng suất cây trồng ở vùng nàykhông được cao bởi độ cao địa hình, độ nghiêng mặt nương lớn, đất bạc màu nhanh

và thường xuyên xảy ra hạn hán, xói mòn

Địa hình vùng giữa là nơi người Dao tập trung đông đảo nhất, trong đó đồngbào Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Quần Chẹt là nhiều hơn cả Độcao trung bình khoảng 400 đến 600 m, bởi vậy, đồng bào Dao nơi đây chủ yếu làm

nương du canh Nương rẫy được khai thác trong một vài vụ sau đó bà con chuyển

sang canh tác ở một vùng đất mới Lúa nương và ngô là hai loại cây trồng phổ biến

ở vùng này, bên cạnh đó còn có thêm một số loại cây công nghiệp và cây ăn quảnhiệt đới nổi tiếng như hồi, chè, trẩu, sơn, cam, quýt, rất có giá trị Dụng cụ chủyếu vẫn là dao, rìu, hái nhắt, như ở vùng núi cao Tuy nhiên, tình trạng du canh du

cư cùng với việc khai thác rừng bừa bãi khiến cho nguồn tài nguyên rừng ở đây bịcạn kiệt khá nhiều, gây hạn hán, lũ lụt thường xuyên trên diện rộng, ảnh hưởnglớn đến sinh hoạt và cuộc sống của người dân

Ở vùng núi thấp - nơi chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng núi với độcao 200 mét trở lại, là khu vực cư trú chủ yếu của người Dao Quần Trắng, một sốđồng bào Dao Quần Chẹt và Dao Tiền, Dao Làn Tiẻn, Dao Thanh Y… Họ sốngtrong các thung lũng hẹp hoặc ven các đường quốc lộ, cùng với người Dao còn cócác dân tộc khác cư trú như Tày, Nùng Ở những nơi ven các sông, suối thấp vàbằng phẳng họ làm ruộng nước, trên các “đồi thấp và thềm đất được san thànhruộng bậc thang cấy lúa Phần lớn là ruộng một mùa, nửa năm cấy lúa, nửa năm

trồng cây lương thực hoặc cây nông nghiệp” [13 tr.152] Một số khu vực ở vùng

thấp còn làm nương định canh với các loại cây lương thực như vùng núi cao vàvùng giữa “Nông cụ có cày chìa vôi (nay đã có cải tiến), bừa răng gỗ hay răng sắt,dùng sức kéo của trâu bò… cùng với loại hình canh tác này còn có hệ thống thủy lợi

Trang 21

như: mương, phai, đập, cọn…” [13; tr.337] Kĩ thuật trồng xen canh là hình thức

đặc biệt của nương rẫy dân tộc Dao Ở trên nương, bên cạnh lúa, ngô, gỗ lâu nămcòn có các loại đậu, rau, kê, khoai, sắn,…

Bên cạnh nghề trồng trọt, địa vực cư trú của người Dao cũng rất thuận lợicho việc chăn nuôi Họ đã biết tận dụng những đồi cỏ, thung lũng, khe suối,… chohoạt động này Chăn nuôi của đồng bào dân tộc Dao còn mang tính tự phát và mớichỉ nằm trong phạm vi hộ gia đình Gia súc là được đồng bào chăn nuôi phổ biếnnhất, bởi nó không những cung cấp một nguồn thức ăn đáng kể trong bữa ăn giađình hoặc vào các dịp lế, tết mà còn là nguồn cung cấp sức kéo phục vụ cho hoạtđộng sản xuất như kéo gỗ, tre hoặc cày bừa Trong đó, trâu bò chiếm số lượng nhiềuhơn cả Nhiều nơi, mỗi gia đình có hàng chục trâu bò, ở vùng cao và vùng giữa còn

có ngựa và dê Tiếp đến là lợn, cũng chiếm số lượng rất lớn trong chăn nuôi gia súccủa người Dao, hầu như nhà nào cũng nuôi lợn Thịt lợn là một trong những món ănthường ngày của các gia đình Dao, hơn nữa còn được những người vùng xuôi ưachuộng và tìm mua vì được chăn nuôi bằng những thức ăn từ tự nhiên, không có lợidụng cám công nghiệp nên chất lượng rất tôt Gia cầm thì có gà là nhiều hơn cả,tiếp đến là vịt, ngan, ngỗng,… Ở nhiều nơi, người dân còn nuôi cá trong các ao,ruộng

Đồng bào Dao cũng thường xuyên khai thác lâm thổ sản để phục vụ cho cuộcsống của mình Họ lên rừng hái các loại nấm, mộc nhĩ, măng, chủ yếu phục vụcho bữa ăn hằng ngày hoặc tích trữ cho những ngày lễ lớn, hái các loại dược liệuquý làm thuốc,… họ còn khai thác gỗ, tre, nứa, mây,… trong rừng để đem bán như

là một cách thức để cải thiện cuộc sống của mình và nuôi con cái

Săn thú rừng là hoạt động vẫn được duy trì cho đến nay, mặc dù không cònphổ biến nữa “Việc săn thú rừng vừa có ý nghĩa cải thiện cuộc sống, vừa là giảipháp bảo vệ mùa màng, nhất là những lúc cấy lúa, cấy ngô bước vào vụ thu hoạch.Đôi khi săn còn là cách giải trí, giúp xóa bỏ những căng thẳng trong công việc” [38;

tr.240] Các chàng trai khi đi săn thường mang theo những chú chó, với vũ khí là

súng, tên,… hoặc dùng bẫy để bắt con mồi Hình thức săn gồm săn tập thể hoặc săn

cá nhân, họ thường săn vào ban chiều khi đi làm về hoặc lúc nửa đêm Săn bắt trong

Trang 22

đời sống lao động của người Dao còn là một biểu hiện của tính tự cung tự cấp, củatinh thần tập thể, cố kết cộng đồng trong dân tộc Dao.

Người Dao có thể tự phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, họ cũng biết thêudệt nên những chiếc áo thổ cẩm cho chính mình Tuy nhiên, nghề thủ công của họcòn mang nặng tính chất tự nhiên theo mùa, sản phẩm chỉ phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp và sinh hoạt, kỹ thuật sản xuất thô sơ, số lượng và chất lượng sảnphẩm phụ thuộc vào sự khéo léo của nghệ nhân Phổ biến nhất là nghề làm vải, phụ

nữ Dao có thể tự làm ra cho mình những bộ y phục đầy sắc màu và đậm đà phong vịdân tộc ngay từ khâu trồng bông, dệt vải và nhuộm chàm Cách chế biến chàm kháphức tạp và nhuộm cũng tốn nhiều công phu Để tạo thêm nhiều điểm nhấn, phụ nữDao có cách in hoa văn trên váy bằng sáp ong rồi đem nhuộm chàm rất tinh tế vàhấp dẫn Khâu vá và thêu thùa là công việc hằng ngày của người phụ nữ, họ có cáchthêu rất độc đáo, không thêu theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ,điều đó đã khó nhưng cách thêu lại còn khó hơn nhiều vì thêu ở mặt trái của vải,hình mẫu lại nổi lên ở mặt phải Khó và phức tạp như vậy nhưng sản phẩm cuốicùng lại rất tinh xảo và đẹp mắt:

Được thấy bạn em ngồi dệt thổ cẩm

Cái nụ hoa lồng vào nhau nên tấm.[71; tr.40]

Ngay từ thời thơ ấu, các cô gái Dao đã được mẹ dạy cho từng đường kim, sợichỉ, dạy cho họ cách may vá, thêu thùa Đến khi biết làm duyên cũng là lúc đường

tơ sợi đã thành thục Họ được dạy từ những công đoạn đơn giản đến phức tạp, từnhững chi tiết nhỏ đến cách nhuộm lại tấm áo chàm cho mới khi nó bị bạc màu.Bằng cách truyền nghề, chỉ dẫn thấu đáo của các bà, các mẹ tạo cho người phụ nữDao một nếp nghĩ ăn sâu vào tiềm thức, như một sắc thái độc đáo của văn hóa Dao.Đan lát cũng là một nghề được người Dao ưa chuộng Những lúc rảnh rỗi, họthường đi chặt các cây tre, nứa, giang, mây về đan thành những cái mẹt, thúng, rổ,bồ,…rất đẹp, phục vụ hữu ích cho việc chứa đựng các sản phẩm nông nghiệp cũngnhư đồ dùng gia đình Với nghề rèn, mặc dù không phổ biến, nhưng những sảnphẩm họ làm ra có thể phục vụ đắc lực cho hoạt động nông nghiệp, đó là những condao, cái cuốc, cái cày,… hoặc chế tạo sung cho việc săn bắt Người Dao cũng tự

Trang 23

làm được đồ trang sức như những chiếc vòng cổ, vòng tay, chân, khuyên tai và cácloại trang sức đính quần áo.

1.3 Đời sống văn hoá

1.3.1 Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ Dao được xếp vào hệ Mông – Dao Tiếng nói dân tộc Dao được

chia thành hai phương ngữ với nhiều nhóm khác nhau: Phương ngữ kiềm miền (có

nhóm Dao Đại Bản, nhóm Dao Lô Gang, nhóm Dao Quần Chẹt, nhóm Dao Tiền) và

phương ngữ kìm mùn (gồm nhóm Dao Quần Trắng, nhóm Dao Làn Tẻn, nhóm Dao

Áo Dài) Sự đa dạng về ngôn ngữ là một cơ sở để thể hiện sự đa dạng trong văn hóacủa dân tộc Dao, tuy có nhiều nhóm, nhưng người Dao vẫn có thể hiểu và giao tiếpvới nhau bình thường vì “sự khác nhau về tiếng nói giữa các nhóm Dao ở ViệtNam không đáng kể, chỉ một số ít từ vị cơ bản và thanh điệu, còn cấu tạo ngữ phápkhông có gì thay đổi” [13]

Về chữ viết, “Dân tộc Dao không có chữ viết riêng của dân tộc mình Trướcđây họ dùng chữ Hán để ghi chép văn tự liên quan đến cưới xin, sinh đẻ Chữ Hánđược dùng nhiều trong sách cúng Chữ Hán là chữ tượng hình, không ghép vần nhưchữ La Tinh, người học phải nhớ từng con chữ một Do vậy ít người biết chữ Hán.Sau này người Dao đã Nôm hóa chữ Hán thành chữ Nôm Dao Chữ Nôm Dao vẫn

là loại chữ gốc Hán nên vẫn khó học, ít người biết Chữ Nôm Dao ngày nay vẫnđược sử dụng chủ yếu trong sách cúng, do vậy chỉ có thầy cúng và những ngườimuốn làm thầy cúng mới tích cực học loại chữ này” [38; tr.251] Cộng đồng ngườiDao, cho đến nay, vẫn còn lưu giữ một quyển sách dùng để dạy những người bắt đầu họcchữ người Dao, bằng tiếng Dao - Cuốn “Tam tự kinh” - sách học vỡ lòng của hệ thốnggiáo dục Nho giáo thời xưa ở Việt Nam Đây là những chữ Hán dạng phồn thể, được giữnguyên tự dạng Tầng lớp trí thức người Dao, qua các thế hệ, đã Dao hóa cách phát âmcác chữ Hán, cho gần gũi với tiếng Dao và vẫn giữ nguyên gốc nghĩa của các từ trongsách này “Phiên âm này được đọc theo một cách hoàn toàn khác tiếng Dao sử dụngtrong cuộc sống thường ngày, nên các nhà nghiên cứu gọi đó là tiếng Dao trong vănchương Trong quá trình giao lưu văn hóa, người Dao cũng tiếp nhận một số từ của Nôm

Trang 24

Tày, Nôm Việt, nhưng được Dao hóa bởi lẽ có nhiều từ và khái niệm mà tiếng Daokhông thể hiện hết được Điều đó đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng chongôn ngữ Dao… Chữ viết của dân tộc Dao là di sản văn hóa phi vật thể thuộc loạihình Tiếng nói, chữ viết đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danhmục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia [52].

1.3.2 Trang phục

Dân tộc Dao gồm nhiều ngành khác nhau, một trong những căn cứ quan trọng

để phân biệt các ngành Dao đó là trang phục Mỗi đường kim, mũi chỉ, mỗi sắc màutrong trang phục Dao vừa tạo nên nét đẹp riêng lại vừa điểm xuyến cho bức tranh

54 dân tộc thêm hài hòa, đa dạng Bởi sự nhẫn nại từ việc ươm mầm những câybông, cây chàm, từ bàn tay mẹ khéo lướt những đường chỉ trên tấm vải thơmhương chàm, bàn tay em thoăn thoắt đưa thoi, tâ, tư sẵn lòng lắng nghe tiếng gọi từ

xa xưa cội nguồn vọng về, và của những chàng trai trong phiên chợ tình đã mangđến cho những người phụ nữ Dao những ý tưởng tuyệt vời để tạo nên những bộ yphục độc đáo

Trang phục của đàn ông Dao khá đơn giản và có phần giống với trang phụccủa các dân tộc khác Áo có hai loại: áo ngắn và áo dài, những chiếc áo đều xẻ ngực

và cài cúc Quần được may bằng vải nhuộm chàm, cắt theo kiểu chân què, cạp lá tọa

nhuộm chàm hoặc để trắng Trước đây đàn ông Dao thường để tóc dài búi sau gáy

hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh được cạo nhẵn, họ ít khi để đầutrần, trên đầu thường vấn khăn theo kiểu đầu rìu bằng bốn vuông vải màu chàmhoặc vấn lên đầu nhiều vòng bằng một cái khăn dài bằng khoảng hai sải tay Đồtrang sức là những phụ kiện làm cho bộ trang phục củ người đàn ông Dao thêm tinh

tế như nhẫn, vòng tay, vòng cổ được làm bằng bạc, đồng, nhôm,

Tinh tế và sặc sỡ nhất vẫn là những bộ trang phục của phụ nữ Dao, có thế nói,đây là dân tộc có những chiếc y phục đa dạng nhất, điều này thể hiện được cáchcảm, cách nghĩ cũng như những nét văn hóa của các ngành Dao có nhiều điểm khácnhau Giữa đại ngàn núi rừng, ta dễ dàng bắt gặp những cô gái người Dao trongnhững chiếc yếm thắm giấu sau những chiếc áo xẻ ngực bắt chéo duyên dáng kếthợp với những chiếc vòng bạc mang đậm màu sắc cổ truyền, có khi buông xõa

Trang 25

những túm chỉ đỏ và các xâu hạt cườm đủ màu sắc hay những bông hoa được kết từchỉ đỏ rực rỡ,… hai tà áo màu chàm khi buông thả đung đưa vui cùng “Tết nhảy”,cùng các chàng trai trong đêm hát giao duyên, khi gấp nếp vắt lên chiếc thắt lưngsặc sỡ với nhiều họa tiết được dệt cực kì công phu và tinh tế Trên đầu là nhữngnhững chiếc khăn được vấn dưới nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau, có gắnthêm những mảnh bạc nhỏ hình tròn hoặc hình ngôi sao làm lấp lánh thêm cho vẻđẹp của núi rừng, của làng bản Phụ nữ Dao có tục chải tóc bằng sáp ong rất đặcbiệt, đó vừa là cách để làm cho mái tóc trở nên óng ả, mượt mà, đầy sức sống, lại cótác dụng làm cho những chiếc khăn vấn trên đầu chắc chắn hơn Nhìn chung, tôngmàu chủ đạo trong trang phục của người Dao là màu chàm, màu đỏ, và màu trắng.Hoa văn thường được trang trì ở cổ áo, ngực áo, đai áo, gấu váy hoặc gấu quần, ởchiếc khăn với đầu trong đó có thêu họa tiết hình sóc, gấu, chó ngũ sắc như một ýniệm xa xưa về Bàn Vương – thủy tổ của người Dao Họa tiết hình hoa, lá, hình tamgiác, hình móc câu hay răng cưa, hình chim, hình song nước, mặt trăng, mặt trời, đó

là những gì gần gũi với đời sống thường ngày của họ Trên lưng áo của cả nam và

nữ, người dao còn thêu họa tiết, dấu ấn của Bàn Vương lên đó vì họ quan niệmrằng: khi người ta chết đi, được mặc áo có các loại họa tiết này trong lúc khâm liệmthì linh hồn mới được tổ tiên đón nhập vào cõi thiên đường, siêu linh tịnh độ Quầnthường là quần ngắn, người Dao Quần Chẹt kể rằng: “Ngày xưa phụ nữ Dao mặcváy dài và rộng lòe xòe, đi lại hay bị vướng, khó khăn Một hôm, mẹ ốm, con gái đivào rừng hái thuốc, nhưng vì mặc váy, đi lại trên rừng rất khó khăn, chậm chạp chonên đi hái thuốc rất lâu mới về Về đến nhà thấy mẹ đã chết Từ đó người Dao thềđộc là bỏ mặc váy, ám chỉ mặc quần, hơn nữa chỉ mặc quần ngắn, ống hẹp để đi lại

dễ dàng, làm việc thuận tiện, nhanh nhẹn hơn” [38 tr.245] Hoàn mỹ nhất vẫn là bộ

y phục cô dâu trong ngày cưới, bằng cả niềm tin yêu thương và mong mỏi cho congái mình tìm được một tấm chồng tốt, người mẹ có thể dày công tới 3 năm để thêudệt nên bộ áo cưới dân tộc Dao không gì đẹp hơn, tất cả những gì tinh túy nhất, bảnsắc nhất mà người mẹ dân tộc Dao tạo ra từ tình mẫu tử thiêng liêng ấy…đều nằmtrong bộ trang phục này Nếu bộ áo cưới của phụ nữ Dao là biểu hiện của sự hoàn

mỹ, thì chiếc áo dành cho thầy cúng chính là biểu tượng cho truyền thống “uống

Trang 26

nược nhớ nguồn” của dân tộc, bởi ở đó, những dấu ấn về thủy tổ Bàn Vương

được gợi lên với nhiều hình ảnh và ý nghĩa khác nhau tô đậm thêm không khíthiêng liêng trong mỗi nghi lễ, phong tục của dân tộc “Thầy cúng thường mặcloại áo dài may bằng vải hoa Trung Quốc, chỉ có những thầy cúng từ 7 đèn trởlên mới bắt đầu dùng quần áo riêng và thường có 3 bộ khác nhau, tuy nhiênkhông phải lễ cúng nào cũng mặc quần áo thầy cúng Bộ đồ riêng này thườngđược mặc trong những dịp cúng cấp sắc, làm chay Riêng khi cúng Bàn Vương,thầy cúng còn phải mặc thêm một cái váy (ngoài chiếc quần dài) màu chàm, thêuhoa văn trang trí ở gấu Người Dao có hai cách giải thích về hiện tượng này là dotrước đây, thủy tổ của họ là Bàn Vương mặc váy, thứ hai là công việc cúng báixưa kai do người phụ nữ đảm nhiệm” [54; tr 45]

Khó có thể tả hết những nét đặc sắc trong trang phục dân tộc Dao Nhưngchúng ta, nhất là những người con của Bàn Vương cần phải tự hào rằng những điềucao quý và thiêng liêng mà cha ông ta lưu truyền vẫn được gìn giữ nguyên vẹn, vànhững gì mà người Dao đang vận trên mình chính là một cách để thể hiện niềm tựhào và tự tôn dân tộc

1.3.3 Thôn xóm và nhà ở

Người Dao có hai loại hình thôn xóm là thôn xóm cư trú phân tán và thôn xóm

cư trú tập trung Thôn xóm cư trú phân tán là nơi tập trung của những nhóm Daochuyên sống bằng nghề làm nương rẫy du canh, các gia đình sinh sống không cótính ổn định lâu dài mà chỉ là sự kết hợp tạm thời với năm bảy nóc nhà và cách nhaukhá xa Tuy vậy, họ vẫn luôn giúp đỡ và chia sẻ cho nhau trong cuộc sống Loạihình thôn xóm cư trú tập trung phần lớn ở những người Dao sống định canh định cưhoặc luân canh – định cư, đất đai sản xuất mang tính ổng định, mỗi làng có vài bachục nóc nhà gần nhau tạo điều kiện thuận lợi cho lối làm ăn tập thể

Nhà ở của người Dao chia thành 3 loại: nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất và nhàsàn Nhà đất là kiểu nhà lâu đời nhất, thường được làm ở vùng núi cao, ít rừng vàcây cối Nhà nửa sàn nửa đất thường được xây dựng ở những nơi ẩm thấp và khánhiều rừng, đáng chú ý là bàn thờ Bàn Vương luôn được đặt ở phần nhà đất Loạinhà sàn phổ biến ở vùng thấp gắn với nền kinh tế làm ruộng hoặc làm nương định

Trang 27

cư Nguyên vật liệu làm nhà tương đối dễ kiếm và cách thức xây dựng cũng kháđơn giản, mỗi khi làm nhà, mọi người trong làng thường đến giúp đỡ lẫn nhau hoặcgóp thêm nguyên liệu – điều này dường như đã trở thành một tập quán tốt đẹp của

sự tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng Dao

1.3.4 Đời sống tâm linh

Bất cứ quốc gia nào và dân tộc nào cũng vậy, đều chịu ảnh hưởng của nhữngtôn giáo khác nhau, ở người Dao – Tam giáo có một sự ảnh hưởng quan trọng đốivới đời sống tâm linh cũng như những nghi lễ, tín ngưỡng của họ Người Dao quanniệm rằng vạn vật hữu linh “tin vào vạn vật hữu linh, người Dao tin rằng mọi vật từ

vô tri, vô giác đến các sinh vật đều có linh hồn, có thần và những linh hồn đó,những thần đó có quan hệ tương tác với con người, có thể mang lại điều tốt lành chocon người, cho mùa màng bội thu, cho gia súc gia cầm đầy sân, đầy chuồng nhưngcũng có thể làm hại cho con người, mùa màng, gia súc và gia cầm” [38; tr 251].Người có 12 hồn hoặc 3 hồn 7 vía, người Dao lý giải rằng ốm đau, bệnh tật của conngười là do không đủ hồn vía trên cơ thể bởi nó bị ma quái bắt đi hoặc mải mê đichơi mà quên đường, khi đó cần có sự giúp đỡ của thầy cúng hoặc thầy bói Ma quỷthì có ma lành và ma ác Ma lành bảo vệ cho cuộc sống con người nên được ngườidân tôn trọng và thường xuyên cúng bái như ma tổ tiên, Bàn vương, ma đất, mabếp, thần nông,… Ma ác chuyên làm hại con người, mùa màng và gia súc như maNgọ hải, ma gà,… “Người Dao quan niệm thế giới có ba tầng: tầng trên trời, tầngtrên mặt đất và tầng dưới đất, dưới nước Tầng trên trời là nơi sinh sống làm ăn củacác vị thần linh và người khổng lổ; tầng trên mặt đất là nơi con người cùng các loàivật sinh sống; tầng dưới đất, dưới nước là thế giới của những người lùn (co còng).Người trên trời đeo dao ở cổ; người trên mặt đất đeo dao ở vùng thắt lưng; ngườidưới đất, dưới nước đeo ở bắp chân” [38; tr 252, 253]

“Ảnh hưởng của Tam giáo đối với người Dao thể hiện khá rõ nét Các thầycúng của dân tộc Dao, những bức họa, những bức tranh trong cúng bái, những hìnhmặt nạ hóa trang trong khi múa, những phù phép khi cúng chữa bệnh, bói toánchuẩn đoán bệnh cho người ốm…tồn tại trong các nghi lễ tôn giáo của người Daođều là sản phẩm của Đạo giáo Biểu hiện của Phật giáo trong tín ngưỡng dân tộc

Trang 28

Dao là quan niệm vê hóa kiếp luân hồi, uống nước thiêng chữa bệnh, ăn chay niệmPhật, tu nhân tích đức, ở hiền gặp lành,… Người Dao tin vào số mệnh của conngười, mỗi người có một số riêng Người sống lâu, người chết trẻ, người học giỏi,người học không giỏi, người đẹp trai, xinh gái, người cao, người thấp… là số dotrời quyết – thiên mệnh ( Khổng giáo)” [38; tr.252].

Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đã tạo ra những tục lệ ăn sâu vào đời sốngtinh thần của người Dao Trước hết là tục thờ cúng tổ tiên, bởi quan niệm con cóhồn nên họ cho rằng khi ông bà, cha mẹ mất đi thì linh hồn của học được đưa vềDương Châu nhưng linh hồn của họ vẫn thường đi lại thăm con cháu, một nénhương, một bát gạo, một chén rượu hay một chiếc bánh truyền thống trên bàn thờchính là biểu hiện của sự sùng bái đối với ông bà, tổ tiên

Truyền đời người Dao thờ gia tiên Thờ tổ Bàn Vương công khai sinh [71; tr 41]

Thông thường, người ta chỉ cúng 3 đời tổ tiên, chỉ khi nào có việc lớn thì cúng

9 đời Cũng trong những ngày này, người Dao thường kết hợp cúng tổ tiên với nghi

lễ cúng Bàn Vương ( lễ Chẩu Đàng) - ông tổ của mình, hoặc kết hợp với các dịplàm lễ Cấp Sắc, lễ tết và được thực hiện trong nhà tộc trưởng Lễ Chẩu Đàng cũngđược tổ chức riêng khi người ta thấy có những dấu hiệu sau: “Con lợn nái trong giađình thành viên dòng tộc chỉ đẻ hai con lợn đực Gia đình sẽ nuôi con lợn đókhoảng một năm sau, nếu một trong hai con lợn đó chết, hoặc cả hai còn cùng chếtthì không phải làm lễ cúng Bàn Vương nữa Nếu hai con lợn đó sống bình thườngthì người ta làm lễ thông báo cho Bàn Vương về hai con lợn thần tại nhà trưởng tộc.Thầy cúng khấn thông báo cho Bàn Vương biết về hai con lợn thần để làm lễ cúngtrả ơn Bàn Vương Sau lễ cúng thông báo về lợn thần, hai con lợn đó sẽ được đưa

về gia đình tộc trưởng nuôi đến khi lợn lớn khoảng 50kg thì làm lễ Chẩu Đàng” [38;

tr.254] Một sỗ lễ vật phục vụ cho nghi lễ như hương, rượu, giấy bản, thịt, rau,…để

thực hiện lễ này người ta mời 3 thầy cúng và mỗi thầy thực hiện môt nghi thức khácnhau Nghi lễ thờ cúng tổ tiên và cúng Bàn Vương là một nét đẹp trong văn hóa dântộc Dao, vừa thể hiện sự tôn sùng thủy tổ của mình và lòng biết ơn, kính trọng tổ

Trang 29

tiên đã tạo dựng cho con cháu đời sau được hưởng thụ những thành quả của họ, đểmạch nguồn truyền thống ân nghĩa thủy chung được giữ gìn và phát triển hài hòa.

“Từ lúc phôi thai, con người đã được bao bọc bởi những tập tục, lễ nghi đầy

đủ ý nghĩa nhân văn, rồi sinh ra và lớn lên, chuyển sang hàng ngũ người trưởngthành rồi bắt đầu thay thế ông bà, cha mẹ tiến hành nhiều công việc gia đình, xã hội

và nhiều việc khác…Đó là chu kì người đời” [31] Mỗi người Dao cũng có một chu

kỳ người đời của mình với nhiều nghi thức khác nhau, chính dấu ấn của tôn giáo vàtâm lý dân tộc đã tạo nên những nghi thức tín ngưỡng trong hành trình cuộc dời của

họ, những nghi thức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và dần dần nó trởthành tục lệ, phong tục Vòng đời của người Dao được đánh dấu bằng rất nhiều sựkiện như là những cột mốc của sự thay đổi và phát triển: Lễ đặt tên và lễ cúng mụ,

lễ đầy tháng, lễ đầy năm, lễ nhập họ, lễ cấp sắc,…và các nghi thức, nghi lễ như làcột mốc đánh dấu sự thay đổi của cuộc đời một người Dao như những những nghithức trong lễ cưới, trong đám tang,… tất cả những điều đó từ xưa đến nay bám chắctrong tâm thức người Dao và trở thành nguyện vọng, niềm tin dân tộc

Khi đứa trẻ vứa mời chào đời sau 3 ngày, người ta sẽ làm lễ cúng mụ và đặttên cho nó, với niềm mong ước đứa trẻ sẽ ngoan ngoãn, khỏe mạnh, nhận đượcnhững điều tốt lành và sự che chở của Đế Mẫu (Tay Mụ):

Nay vợ chồng sinh được con nhỏ Dâng mâm cơm cúng báo tổ tiên Hương hoa thơm hiến dâng thần thánh

Gà rượu xôi thơm khắp tuần nhang Chắp tay lạy khấn cầu tiên tổ Thần thổ địa và Pù Rằn man Mời bà mụ tứ phương bận rộn Xin về đây dạy bảo con thơ Cầu che chở cho con được phúc Mang điều lành, đuổi tàn ác dữ

Dù đi đâu không gặp gió độc

Ma ác cúi đầu, gặp niềm vui [58; tr.31]

Trang 30

Người Dao tin rằng, đứa trẻ có thông minh khỏe mạnh hay không là do sự phù

hộ, cứu giúp của 12 bà mụ và có một cái tên hợp với mệnh:

Cầu thần Đế Mẫu

Mở chài thả cá

Mở lồng thả chim

Mở tay thả hồn Hồn nhập vào người Hồn cười hồn khỏe.[58; tr.30]

Cột mốc quan trọng thứ hai trong vòng đời của người con trai dân tộc Dao đó

là khi họ được làm lễ trưởng thành hay còn gọi là lễ Cấp sắc (lập tịch) Họ quan

niệm rằng, chỉ khi nào đứa trẻ bước qua lễ Cấp sắc mới được coi là người lớn:

Tiếng cha ông chút heo gầy Vẫn tường gan ruột đông tây một dòng Muốn thành người lớn đàn ông

“Quá tăng” sắc cấp hàm phong chữ thầy

Xe duyên trời đất cao dày Đón đưa cũng thế một ngày hội hoa [71; tr.39]

Lễ Cấp sắc sẽ đem đến cho những người con trai Dao “hơi thở mới, có sức

sống mới, có tên gọi mới, có bắp thịt mềm dẻo và cứng như cây gỗ đinh trên rừng,

…”, “luôn bình yên mạnh khỏe, không làm ăn không vất vả, mùa màng luôn tốt

tươi, bội thu, lúa ngô đầy ắp trên giàn,…” [31; tr.116] “Mới có tâm, có đức, biết

phân biệt phải trái, mới có đủ tư cách làm các công việc trong các lễ cúng BànVương, lễ cúng tổ tiên trong các dịp tết lễ,… Có làm lễ cấp sắc thì sau khi chết hồn

mới về đoàn tụ với tổ tiên ở thế giới bên kia” [31] Không được cấp sắc thì không

“thống lĩnh” được âm binh, âm binh sẽ làm loạn, gây nguy hại đến vận mệnh củacon cháu trong gia đình dòng họ; cấp sắc cũng có nghĩa là “khai sinh” hay lễ nhậnlấy tên của thần thánh ban định cho Những bản cấp sắc còn có ỹ nghĩa là “giấythông hành” để sau khi chết có thể về thế giới bên kia mà không phải chịu hình phạtđọa đày ở âm phủ” [54; tr.78]

Trang 31

Người Dao quy định độ tuổi để có thế tiến hành lễ là vào khoàng từ 10 đến 20tuổi (tùy thuộc vào mỗi nhóm), đó là lúc chàng trai “đã biết cày ruộng, cấy lúa,

trồng chuối chuối sai, trồng mía mía ngọt, anh ta đã lớn khôn” [31; tr.116], cá biệt

có một số nơi như Quảng Ninh, Tuyên Quang, có thể tổ chức lễ Cấp sắc cho trẻ em

4 tuổi đến 8 tuổi Lễ Cấp sắc của người Dao có nhiều thanh bậc khác nhau: bậc đầutiên ai cũng phải trải qua là lễ “quá tang”, người thụ lễ được cấp 3 đèn với 36 âmbinh; lễ “thất tinh”, người thụ lễ được cấp 7 đèn và 72 âm binh – là những người có

ý nguyện theo nghề thầy cúng và phải có vợ; lễ “thập nhị tinh”, người thụ lễ được

cấp 12 đèn và 120 âm binh Lễ này thường được tổ chức vào thời gian nhàn rỗi, khi

nông vụ đã hoàn thành như tháng 11, 12 hoặc tháng giêng Bởi tầm quan trọng của

nó nên dù tốn kém đến đâu, người con trai Dao bắt buộc phải trải qua nghi lễ này.Điều này được thể hiện rõ từ khâu chuẩn bị, đặc biệt là chuẩn bị những bộ tranh thờđến khâu tổ chức lễ với rất nhiều nghi thức mang đậm tín ngưỡng của dân tộc

Lễ cấp sắc của người Dao là một di sản văn hóa trường tồn với thời gian, bởitrong đó có chứa đựng những cái tinh túy nhất, bản sắc nhất của một dân tộc, là nơilưu giữ tương đối đầy đủ nhưng giá trị truyền thống từ tín ngưỡng tôn giáo, sự suytôn giống nòi đến những cái đẹp trong trang phục, văn nghệ dân gian,… Hơn nữa,với những mục đích mà lễ Cấp sắc mang lại, nó còn có ý nghĩa giáo dục to lớn, là

cơ sở cho tính cố kết cộng đồng luôn bền vững trong mỗi vùng, mỗi làng, mỗi nhóm

và mỗi người Dao nói riêng, trong cả dân tộc Dao nói chung

Người con trai đã trải qua lễ Cấp sắc, sẽ trở thành trụ cột của gia đình,… Để

có thể xây dựng một gia đình riêng, mỗi người trong chu kì người đời lại cần phảitrải qua hệ thống những nghi thức mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc – đó là tập tục

cưới xin Quá trình đi đến hôn nhân của một đôi trai gái người Dao thật tự nhiên và

thuần phác, họ có thể phải lòng nhau chỉ trong một phiên chợ tình, trong những lờiđối khôn khéo của nàng và lời đáp đầy tình ý của chàng bằng những điệu hát “páodung” say đắm lòng người; kể cả những dịp đi chơi bạn bẻ, những dịp đám cưới,các ngày lễ tết lễ hội, chàng xuống chơi nơi thôn bản và gặp phải ánh mắt ngạingùng của nàng, để rồi kỉ vật trao tay, tình yêu chớm nở, tình yêu của họ sẽ đượckhoác thêm một bộ áo mới, đó là hạnh phúc gia đình Để đạt được ước nguyện đó,

Trang 32

họ phải đem lòng thành của mình thưa với mẹ cha, mong được sự chấp thuận của tổtiên và quan trọng hơn, phải trải qua những nghi thức có tính nguyên tắc mà tổ tiên,dòng tộc người Dao đã dựng nên từ bao đời – đó là những tập quán không một đôitrai gái Dao nào được bỏ qua nếu muốn đi đến hôn nhân

Nghi lễ trọng đại này của đời người được người Dao đặt ra rất phức tạp vớinhiều quy trình Lễ cưới của người Mông có 3 bước: lễ dạm hỏi, lễ đưa đồ cưới và

lễ cưới, người Tày có lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi và lễ cưới,… còn người Dao, hành trình

đi đến hôn nhân của một đôi trai gái thông thường phải trải qua bốn bước: bước thứ

nhất (nại nhạm hay nịnh nạm): nhà trai đến nhà gái xin so đôi tuổi Người Dao có

kinh nghiệm so tuổi bằng cách xếp lộc mệnh của hai người theo ngũ hành: kim,mộc, thủy, hỏa, thổ Họ quan niệm rằng trai gái lấy nhau cần phải hợp số mệnh, nếukhông thì sau khi lấy nhau sẽ có một trong hai vợ chống phải chết, người Dao gọi

đó là hiện tượng sát vợ hoặc sát chồng: “Nếu hợp với nhau thì đôi vợ chồng sẽ sốngđược trăm năm, con đàn cháu lũ để không những có nhân lực lao động mà còn cóngười nối dõi tong đường, thừa kế tải sản Còn nếu lấy nhau mà không hợp nhânduyên thì hai vợ chồng đó làm gì cũng chẳng nên và hay cãi cọ nhau trong sinh hoạthằng ngày, làm ăn không phát triển được, thậm chí một trong hai người đó phải

chết…” [31; tr.166, 167] Bước thứ hai (ghịa tịnh hay queng piêu): Nhà trai đến nhà

gái thông báo kết quả so tuổi nếu hợp và nhà gái ưng thuận thì xin thách cưới vàviết hôn thư Người Dao thách cưới bằng tiền và lễ vật, đó là những thứ biểu trưngcho giá trị của người con gái, đây là khâu rất quan trọng bởi vậy thường được haibên bàn bạc rất lâu Tiền thách cưới phổ biến nhất trong lễ cưới người Dao là bạctrắng, số lượng bạc trắng tùy thuộc vào một nhóm người và mỗi gia đình ngườiDao Lễ vật thách cưới gồm lợn, rượu, gạo, vải, quần áo,… Một số tộc người Daocòn có tục “chẩu công” – chú rể tương lai đến ở làm công cho nhà gái trong mộtthời gian nhất định, họ cho rằng làm như vậy là để đôi trai gái biết mặt nhau, làmquen nhau, trên cơ sở công việc đôi trai gái dễ dàng hiểu tính tình của nhau thuậnlợi hơn đồng thời để bố mẹ cô gái dễ dàng theo dõi xem chàng rể tương lai có mạnh

khỏe không? Làm việc có thạo không?… khi hết thời gian làm công ở nhà gái,

người con trai có được phép làm lễ cưới hay không còn tùy thuộc vào quyết định

Trang 33

của gia đình nhà gái [31; tr.171] Bước thứ ba (quyế lẩy hay thúng thẩu): định ngày

cưới, nhà trai đưa nhà gái nửa số tiền mặt và các đồ sính lễ khác Đây còn được gọi

là lễ ăn hỏi chính thức, ngày giờ làm lễ do nhà trai chọn và thông báo cho nhà gái

biết trước đó, sau khi đã giao một số tiền và đồ sính lễ, nhà trai sẽ hỏi các ngàykiêng kị của nhà gái và cô gái để tìm ngày tổ chức lễ cưới chính thức phù hợp nhất;

bước thứ 4 (chip nham hay quái trà): đây là khâu tổ chức lễ cưới [31; tr.164] Hôn

lễ được tổ chức trong 2-3 ngày, ngày nay do được tuyên truyền vận động nên hầunhư chỉ còn 1-2 ngày, nhưng nghi thức trong ngày cưới vẫn được giữ nguyên Nghithức trong lễ cưới người Dao rất đa dạng và có sự khác nhau giữa các ngành tùychịu sự chi phối của những quan niệm, tâm lý dân tộc Lễ cưới tại nhà gái thườngđơn giản, nghi thức tâm linh mà mỗi gia đình phải thực hiện trước khi đưa dâu sangnhà gái đó là thầy mo cúng trình báo tổ tiên với một số lễ vật như: thủ lợn, gà luộc,xôi, rượu Sau đó cô dâu đứng trước bàn thờ tổ tiên cúi lạy 3 lạy, đến trước mặt ông

bà, cha mẹ, cô dì chú bác lạy một lạy tạ ơn rồi lên đường về nhà chồng Đối với nhàtrai, trước khi đi đón dâu nhà trai mổ lợn mời bà con anh em rồi cử một đoàn ngườinhất định tùy vào tục lệ của mỗi ngành Dao để đi đón dâu và người Dao quan niệm

số người đón dâu phải là số lẻ và họ thường xuất phát vào lúc hoàng hôn Ngày lênđường về nhà chồng, cô dâu đem từ 2, 3 bộ quần áo truyền thống cùng đồ trang sức

và trên đường đi phải chùm vải đỏ, phù dâu phải luôn che mặt cho cô dâu NgườiDao Đỏ quan niệm, khi đi lấy chồng không được để mặt trời nhìn thấy mặt vì sợmất vía, sẽ gặp những điều không may sau này Cũng với mong muốn gặp nhiềumay mắn trong cuộc sống cũng như công việc, nhiều ngành Dao trên hành trình đưadâu luôn kiêng không đi qua dưới máng nước nếu gặp mà phải đi qua trên,… Khisắp đến nhà chồng, cô dâu dừng chân thay quần áo cưới – đây là một tục lệ mangtính bắt buộc Ngoài ra khi gần đến nơi thì đoàn đưa dâu phải nghỉ chân đợi ngườidẫn đường của nhà trai về báo trước, nhà trai sẽ cử một đoàn kèn, trống và ông chủ

lễ ra cổng đón, trong lúc hai bên gặp nhau thường diễn ra cuộc hát đối đáp và mớirượu Đến trước cửa nhà, cô dâu đứng ở cửa chính để thầy cúng giải hạn với mongmuốn xua đuổi các loại hạn có hại đến cô dâu để được bình yên và may mắn Cómột số tộc Dao quan niệm khi đến nhà trai phải nghỉ một ngày trước khi tiến hành

Trang 34

lễ trình báo tổ tiên Lễ vật cúng thường gồm có một con lợn nhỏ mổ sạch, một íttiền âm, một bát hương Thầy mo là người chủ trì nghi lễ và thay mặt gia chủ mời

tổ tiên về dự và phù hội cho đôi vợ chồng trẻ được hạnh phúc Sau đó, lễ cướiđược tiếp diễn với những tiếng kèn trống rộn ràng, tiếng chúc phúc của bà conláng giềng, tiếng hát dao duyên của những đôi nam nữ thanh niên và cả nhữngngười đã có tuổi, tất cả đều với mong muốn đôi trẻ sẽ có một cuộc sống thật ấm

no, hạnh phúc và gặp nhiều điều may mắn từ đó [26] Lễ cưới của người Dao chođến nay mặc dù đã giản lược gọn nhẹ hơn cho phù hợp với cuộc sống, nhưngnhững giá trị của nó theo thời gian vẫn sống mãi, chứa đựng những nét văn hóaquý báu góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa phi vật thể đặc sắc và độc đáotrong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Vòng đời cứ vận động theo thời gian, quan niệm tôn giáo, tín ngưỡng vẫn gắnvới vòng đời người Dao cho đến khi trút hơi thở cuối cùng Bước sang thế giới bênkia, linh hồn người Dao vẫn được trải qua những nghi thức đặc biệt, nghi lễ trongtang ma là những luật tục mà mỗi người Dao phải tổ chức cho một người đã khuất

Có thể nói quan niệm vạn vật hữu linh chi phối đền toàn bộ đời sống tâm linh củađời người, với quan niệm khi chết hồn lìa khỏi xác và đi về một thế giới khác tương

tự như trần gian mà ta đang sống Đối với người chết đã được cấp sắc thì người tabắn ba phát súng chỉ thiên để báo cho Ngọc Hoàng biết, nếu người chết là ngườiđừng đầu làng người ta còn phải chọc thủng nóc nhà và giương ô đặt ngay tại lỗthủng đó rồi bắn súng Khi có người chết mọi người trong nhà không được khócngay mà tang chủ phải đem lễ đến đặt trước cửa nhà thầy tào và mời thầy tào đếnchủ trì đám tang, sau đó đến từng nhà để báo tang và xin hộ tang rồi tới ngay nhàngười chết làm lễ mai tang Một nét đẹp trong văn hóa người Dao là cứ khi tronglàng có người chết, tất cả mọi gia đình đều đem góp gạo, muối, ngô,… và đến phụgiúp cho nhà có tang trong những ngày diễn ra tang lễ Tang ma của người Daogồm hai lễ: lễ làm ma chôn cất người chết và lễ làm chay đưa hồn người chết về với

tổ tiên Người chết được tắm rửa sạch sẽ và thay quần áo mới trước khi khâm niệm.Người Dao kiêng kị giờ khâm niệm trùng với giờ sinh của những người trong giađình Trước kia, tục hỏa tang phổ biến ở mọi ngành Dao nhưng nay chỉ còn thấy ở

Trang 35

người Dao áo dài hoặc một số ít người Dao Quần Trắng, ngày nay có lẽ tục địa tang

là phổ biến hơn cả, bên cạnh đó có cả hình thức táng lộ thiên Mộ người Daothường có hòn đá đặt phía đầu, ở người Dao Thanh Y hoặc Dao Quần Trắng còn cónhà mồ Dân tộc Dao đưa hồn người chết về Dương Châu – Trung Quốc Phong tụctang mà cũng là một trong những biểu hiện sắc nét của tình tương thân tương ái, củatính cố kết cộng đồng và không quên gắn với cội nguồn dân tộc làm nên nét phongphú trong văn hóa tâm linh của cộng đồng Việt

Việt Nam nói chung cũng như dân tộc Dao nói riêng thuộc loại hình vănhóa gốc nông nghiệp điển hình, họ sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên “dânnông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa bình với thiên nhiên” [66;

tr.22] Họ cho rằng giữa con người và thiên nhiên có mối quan hệ tương tác với

nhau, cùng với sự ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo như tin vào vạn vật hữulinh, tín ngưỡng đa thần nên trong đồng bào Dao có rất nhiều nghi lễ, tín ngưỡngliên quan đến nông nghiệp như: lễ cúng diệt trừ sâu bọ, lễ cúng miếu làng, lễcúng lập thu, lễ cúng hồn lúa,…

Lễ diệt trừ sâu bọ thường được tổ chức vào tháng 6, tháng 7 âm lịch là thờigian ngô lúa hoa màu đang phát triển Người Dao quan niệm rằng, một số ngườisống du canh du cư khi chuyển cư sang vùng đất khác vì không muốn những ngườisau canh tác tại đây nên đã dùng phép thuật để gọi sâu bọ về phá hoại mùa màng.Khi thấy cây cối, lương thực bị sâu bọ hoành hành quá nhiều, người dân phải lậptức làm lễ cúng cầu các thần không mang sâu bọ về phá hoại nương rẫy, ruộng lúanữa Nghi lễ này thường được tổ chức trong rừng, đồ lễ được sự đóng góp của tất cảngười dân trong làng, sau khi lễ xong dân làng cùng tổ chức bữa ăn đồng thời cùngnhau bàn bạc về phát triển kinh tế, giữ gìn đoàn kết và bảo vệ an ninh trong làng.Khi trong làng có gia súc, gia cầm, cây cối hoa màu bị dịch bệnh người ta cũng tổ

chức lễ cúng miếu làng Cũng như lễ cúng diệt trừ sâu bọ, lễ cúng miều làng là nghi

lễ cúng của cộng đồng làng, được tổ chức định kì vào các ngày mùng 1 tết, mùng

3-3, 15 tháng 7, và từ 25 đến 30 tháng 12 âm lịch Ở một làng người Dao luôn luôn

phải có một miếu làng – được coi là nơi gián tiếp gửi ý nguyện của người dân về

một mùa màng bội thu, gia súc gia cầm đầy nhà, con người được khỏe mạnh, an

Trang 36

lành tới 3 vị thần hộ mệnh: canh man (thần hộ mệnh cho người dân), tạy man (thần

hộ mệnh gia súc), cong man (ma trời phù hộ cho lúa gạo và hoa màu) Ngoài một sốnghi lễ được tổ chức trong phạm vi cộng đồng làng, trong mỗi dòng họ, gia đình

cũng có những nghi thức riêng như: lễ cúng cơm mới, lễ cúng hồn lúa,…Tất cả đều

nhằm mục đích cầu mong các vị thần đem đến cho cuộc sống tốt đẹp, một mùamàng bội thu, gia súc gia cầm đầy nhà,… Cho đến nay, những nghi lễ này vẫn đượcduy trì như là những minh chứng thể hiện cho sự bền vững của văn hóa tâm linhtrong tộc người Dao

Mùa xuân là mùa của sự sinh sôi nảy nở, là sự bắt đầu của một năm mới ấm

áp, phấn khởi Cùng với không khí rộn ràng của tiếng sáo, tiếng hát, của làn điệupáo dung say đắm lòng người Người Dao cũng không quên hướng thắp nhữngnén tâm hương tạ ơn tổ tiên người Dao - ngọn nguồn của muôn vàn hạnh phúc, ấm

no cũng như cầu nguyện cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt qua

một lễ hội vô cùng thiêng liêng – “Tết nhảy” Tết nhảy thường được tổ chức vào

tháng Chạp trước tết mấy ngày và quá trình chuẩn bị cũng khá công phu, quantrọng nhất là những bộ tranh thờ Lễ hứa đầu năm là một thủ lợn và những chiếcbánh giầy, bánh chưng Nghi lễ diễn ra cũng khá phức tạp: lập đán tẩy uế, làm lễkhấn mời thần thánh, tổ tiên, Bàn Vương; tuyên bố lý do và báo cáo công việc chothần thánh biết Trong suốt thời gian diễn ra nghi lễ trọng đại này, tiếng trống,tiếng kèn, chuông đồng rộn rã, thúc giục Trên vách gỗ, những bức tranh thờ đượctreo khắp nơi Trước bàn thờ Bàn Vương, những người đàn ông đứng tuổi mangtrang phục truyền thống của người Dao, nghiêm trang, thành kính, tay rungchuông, chân lướt như bay theo của thầy mo tiếng chuông, tiếng hú vang lên làmvang động cả núi rừng Không khí thiêng liêng và thành kính ấy đã tạo nên những

trong lòng bạn bè gần xa về một dân tộc Dao “uống nước nhớ nguồn”, trân trọng

quá khứ và tổ tiên xưa

1.3.5 Ăn uống, y học dân tộc

Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối, chỉ nhữngngày bận rộn mới ăn thêm bữa sáng Món ăn của họ cũng khá phong phú, đặc biệtphổ biến là những món thịt sấy khô, thịt luộc, thị ướp chua và măng chua,… và các

Trang 37

loại canh chua, canh đắng Khi ăn xong, người ta kiêng để đũa ngang miệng bát vì

đó là dấu hiệu trong nhà có người chết Người Dao hay uống rượu, phổ biến là rượucất, ở một vài nơi như Dao Thanh Y, Dao Tiền uống rượu hoãng, thứ rượu khôngqua chưng cất Nước uống hằng ngày là nước chè, nước vối hoặc nước lá rừng cótác dụng như nhưng vị thuốc bổ Người Dao thường hút thuốc lá, thuốc lào bằngđiếu cày hoặc tẩu Đồng bào Dao rất thảo ăn và mến khách, dù khách quen hay xa lạđến nhà chơi đều được chủ nhà thiết đãi rất chu đáo, bởi thế mà đồng bào thường có

câu: Đến làng người Dao thì không lo đói.

Dân tộc Dao nổi tiếng là dân tộc biết nhiều thuốc thảo dược nhất Có cả thuốc

bổ, thuốc chữa bệnh và thuốc độc Mỗi loại thuốc đều có những công dụng khácnhau và rất hữu ích, kiến thức y học dân tộc Dao có đóng góp lớn vào nền y học cổtruyền ở nước ta hiện nay

1.3.6 Văn nghệ dân gian

Nền văn nghệ dân gian của mỗi dân tộc đều chất chứa những tình cảm caođẹp, nhưng tâm tư, nguyện vọng của chính mình Dân tộc Dao một chiều dài lịch sử

và bề rộng trong đời sống tinh thần cũng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong dòngvăn nghệ dân gian của dân tộc với sự kết hợp độc đáo và đặc sắc của văn học và vănnghệ dân gian Trờ thành những nốt nhạc tươi vui góp vào bản hòa ca văn nghệ dângian của đất nước

Truyện thần thoại và cổ tích đóng một vai trò quan trọng trong kho tàng truyện

kể dân tộc Dao Góp phần tạo nên sự đa dạng trong quan niệm của các tộc người về

nguồn gốc của con người, của vũ trụ và tự nhiên,… Bàn Cổ là vị thần độc nhất sáng tạo ra vũ trụ trong quan niệm của người Dao, điều này được nói rất rõ trong Bàn

Vương Xướng Về nguồn gốc của loài người, đáng chú ý nhất là truyện Quả bầu với

nạn hồng thủy, nói về sự kết hôn của hai anh em ruột sau cơn biến cố và người vợsinh ra quả bầu, những mảnh bầu rơi vãi chịu phép thiêng của trời đất nên đã nở ratrăm giống người Cùng với những câu truyện kể về nguồn gốc loài người, ngườiDao còn có vô vàn sự tích kể về sự ra đời của muôn loài, những mâu thuẫn trong xãhội,… phản ánh ước mơ và quan niệm của người xưa Nếu chúng ta có dịp đến với

những ngôi làng Dao mà vẫn còn giữ được nét thuần trong sinh hoạt và văn hóa, thì

sẽ được nghe các già làng, các cụ, các bố các mẹ kể lại những câu truyện cổ tích

Trang 38

cũng như câu chuyện thần thoại đầy thú vị Ở phần đầu của chương, chúng tôi cũng

có nhắc đến cuốn sách cổ Quá sơn bảng văn hay Bình hoàng khoán điệp không

những có giá trị văn học sấu sắc mà quan trọng hơn nó là nguồn tư liệu nhằm gópphần nghiên cứu lịch sử tộc người Đây có thể coi là cuốn truyện thần thoại ghi lạixuất xứ và lý do vì sao nhà vua Trung Quốc cấp giấy thông hành cho con cháu

người Dao Truyện thơ của người Dao đến nay mới chỉ phát hiện được một số ít

được ghi thành sách bằng chữ Hán, phổ biến vẫn là truyện kể miệng như truyện Hai

chị em, truyện con quạ và cái trống, truyện yêu tinh,…

Thơ ca dân gian rất phổ biến trong tầm hồn và cuộc sống người Dao, từ xa xưa

đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong cộng đồng tộc người này Nónhư những lời ca tiếng hát làm đẹp tâm hồn cho con người ta quên đi những lo toan,vất vả mỗi ngày, trở thành một phần không thể thiếu trong mỗi nghi thức quan trọngtrong của đời Họ cất lên tiếng thơ mọi lúc mọi nơi, kể cả trong cái bấp bênh củanhững con người suốt một đời sống bằng nghề nương rẫy:

Thiếu ruộng uống vì năm mùa mất Hạn kéo dài nương đất nẻ khô Gặt xong đổ thóc vào bồ Lưng lửng nửa bồ thóc lép thóc rơm [13; tr.368]

Mặc dầu vậy, nhưng những đứa con của Bàn Vương cũng giống như cha ông

tổ tiên của mình, luôn vững tin vào tinh thần sắt đá đón nhận những khó khăn giankhổ bằng niềm tin sức mạnh của chính mình, những tiếng hát đối đáp của những đôinam nữ như làn gió mát xua tan đi nỗi nặng nhọc:

Mùa hè tra hạt trời nắng nóng Soi rát mặt người đẹp, sắc tàn phai Nếu người có thương nàng trẻ đẹp Ban cho mây lành che mặt trời Gió mát thổi nhẹ qua đỉnh núi Trăm họ gieo trồng đỡ khó khăn Nếu không mây gió che nắng nóng

Có tiếng hát xa, thỏa tấm lòng [58; tr.27]

Trang 39

Thơ ca dân gian người Dao có mặt ở khắp mọi nơi, gắn với chu kỳ đời người,

từ nghi lễ hát cúng trẻ sơ sinh, trong lễ cấp sắc, lễ cưới và cả phong tục tang ma,…điều đó cho thấy sự phong phú cũng như mối quan hệ chặt chẽ của thơ ca dân giantrong cuộc sống người Dao

Ca dao, tục ngữ, câu đố trong đời sống người Dao khá phong phú và cũng nhưcủa các dân tộc khác, phản ánh mọi phương dượng của đời sống xã hội: thiên nhiên,sinh hoạt, đạo đức, kinh nghiệm, phán đoán của con người Tuy nhiên, lớp văn họcdân gian này vẫn chưa được chú tâm khai quật nên hiện nay mới chỉ có số ít nhữnggiá trị này được công bố Nhưng cũng góp phần lớn làm phong phú thêm cho nguồndân gian dân tộc

Một trong những loại hình nghệ thuật dân gian được công chúng biết đến vàthích thú đó là hát Páo dung – là phương tiện truyền tải tâm tư, tình cảm, đề cao tìnhthần lao động sáng tạo, đạo đức, lẽ sống, phép ứng xử, ca ngợi thiên nhiên, tình yêuđôi lứa,… Hát Páo dung được chia thành hai loại: hát trong sinh hoạt và hát trongnghi lễ tín ngưỡng Cứ mỗi độ tết đến xuân về, khi mỗi phiên chợ tới, mỗi khi tronglàng diễn ra các nghi lễ vòng đời, lễ cưới,… là tiếng hát Páo dung lại vang động cảnúi rừng, đem đến cái xuyến xao cho trái tim của những ai đã một lần chìm đắmtrong những điệu khúc ngân nga ấy… Hát Páo Dung là làn điệu đậm đà xúc cảm,mang chất trữ tình vừa đằm thắm vừa mượt mà, thể hiện nét tươi sáng và giản dị màlay động lòng người của tâm hồn người Dao Nhưng hơn hết, giá trị văn được thểhiện trong những làn điệu Páo dung chính là định hướng giáo dục con người hiểubiết cội nguồn dân tộc, quê hương, hình thành nên những tình cảm cao đẹp về quêhương, đất nước và con người Việt Nam, tô đẹp cho non sống gấm vóc của tổ quốc

Tiểu kết

Thổi đến từ miền đất láng giềng như một tất yếu, và phát triển trong đại ngànvăn hóa của dân tộc, người Dao đã góp cho nơi đây những luồng gió mới từ chínhnhững giá trị nguyên sinh của bản thân, góp thêm sức mạnh để tiếp đà cho văn hóadân tộc ngày càng được bảo tồn và phát triển

Bản lĩnh của con người Dao thể hiện mạnh mẽ ngay trong những cuộc thiên dilâu dài và gian khổ, bởi niềm tin của họ luôn dành cho thủy tổ Bàn Vương Để khi

Trang 40

đặt chân lên vùng đất mới, họ đã không ngại ngần sống giữa núi cao hiểm trở, đôichân không ngừng nghỉ để đi khai phá những mảnh đất khác, và dần dần khẳng địnhđược vị trí của mình bằng việc đặt tên mình ở hàng thứ 9 trong 54 dân tộc anh em –

đó là một điều xứng đáng Nhưng sự tồn tại xứng đáng của nó đâu chỉ thể hiện ởcon số, khi người ta đã đặt niềm tin vào một vùng đất mới; khi người ta vẫn giữ trọntình cảm thiêng liêng với cộ với nguồn, với tổ với tông; khi người ta một lòng thànhkính muốn dâng những cái đẹp của chính mình cho vẻ đẹp của dân tộc thì khi đó, họkhông ngại ngần mang đến cho đất nước Việt Nam những nét văn hóa độc đáo từphương diện chữ viết – một di sản văn hóa độc đáo; đến tín ngưỡng, nghi lễ, phongtục – những báu vật của thế giới tâm linh; trang phục, nhà ở, ẩm thực – với nhữngphong cách và diện mạo đặc sắc; lễ hội và lễ tết – những làn gió mát xua tan mây

mù của sự mệt nhọc, khó khăn; và văn nghệ dân gian – một đóng góp quan trọngcho nền văn nghệ dân tộc Dân tộc Dao như một thanh âm đã góp vào bản hòa cađang rất rộn ràng của đất nước Việt Nam, nó vừa làm cho văn hóa Việt thêm đadạng và phong phú, nhưng lại cũng khẳng định một chỗ đứng độc lập trong bản hòa

ca ấy Nói như danh ngôn của Mahatma Gandhi: “Tôi không muốn ngôi nhà củamình bị vây kín giữa những bức tường và những khung cửa sổ luôn luôn bịt chặt,tôi muốn văn hóa của mọi miền đất tự do thổi vào ngôi nhà đó Nhưng tôi sẽ không

bị cuốn đi bởi bất cứ ngọn gió nào” [84]

Ngày đăng: 19/05/2016, 13:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại Nguyên Ân (1999), "Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
2. Hoàng Thị Âu (2012), Từ câu hát Sịnh ca đến hình ảnh đời sống đa diện của tộc người Cao Lan, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Thị Âu (2012), "Từ câu hát Sịnh ca đến hình ảnh đời sống đa diện củatộc người Cao Lan
Tác giả: Hoàng Thị Âu
Năm: 2012
3. Ban chỉ đạo đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam (2010), Cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chỉ đạo đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam (2010), "Cộng đồngcác dân tộc Việt Nam
Tác giả: Ban chỉ đạo đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
4. Báo Xã hội và đời sống, Văn hóa ứng xử trong gia đình, (25/06/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Xã hội và đời sống, "Văn hóa ứng xử trong gia đình
5. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng của cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ - tục ngữ trong ca dao, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Nhã Bản (2005), "Đặc trưng của cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ -tục ngữ trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2005
6. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Kế Bính (1990), "Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
7. Bộ Văn hóa thông tin (1972), Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa thông tin (1972)
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Năm: 1972
8. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Văn Chúc (1997), "Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXB Văn hóa thôngtin
Năm: 1997
9. Nguyễn Đức Dân (1999), “Đạo lý trong tục ngữ”, Tạp chí văn học, số 5, tr.57 – 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Dân (1999), “Đạo lý trong tục ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1999
10. Nguyễn Nghĩa Dân (2008), “So sánh tục ngữ người Việt với tục ngữ các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Văn học Dân gian (23/06/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Nghĩa Dân (2008), “So sánh tục ngữ người Việt với tục ngữ các dân tộcthiểu số”, "Tạp chí Văn học Dân gian
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Năm: 2008
11. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971),"Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1971
13. Bế Viết Đẳng (2007), Dân tộc học Việt Nam, định hướng và thành tựu nghiên cứu, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bế Viết Đẳng (2007), "Dân tộc học Việt Nam, định hướng và thành tựu nghiêncứu
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
14. Bàn Tài Đoàn, “Tên gọi và các ngành người Dao (Mán)”, Dân tộc số 36/1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn Tài Đoàn, “Tên gọi và các ngành người Dao (Mán)”
15. Mạc Đường (1959), “Dân tộc Mán” trong các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạc Đường (1959), "“Dân tộc Mán” trong các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1959
16. Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Đề cương bài giảng Phong cách học Tiếng Việt, ĐHSPTN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Đề "cương bài giảng Phong cách học Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2011
17. Cao Sơn Hải (2002), Tục ngữ Mường Thanh Hóa, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Sơn Hải (2002), "Tục ngữ Mường Thanh Hóa
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
18. Cao Xuân Hạo (2001), Ngôn ngữ và văn hóa in trong Tiếng Việt văn Việt người Việt, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Xuân Hạo (2001), "Ngôn ngữ và văn hóa in trong Tiếng Việt văn Việt ngườiViệt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
19. Nguyễn Văn Hậu, “Đi tìm bản sắc văn học qua thế giới biểu tượng”, http"//vanhoahoc.com/site/index Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm bản sắc văn học qua thế giới biểu tượng”, http
20. Diệp Đình Hoa (2002), Người Dao ở Trung Quốc (Qua những công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc), Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diệp Đình Hoa (2002), "Người Dao ở Trung Quốc (Qua những công trìnhnghiên cứu của học giả Trung Quốc)
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
21. Phạm Quan Hoan, Hùng Đình Quý (1999), Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quan Hoan, Hùng Đình Quý (1999), "Văn hóa truyền thống người Dao ởHà Giang
Tác giả: Phạm Quan Hoan, Hùng Đình Quý
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng câu tục ngữ theo chủ đề - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng câu tục ngữ theo chủ đề (Trang 64)
Bảng 2.2. Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các mối quan hệ - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
Bảng 2.2. Bảng thống kê tần suất xuất hiện của các mối quan hệ (Trang 73)
Bảng thống kê trên cho ta thấy tục ngữ dân tộc Dao mang màu sắc nông nghiệp đậm nét qua những hình ảnh phản ánh không gian văn hóa của dân tộc Dao. - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
Bảng th ống kê trên cho ta thấy tục ngữ dân tộc Dao mang màu sắc nông nghiệp đậm nét qua những hình ảnh phản ánh không gian văn hóa của dân tộc Dao (Trang 107)
Bảng 3.4: Bảng thống kê tần số xuất hiện những hình ảnh về tự nhiên, thực vật - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
Bảng 3.4 Bảng thống kê tần số xuất hiện những hình ảnh về tự nhiên, thực vật (Trang 134)
Bảng 3.5: Bảng thống kê tần suất của một số hình ảnh về thực vật xuất hiện - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
Bảng 3.5 Bảng thống kê tần suất của một số hình ảnh về thực vật xuất hiện (Trang 136)
3.7.3. Hình ảnh các loài vật trong tục ngữ Dao - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
3.7.3. Hình ảnh các loài vật trong tục ngữ Dao (Trang 137)
Bảng thống kê trên đã phản ánh rất xác đáng về cuộc sống nông nghiệp của người Dao. Ở đây, trâu và ngựa chiếm tỉ lệ nhiều nhất, và đó cũng chính là hai loài vật phổ biến trong chăn nuôi của người Dao - de tai ĐẶNG NGUYỆT   đề tài NCKH
Bảng th ống kê trên đã phản ánh rất xác đáng về cuộc sống nông nghiệp của người Dao. Ở đây, trâu và ngựa chiếm tỉ lệ nhiều nhất, và đó cũng chính là hai loài vật phổ biến trong chăn nuôi của người Dao (Trang 138)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w