Một khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về thơ của các nhà thơ nữ Thái Nguyên đương đại ở các bài thơ tình. Khóa luận còn rất nhiều thiếu sót, mong quý bạn đọc thông cảm và đóng góp ý kiến Chúc các bạn đọc tài liệu vui vẻ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kiến Thọ
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của nhà trường và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn
TS Nguyễn Kiến Thọ, em đã hoàn thành đề tài nghiên cứu “Cảm thức về tình yêu trong thơ của các nhà thơ nữ Thái Nguyên: Nguyễn Thị Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh”
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo NKT đã dành nhiều thời gian, công sức tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Thư viện trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 05 năm 2016
Người thực hiện
Đặng Thị Nguyệt
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Trang 5MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1.Văn học Việt Nam hiện nay có một đội ngũ nhà thơ nữ hùng hậu,
họ là thế hệ tiếp nối tinh thần thơ ca của lớp nhà thơ nữ bước ra từ sau kháng chiến Càng về sau ta càng thấy xuất hiện những nữ thi sĩ với những phá cách
và thể nghiệm mới mẻ Bên cạnh những đề tài với những cách biểu hiện mang tính truyền thống, các nhà thơ cũng đang tự xung phong mở đường giải phóng cho cái tôi phụ nữ chật hẹp, lắm phiền muộn nhưng cũng đầy tự tin, cao ngạo
Sự xuất hiện của họ vừa khẳng định được vai trò của quan trọng của thơ nữ Việt Nam, vừa khẳng định được những cái tôi cá tính riêng của mình Làm cho dòng thơ nữ đương đại nói riêng, thơ ca Việt Nam nói chung trở nên phong phú và nhiều sắc thái mới mẻ Trong đó, Nguyễn Thị Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh – 3 cái tên của lớp nhà thơ nữ Thái Nguyên và của thơ Việt Nam đương đại đã góp phần không nhỏ làm nên sắc diện mới ở một địa phương được biết đến như một trung tâm văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc Vì thế, nghiên cứu những cảm xúc, sắc điệu nghệ thuật trong thơ của các nhà thơ này cũng là việc làm cần thiết để thấy được những “cựa quậy, rung động” trong cái tôi của họ cũng như thấy được những bước đột phá, thay đổi về nội dung và hình thức của thơ, góp phần bước lên những nấc thang cao hơn của thơ ca Việt Nam
1.2.Tình yêu – tiếng nói thân quen ấy chắc chắn đã đi sâu vào tâm khảm của mỗi con người Nó là một trong những tế bào không thể thiếu của cuộc sống để từ đó những sắc thái tình cảm của con người xuất hiện đa dạng
mà ấn tượng Mà “thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi động chạm tới cuộc sống”, bởi thế, trong thơ tình yêu luôn được nhắc đến như một đề tài không bao giờ lỗi thời, mang đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể.Vì thế, nghiên cứu đề tài này chúng ta có dịp thấy được những cách cảm nhận đa
Trang 6sắc thái của các nhà thơ, mà ở đây là những nhà thơ nữ đương đại Thái Nguyên, góp phần làm đa dạng hơn cho bức tranh tình yêu trong thơ ca Việt Nam Hơn nữa, tìm hiểu đề tài này bản thân có cách nhìn đúng đắn hơn về tình yêu và cuộc sống.
1.3.Nguyễn Thị Minh Thắng, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu
là những cái tên không còn xa lạ với bạn đọc Họ là những nhà thơ có sức sáng tạo khá dồi dào với nhiều tập thơ hay và nhận được nhiều giải thưởng văn chương Tuy nhiên để hiểu rõ hơn hồn thơ của những nữ thi sĩ này thì có
lẽ không nhiều người có được Vìtừ trước đến nay, việc tìm hiểu tác phẩm thơ của 3 nhà thơ này mới chỉ dừng lại ở một số bài phỏng vấn, phê bình văn học, các bài báo, tạp chí, và một vài nghiên cứu… Những bài viết đó đôi khi có cái nhìn chung chung hoặc chỉ phân tích sâu vào một hoặc một vài bài thơ; một phương diện cảm xúc, nghệ thuật biểu hiện của thơ họ.Vì thế nghiên cứu đề tài này có thể góp phần thấy được sâu sắc hơn đặc điểm thơ của các nhà thơ
nữ Thái Nguyên cũng như cái cá tính riêng của mỗi nhà thơ trong việc biểu hiện cảm xúc
1.4.Là sinh viên trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên, nơi những nữ nhà thơ này bộc phát tiếng thơ của mình Hơn nữa lại là một sinh viên khoa Ngữ Văn – cũng mang một tâm hồn nhạy cảm nên nghiên cứu đề tài này cũng xuất phát mong muốn tìm thấy một sự đồng cảm, tiếng lòng của mình trong đó, thấy được những cảm xúc mà từ trước đến giờ chưa thể gọi tên Từ đó bản thân có hiểu biết hơn, có chiếc chìa khóa để giải phóng cho tâm hồn của mình đồng thời có thêm cố gắng, nỗ lực hơn trong học tập cũng như cuộc sống sau này
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu các tác phẩm thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thắng
Ngày 11/9/2003 trên Báo Thái Nguyên có ra bài báo số 1154 với bài
viết của tác giả Hà Đức Toàn, trong đó tập trung là nhấn mạnh đến số phận
Trang 7cũng như nghị lực vượt qua số phận của một người phụ nữ: “…Thơ Nguyễn Minh Thắng đầy ắp nỗi niềm Đọc xong, khi khép lại tôi vẫn thấy bâng khuâng cả về thân phận, nỗi đau, cả về sự khát khao, vừa thô nháp, vừa tinh tế, tôi cũng bâng khuâng về cách thể hiện đôi khi trần trụi của một cây bút nữ…” [55, tr.80]
Báo Nông nghiệp Việt Nam số 96 ra ngày 13/5/2004 có bài nhận xét
của Ngô Thanh Hằng về thơ Nguyễn Thị Minh Thắng với tựa đề “Em tự bật chồi như cây cỏ mùa xuân”[55, tr.79] Xuyên suốt bài viết tác giả đã nói đến những xúc cảm của người một người phụ nữ trong tình yêu như: xót xa, đau khổ, cô đơn, ghen tuông, yêu mê, hy sinh… và cả những trạng thái tâm lý của một trái tim khao khát sống mãnh liệt: khát khao, mạnh mẽ,…
Tác giả Việt Nga cũng có nhận định về thơ của Minh Thắng in trên
báo Giáo dục và Thời đại số 156 – 2004 Việt Nga đề cập đến phương diện
nghệ thuật, qua đó nói lên nỗi “khắc khoải, trống vằng” của người phụ nữ khi chìm vào trong cơn mê lạc của tình yêu, của nỗi cô đơn Tác giả cho rằng các bài thơ của nữ thi sĩ Nguyễn thị Minh Thắng không quá cầu kì, tập trung về mặt câu chữ, vần điệu cũng không quá gọt giũa mà biểu hiện ở thơ chị là sự “chân chất, mộc mạc giả dị trong nghĩa tình” [55, tr.80]
Nhà văn – nhà lý luận phê bình Hoàng Quảng Uyên đã ưu ái dành nhiều trang để viết về cảm thức cô đơn trong thơ Minh Thắng với tựa đề “Nỗi
cô đơn thánh thiện trong thơ Minh Thắng” Ông cho rằng thơ Minh Thắng
“Nhiều so sánh hay, giàu liên tưởng” và nỗi niềm bao trùm trong thơ chị là nỗi cô đơn, nhưng cảm xúc ấy không lặp lại một cách nhàm chán mà người đọc nhận thấy nó hiện lên với “nhiều khuôn mặt” Nhưng đó không phải là nỗi cô đơn “ủy mị, yếu đuối, cay nghiệt” mà sau cái buồn ấy, người phụ nữ vẫn khao khát sống, yêu, vẫn mạnh mẽ hối thúc để trở nên “Thánh thiện” Cuối cùng ông kết luận: “như thế Nguyễn Thị Minh Thắng đã có nhiều bài thơ hay về nỗi cô đơn” [56]
Trang 8Trong Lời tựa tập thơ Rét ngọt, nhà thơ - lí luận phê bình Chu Thị
Thơm cũng có những nhận định như các tác giả khác, nhà thơ cho rằng thơ Minh Thắng “cô đơn nhưng không tuyệt vọng” [56] và thơ có một giọng điệu riêng: nồng nàn, tinh tế, dịu dàng, đằm thắm Những tác phẩm của nữ thi sĩ chính là tổng hòa những cảm xúc, trạng thái tâm lý ngổn ngang trong tình yêu của một người phụ nữ từng trải
Nhà Thơ Ma Trường Nguyên với bài viết ra ngày 28/7/2009 với tên
“Người đàn bà “giữ lửa” đã có những nhận định khá xuyên suốt từ khi Minh Thắng đoạt giải trong cuộc thi của Sở văn hóa thông tin – thể thao của Hội
văn học nghệ thuật Thái Nguyên, cho đến khi ra mắt tập thơ đầu tay Người
đàn bà có đôi chân trần, và các tập thơ tiếp theo là Rét ngọt và Giữ lửa Ông
nhận định rằng thơ Minh Thắng đề cập đén vấn đề tình yêu, hạnh phúc gia đình và đặc biệt nhấn mạnh đến nỗi cô đơn, nỗi cô đơn bao trùm các tác phẩm Ông cũng cho rằng: “Thơ Minh Thắng chắc, khỏe, chân mộc mà chan chứa nỗi niềm của người phụ nữ, đa cảm mà tràn đầy sắc thái của người con gái Xứ Nghệ ” [56]
2.2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu các tác phẩm thơ của nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu
Cái tên Lưu Thị Bạch Liễu xuất hiện đầu tiên trên văn đàn Việt Nam
với bài viết của Trịnh Thanh Sơn in trên báo Văn Nghệ Trẻ số 42 ra ngày
16/10/2005 với nhan đề: “Bài hát này đâu chỉ riêng em hát”, người viết đã bày
tỏ ấn tượng sâu sắc của mình về một nữ thi sĩ trẻ mang đến cho thơ nhiều cảm xúc khác nhau: vừa mộc mạc, hồn nhiên; vừa say đắm mộng mơ lại vừa có sự khát khao, thách thức mãnh liệt [50]
Tạ Văn Sỹ trong báo Người Hà Nội số 43 ra ngày 26 – 10 – 2007 cũng
đã nhận định về đặc điểm thơ Lưu Thị Bạch Liễu trong bài viết: “Lưu Thị Bạch Liễu – nữ sĩ thơ tình” với nhận định: thơ chị mang đậm chất nữ tính nhưng cũng đầy cá tính Hầu hết các cảm xúc trong thơ đều được chị thổi vào
Trang 9với tất cả những tâm tư, tình cảm của một người phụ nữ, một người con gái
Vá cá tính ở chỗ chị đã thể hiện được một cách đa dạng, phong phú những
“tình cảm về người thân, những trạng thái tâm lí trong tình yêu, những lo âu phấp phỏng chốn tình trường, những nỗi niềm thầm kín riêng tư, những phút giây cô lẻ lặng thầm” [51]
Báo Quân Đội Nhân có đăng bài viết của Hồ Huy Sơn ngày 11/9/2009
với tựa đề: “Độc hành nhưng không cô đơn” nói về sự cô đơn mang những
giọng điệu khác nhau trong tập Cõi Tôi (2007) của Lưu Thị Bạch Liễu.
Vũ Nho đã có nhận định với bài viết: “Trong cõi Liễu” ở Báo Văn
Nghệ Thái Nguyên ra ngày 25 – 07 – 2009 đã chỉ ra được chất nữ tính, kín
đáo, lặng lẽ, độc hành trong tập Cõi Tôi của Lưu Thị Bạch Liễu, chỉ ra đặc
điểm của tập thơ này là thế giới tự nhiên hòa đồng nhưng cũng nhiều khi có
sự đối lập Ông cũng không ngại chỉ ra hạn chế nhỏ là nhiều khi quá chú tâm vào cái tôi mà quên đi những thành phần ngoài “cõi tôi”
Báo Sài Gòn Giải Phóng số 11832 ra ngày 24 – 05 – 2010 đăng bài viết
của Vũ Ân Thi: “Lưu Thị Bạch Liễu và những câu thơ động” nói về sự chuyển đổi cảm xúc thơ trong những trạng thái tâm hồn và thời gian của thơ Lưu Thị Bạch Liễu, về những sự “động đậy, cào cứa, mong muốn” của nhà thơ về tình yêu
Sự cô đơn trong thơ Lưu Thị Bạch Liễu cũng được nhắc đến cùng với nỗi cô đơn của những nữ thi sĩ khác trong bài “Cô đơn – Một cảm xúc thẩm
mỹ trong thơ nữ Thái Nguyên” trên Báo Thái Nguyên tháng 10 năm 2011 Bài
báo cho rằng Lưu Thị Bạch Liễu cũng đã lãng mạn hóa cô đơn bằng những hình ảnh thiên nhiên làm nơi nương tựa cho nỗi cô đơn của nhà thơ
Ngoài ra còn phải kể đến các bài phỏng vấn khác về thơ Lưu Thị Bạch Liễu như:
Trang 10Báo Văn Nghệ Thái Nguyên số 15 ra ngày 10- 8 – 2007 có bài phỏng
vấn mang tên “Tôi là người yêu nhiều” trao đổi về chum thơ đạt giải trong cuộc thơ tình năm 2007 và quan điểm sang tác của Lưu Thị Bạch Liễu
Báo Thái Nguyên Xuân Mậu Tý 2008 có bài phỏng vấn của nhà văn Phạm
Hà Phú: “Chân thành là thế mạnh của tôi” Bài phỏng vấn làm nổi bật quan niệm
về tình tình yêu với sự hiến dâng, khát khao, hy vọng của nữ thi sĩ này
Cuốn Ngẫu Luận, Hội nhà văn Việt Nam (2009), Phạm Văn Vũ có bài
phỏng vấn với Lưu Thị Bạch Liễu: “Người ta luôn nhận ra tôi là người Thái Nguyên” và trong đó nói đến phong cách thơ Bạch Liễu
Và một số bài viết khác về Thơ Lưu Thị Bạch Liễu đăng trong các bài báo, tạp chí
2.3.Lịch sử vấn đề nghiên cứu các tác phẩm thơ của nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh
Nguyễn Xuân Dương đã có những cảm nhận rất ấn tượng về thơ
Nguyễn Thúy Quỳnh viết trên trang tranhhuong.net với tựa đề: “Với thơ Nguyễn Thúy Quỳnh” sau khi đọc Mưa mùa đông: “Tôi chỉ muốn nói đến
những gì mà thơ NTQ đã bồi đắp cho tâm hồn tôi, cho tâm hồn của những ai
đã được đọc thơ NTQ Đó là tính nhân văn cao cả, lòng nhân ái bao dung mà NTQ muốn gửi gắm qua thơ mình đến với cõi người” Ở đây, người viết đã cho rằng cuộc đời Nguyễn Thúy Quỳnh nhiều đa đoan nhưng chị lại là một nhà thơ giàu lòng nhân ái
Tác giả - thầy giáo Nguyễn Kiến Thọ với bài viết: “Ẩn ức đêm trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh” nhấn mạnh sự ngự trị của không gian “đêm” trong suốt 37 bài thơ và đó chính là không gian của những suy tư và cảm xúc trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh: “Đêm là nơi gửi gắm, là nơi chia sẻ, là nơi nương tựa cho những trạng huống tinh thần của nhà thơ Đêm là nơi đong chứa những kỷ niệm êm đẹp
Trang 11nhất của chuỗi ngày hạnh phúc vẹn tròn, là nơi chứng kiến những khổ đau dằn vặt
và những bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời của chị” [58]
Tác giả Vũ Nho cũng đã có nhận định: “Nhưng ấn tượng về thơ chị không phải chỉ là cảnh sắc thiên nhiên mà chủ yếu là một tâm hồn, một con người say đắm, mạnh mẽ, quyết liệt mà đôn hậu” trong bài viết: “Nguyễn Thúy Quỳnh mãnh liệt mà đôn hậu” [43]
Với đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của
ba nhà thơ: Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung do
tác giả Nguyễn Hồng Thúy lựa chọn cho luận văn thạc sĩ của mình năm 2014, thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã được mổ xẻ phân tích tương đối kĩ về các phương diện: thể thơ, vần nhịp và cách tổ chức bài thơ, ngôn ngữ và hình ảnh thơ, các biện pháp tu từ được sử dụng qua đó nhận định được sắc thái phong cách riêng của nhà thơ so với các nhà thơ nữ khác
Đỗ Thu Hà trong Luận văn thạc sĩThơ Thái Nguyên thập niên đầu thế kỉ
XXIđã giới thiệu đến độc giả thơ của nữ nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh với vai
trò là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ Thái Nguyên thập niên đầu thế kì XXI cùng với Võ Sa Hà và Ma Trường Nguyên.Về nội dung, tác giả cho rằng trang thơ Nguyễn Thúy Quỳnh nhiều cảm xúc, suy tư, trăn trở về tình yêu cũng như cuộc đời của mình với những sắc thái cung bậc khác nhau.Về nghệ thuật, thơ Thúy Quỳnh sử dụng thế giới hình ảnh cầu kì, hoa mĩ nhưng biểu cảm và giàu tính biểu tượng; giọng kể lạ và cấu tứ chặt chẽ; thể thơ có nhiều tìm tỏi thể nghiệm, đặc biệt sử dụng nhiều thể thơ tự do với những phá cách mới [14]
Ngoài ra còn phải kể đến một số bài viết khác trong các bài viết trên các báo, tạp chí và một vài công trình nghiên cứu khoa học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Nghiên cứu, phát hiện cảm thức về tình yêu của Nguyễn Thị Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh qua các tác phẩm thơ.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các tập thơ của Nguyễn Thị Minh Thắng bao gồm:
- Người đàn bà có đôi chân trần, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003.
- Rét ngọt, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006.
- Giữ lửa, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, (2010).
- Nấc trầm, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2014.
Nghiên cứu các tập thơ của Lưu Thị Bạch Liễu bao gồm:
- Cõi tôi, Nhà xuât bản Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2007.
- Sông cầu đang chảy đâu đây, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.
- Nở muộn, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2003.
- Trường Sa! Ơi Trường Sa!, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên, 2014.
Nghiên cứu các tập thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh:
- Giá mà em từ chối, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002.
- Mưa mùa đông, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2004.
- Những tích tắc quanh tôi, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2011.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài đi sâu vào khảo sát về chủ đề tình yêu trong từng bài thơ cụ thể
từ đó phát hiện ra cảm thức của các tác giả về tình yêu và hạnh phúc trong thơ của 3 nhà thơ nữ nói trên
- Thấy được những cá tính giống và khác nhau của các nhà thơ qua việc so sánh cảm thức về tình yêu của các nhà thơ ở từng phương diện cụ thể của tình yêu
- Phân tích được những đặc trưng trong cảm thức về tình yêu của mỗi nhà thơ ở phương diện nghệ thuật
- Bước đầu xác định được phong cách, cá tính sáng tạo để khẳng định được vị trí của họ trong thơ nữ Thái Nguyên cũng như trong thơ nữ Việt Nam đương đại, đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong giảng dạy và học tập tại địa phương
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Cảm thức về tình yêu trong thơ của các nhà thơ
nữThái Nguyên: Nguyễn Thị Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh”chúng tôi sử dụng những phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Thơ nữ Thái Nguyên trong dòng chảy chung của thơ ca Việt Nam đương đại
Chương 2: Những khúc biến tấu tâm hồn về tình yêu và cuộc sống.Chương 3: Một số đặc trưng về nghệ thuật biểu hiện cảm thức tình yêu
Trang 14Chương 1
THƠ NỮ THÁI NGUYÊN TRONG DÒNG CHẢY CHUNG CỦA THƠ
CA VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1.Thơ nữ Việt Nam đương đại – Tiếp nối và cách tân
Chúng ta đã biết đến thơ của các thế hệ nhà thơ nữ sinh ra trong thời kì đạn bom, họ cùng với thơ quần mình vào trong những trận chiến khốc liệt với một ý chí kiên cường, với nỗi đau thương cho những sự mất mát hy sinh và một niềm tin son sắt vào chiền thắng cuối cùng của dân tộc.Thơ họ lúc này khỏe khoắn và tràn đầy sức sống Bước ra từ sau ngày 30/4 lịch sử, những cây bút ấy vẫn tiếp tục hành trình thực thi những sứ mạng cao cả của thơ ca
Cùng với thời gian, sự đổi thay của cuộc sống với hơi hướng hiện đại, đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa và thời kì hội nhập đã sinh ra những con người mới với lối sống mới, cách nghĩ cách cảm mới từ đó thơ bắt đầu chuyển mình sang một sắc thái mới với những cách tân cả về nội dung và hình thức, đó là lớp nhà thơ nữ Việt Nam đương đại Có thể chia đội ngũ nhà thơ đương đại với những tác phẩm của họ theo hai xu hướng chính: thơ truyền thống có sự giao thoa hiện đại và thơ cách tân với những sự phá cách về nội dung và hình thức, đương nhiên việc phân chia như vậy chỉ được coi là tương đối vì rất nhiều nhà thơ có những bài thơ thuộc hai xu hướng
Các nữ thi sĩ thuộc xu hướng thứ nhất là thế hệ chịu ảnh hưởng của thơ ca truyền thống như: Xuân Quỳnh, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Đỗ Bạch Mai,… lớp nhà thơ này bên cạnh việc tiếp tục khai thác những đề tài cũ như: tình yêu, tình mẹ con, tình bạn, thân phận người đàn bà,… thì họ cũng đã bắt đâu đi sâu khai thác những đề tài mới đầy biến động của cuộc sống, những va đập đời thường, những khao khát mãnh liệt,…
Sống cách xa thời kì chiến tranh hơn, là lớp nhà thơ nữ sinh ra trong thời bình, họ không chịu trực tiếp gánh nặng từ chiến tranh, sống trong thời
Trang 15đại mới nên quan niệm nghệ thuật của những thế hệ mới này cũng cởi mở hơn, táo bạo hơn Nội dung thơ gắn liền với đời sống tình cảm mãnh liệt, khơi gợi tình yêu và có khi là nhục cảm thân xác Lối thơ tự do phóng khoáng hơn, mạnh về ngôn từ, lạ về giọng điệu cũng như thể hiện cái bản ngã một cách mãnh liệt Đó là thế hệ các nhà thơ như: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Trương Quỳnh Chi, Đây chính là lực lượng “mạnh” làm cho bức tường “quyền lực” của nữ giới trong thơ trở nên kiên cố hơn.
Về phương diện nghệ thuật, trước hết là thể loại, các nhà thơ nữ vẫn thường xuyên sử dụng những thể thơ truyền thống nhưng mang một hơi thở mới Thơ lúc này mang nhiều nỗi niềm tâm sự, đậm chất triết lí, sự tỉnh táo và mạnh bạo, những suy ngẫm về nhân tình thế thái,… Tuy nhiên, thời kì này là
sự lên ngôi của thể thơ tự do, rất “tâm đầu ý hợp” với những sự phá cách về nội dung, nó không bị ràng buộc bởi những qui tắc nhất định về câu, chữ, niêm, đối,… cũng giống như ý thức không chịu trói mình trong những khuôn khổ tù túng chật hẹp Tiếp theo là sự đổi mới về hình tượng thơ, thế hệ thơ nữ đương đại có những cách xây dựng hình tượng thơ riêng và độc đáo, đặc biệt
là sự xác lập hình tượng cái tôi – chủ thể trữ tình – chủ thể sáng tạo Hình tượng cái tôi thời kì này hiện lên với vô vàn bộ mặt khác nhau: từ một cái tôi tràn đầy đắm say trong tình yêu cho đến một cái tôi mang nhiều dự cảm đổ vỡ; từ một cái tôi cô đơn cho đến cái tôi khát khao mãnh liệt, cái tôi của một trái tim nhạy cảm với đời và cái tôi sâu sắc đầy triết luận;… Về ngôn ngữ, điển hình nhất là sự giảm đi tương đối nhiều về số lượng từ ngữ miêu tả chiến tranh, sự xuất hiện của những từ ngữ nước ngoài, những từ ngữ “táo bạo” hơn, hệ thống tính từ phong phú và những từ ngữ lạ, mới mẻ làm nên sự phong phú và khác lạ cho thơ thời kì này Có lẽ xuất phát từ tưởng dân chủ hóa trong thơ, bản năng người phụ nữ, khát khao giải phóng cái tôi phụ nữ là động lực cho những sự “bạo động” về chữ trong thơ nữ Việt Nam đương đại
Trang 16Bằng nhưng sự nỗ lực làm mới cho thơ cả về nội dung và hình thức, lực lượng nhà thơ nữ Việt Nam đương đại đang và đã hoàn thành được “sứ mệnh” của mình trong việc khẳng định quyền lực riêng của nữ giới, cho cả văn đàn và độc giả Việt Nam cũng như trên thế giới thấy rằng ở Việt Nam có một đội ngũ nhà thơ nữ đang vươn lên đầy mạnh mẽ
và cá tính nhưng lại không làm mất đi những giá trị truyền thống cốt lõi của người phụ nữ Việt Nam
1.2 Thơ nữ Thái Nguyên đương đại – diện mạo và vị trí trong làng thơ Việt Nam
1.2.1 Sinh ra từ một mảnh đất giàu truyền thống thơ ca
Hòa cùng dòng chảy chung của thơ nữ Việt Nam đương đại, thơ ca Thái Nguyên nói chung đã trải qua một quá trình trưởng thành với nhiều dấu
ấn gắn với hoàn cảnh lịch sử, đời sống văn hóa, tư tưởng của con người nơi đây Từ văn học dân gian - “khởi nguyên” của mạch nguồn thi ca trên mảnh đất nằm ở trung tâm Việt Bắc này, đến sự xuất hiện của đội ngũ các cây bút thời kì trung – cận đại như Trình Hiển, Đỗ Cận,… góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học viết đất Thái Sang thời kì hiện đại, thơ ca Thái Nguyên bước sang một trang mới gắn liền với sự thành công của Cách Mạng tháng Tám Thơ ca Thái Nguyên cũng gánh vác nhiệm vụ chung của cách mạng đó
là cái nôi căn cứ địa kháng chiến Rất nhiều nhà thơ từ khắp mọi nơi đã về đây sinh sống và hoạt động cách mạng, từ đó nhiều bài thơ gắn liền với cảm xúc về mảnh đất và con người Thái Nguyên Những cây bút người dân tộc thiểu số như: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn,… với những bài thơ viết về vùng đất Thái Nguyên, ca ngợi Cách Mạng, ca ngợi Đảng và Bác Hồ, cổ vũ ý chí và niềm tin chiến đấu cho nhân dân,… Họ được xem như là những nhà thơ tiên phong cho sự ra đời của nền văn học Việt Bắc và là nền văn học Thái Nguyên sau này Sự ra đời của Hội Văn Nghệ Bắc Thái tại thị xã Thái Nguyên hội tụ đầy đủ các văn nghệ sĩ của khu vực Việt Bắc đã tạo điều kiện cho sự
Trang 17giao lưu, hội tụ và xuất hiện của đội ngũ nhà văn, nhà thơ trên toàn khu vực
và là động lực mạnh mẽ để các nhà thơ cống hiến hết mình cho nghề thơ Hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước một lần nữa thôi thúc các cây viết chuyển sang một hướng mới với những đề tài chiến tranh ghi lại những năm tháng hào hùng của dân tộc Các nhà thơ đã phơi bày được bức tranh hiện thực khốc liệt ấy trên trang thơ của mình Ngoài ra còn phải kể đến những nhà thơ tham gia bộ đội và vào chiến trường miền Nam như Thế Chính, Hoàng Đình Quang, Quang Chuyền,… cũng như là các nhà thơ – nhà giáo như Trần Văn Loa, Khánh Kiểm,… đều đem hiện thực cuộc đấu tranh chống Mỹ vào những vần thơ
Sau năm 1975, đội ngũ nhà thơ có sự phát triển về số lượng và sự mở rộng về đề tài, tiếp tục nguồn cảm hứng về cách mạng với những tác phẩm ca ngợi về tinh thần chiến đầu và sự thắng lợi của các mạng, nhiều nhà thơ đã hướng ngòi bút về những vấn đề thế sự trong thời bình, những suy ngẫm về con người, đất nước; những băn khoăn, trăn trở về những giá trị đạo đức của con người và đặc biệt là xoáy sâu vào cái bản ngã để tự soi xét, suy ngẫm về chính mình Năm 1987 là sự kiện đáng nhớ khi Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên ra đời, những cây bút thuộc thế hệ trước vẫn phát huy thế mạnh của mình, cùng với đó là sự xuất hiện và phát triển của rất nhiều cây bút trẻ như: Vũ Đình Toàn, Triệu Doanh, Võ Sa Hà, Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Kiến Thọ,… và đặc biệt ở giai đoạn này có sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ
- họ đã để lại nhiều ấn tượng trong dòng chảy thơ ca Thái Nguyên nói riêng, thơ ca đương đại nói chung như: Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Vũ Thị Tú Anh, Chu Thị Thơm, Cao Hồng, Minh Hằng, Dương Thu Hằng, Mai Thắng,…
Cho đến nay, thơ Thái Nguyên đã thực sự để lại dấu ấn trong dòng chảy văn chương cả nước, nhiều nhà thơ đã góp mặt trên những tạp chí, tờ báo có
tên tuổi như: Báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Báo Quân đội Nhân dân, Tạp chí
Trang 18Văn nghệ Quân đội và các Tuyển thơ như: "Thơ nhà giáo", "Tuyển thơ Việt Nam thế kỷ XX", "Thơ tình Việt Nam thế kỷ XX", "Thơ trẻ"…
1.2.2 Khẳng định sự trưởng thành và những đóng góp quan trọng
Hòa chung dòng chảy của thơ nữ đương đại nói riêng, thơ ca Thái Nguyên nói chung, lớp nhà thơ nữ Thái Nguyên thời kì đương đại cũng đã để lại dấu ấn khó quên trong lòng công chúng bạn đọc Họ đã góp phần tô đậm thêm diện mạo thơ nữ đương đại Việt Nam nói chung cả về mặt phát huy những giá trị thơ truyền thống và những sự phá cách theo hơi hướng hiện đại Thơ họ phản ánh đầy đủ mọi mặt của cuộc sống: tình yêu, tình gia đình, bạn
bè, những vần đề thời sự và những triết lí cuộc sống nhân sinh,… bên cạnh đó
có cả những nhà thơ đi sâu vào cái tôi cá nhân để nói lên những nỗi niềm thầm kín, những khát khao mãnh liệt, những cảm xúc riêng tư trong cá tôi của mình
Nằm trong mảng đề tài chung về cảm hứng chiến tranh, cách mạng, các nhà thơ nữ Thái Nguyễn cũng góp những “tiếng súng” riêng vào trận địa khốc liệt, đó là những kí ức về một thời bom đạn đã đi qua, những mất mát đau thương cả về thể xác lẫn tinh thần, đặc biệt là ở mảng đề tài này các bài thơ của họ không miêu tả một cách khách quan hiện thực chiến tranh, mà các nữ thi sĩ viết về tình yêu, nỗi đau, nỗi nhớ của những người phụ nữ có chồng, có người thân đang phơi mình nơi chiến trường
Cùng chung cảm hứng yêu quê hương đất nước, các nhà thơ ấy thời đã góp một nét vẽ của mình cho bức tranh quê hương xứ sở Nhiều bài thơ của
họ viết về Thái Nguyên với một tình yêu cội nguồn say đắm, như lòng tri ân gửi tới mảnh đất kháng chiến – “Thủ đô gió ngàn” vừa hào hùng mà cũng đầy
thơ mộng này Bạch Liễu có Sông Cầu đang chảy đâu đây, Nguyễn Thúy Quỳnh có Đến Thần Sa, Mưa mùa đông,… Trần Thị Vân Trung với chùm thơ
Quê hương huyền thoại đã giới thiệu đến người đọc những địa danh gắn liền
với vẻ đẹp của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
Trang 19Có người nói: “đa tình” là phẩm chất thiên phú của nhà thơ của các nhà thơ Thái Nguyên Thật vậy, những bài thơ với chủ đề tình yêu và hạnh phúc lứa đôi vẫn luôn là đề tài chiếm trọn hồn thơ của các nhà thơ thời kì đương đại Mọi cung bậc cảm xúc của tình yêu và hạnh phúc đều được các nhà thơ
nữ thời kì này thể hiện với một sự mãnh liệt, sôi nổi và táo bạo nhất Trong
đó, các nhà thơ nữ Thái Nguyên dường như cũng xác lập được một cảm hứng chủ đạo, đó là: sự cô đơn thi sĩ, nỗi buồn, khát vọng và sự bứt phá Các nhà thơ Vũ Thị Tú Anh, Chu Thị Thơm, Nguyễn Thị Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh,… đều có nhiều bài thơ hay mang cảm hứng này
và trong số đó có những bài đạt giải thưởng trong nước và quốc tế
Như vậy, có thể nói cho đến nay, thơ nữ Thái Nguyên đã có một vị trí quan trọng trong dòng chảy chung của thơ ca nữ Việt Nam đương đại Về số lượng, đội ngũ nhà thơ nữ Thái Nguyên hiện nay tăng nhanh và trở thành lực lượng không thể thiếu của thơ ca Thái Nguyên cũng như cả nước Về nội dung, chất lượng, bên cạnh xu hướng chung của thơ ca Việt Nam đương đại, các nhà thơ nữ Thái Nguyên cũng có những sáng tạo riêng, những đối tượng riêng, cách cảm nhận độc đáo với những bứt phá riêng để tạo nên một đội ngũ nhà thơ ở tỉnh Thái Nguyên được công chúng và giới nhà thơ biết đến, không chỉ về số lượng tác phẩm mà còn được minh chứng bằng nhiều giải thưởng có
giá trị trong tỉnh và toàn quốc như: Nguyễn Thúy Quỳnh với tập thơ Mưa
mùa đông, Minh Thắng với tập Rét ngọt được giải thưởng của Ủy ban toàn
quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong các năm 2004,
2006; ba giải thưởng của hai tờ báo lớn: Văn nghệ quân đội, báo Văn Nghệ
dành cho Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu; Lưu Thị Bạch Liễu với
Tập Cõi tôi đoạt giải của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và tập Sông Cầu vẫn chảy đâu đây đoạt giải của Hội văn nghệ
các dân tộc thiểu số Việt Nam Thơ nữ Thái Nguyên đương đại vẫn đang dần khẳng định vị trí của mình trên văn đàn thơ ca đương đại Việt Nam
Trang 201.3 Nguyễn Thị Minh Thắng, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu –
3 nữ nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Thái Nguyên đương đại
1.3.1 Nguyễn Thị Minh Thắng
Nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thắng sinh ngày 22 tháng 2 năm 1957 ở Hưng Thái – Hưng Nguyên – Nghệ An nhưng lại lớn lên ở Nghĩa Thắng – Nghĩa Đàn – Nghệ An Nghệ An - mảnh đất Miền Trung đầy nắng và gió đã sinh ra và nuôi lớn một người con gái mạnh mẽ và đầy nghị lực Đây cũng chính là mảnh đất đã nuôi dưỡng lên một hồn thơ khỏe khoắn, gai góc Chị đã
có một thời khoác áo lính, đó là khoảng thời gian chị làm quân nhân thuộc Trung đội thông tin, Phân hiệu trường Lục quân I – Qk4 từ năm 1975 – 1978 Nhà thơ tốt nghiệp khoa Vật lý – Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, tốt nghiệp Đại học phần – Trường Đại học Công Đoàn Việt Nam Sau đó, chị công tác tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cho đến nay đã nghỉ hưu Hiện tại chị đang sinh sống tại thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên
và là Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Hội viên Hội Văn học nghê thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Mặc dù học chuyên về ngành khoa học tự nhiên nhưng Nguyễn Thị Minh Thắng lại có đam mê làm thơ từ rất sớm Có lẽ cũng bởi trái tim người phụ nữ nhạy cảm và từng gặp nhiều trắc trở trong tình yêu và cuộc sống Nhưng phải mãi cho đến năm 2003, nhà thơ mới cho ra mắt tập thơ đầu tiên
của mình với tên gọi Người đàn bà có đôi chân trần – (NXB Hội nhà văn) với
44 bài thơ Âm hưởng chung của toàn tập thơ có lẽ là những nỗi day dứt, khắc khoải, sự cô đơn, nỗi trống vắng của một người phụ nữ với một tình yêu gặp nhiều bất trắc, tập thơ đánh dấu một tiếng vang lớn trong lòng độc giả, trong giới thơ Thái Nguyên đương đại cũng như thơ Việt Nam đương đại 3 năm sau, Nhà Xuất bản Hội nhà văn tiếp tục cho ra mắt bạn đọc tập thơ thứ 2 của
nữ thi sĩ – Rét ngọt Rét ngọt – với 74 bài thơ, ở đây, người ta vẫn đọc được
những cảm xúc như ở tập thơ đầu tay, những xúc cảm về tình yêu, những
Trang 21trang thơ quặn thắt, những tâm tư ngổn ngang nỗi niềm của Minh Thắng, vượt lên trên tất cả đó là niềm hi vọng, niềm khao khát chờ đợi một hạnh phúc mới, một cái “rét ngọt” dẫn lối cho tình yêu con người đến với hạnh phúc đích thực Vẫn tiếp tục mạch cảm xúc ấy, năm 2010, Nhà Xuất bản Văn hóa Dân
Tộc phát hành tập thơ Giữ lữa Gần đây, năm 2014, Nguyễn Thị Minh Thắng cho ra đời tập thơ mới Nấc trầm – Nhà Xuất bản Hội nhà văn Tập thơ này
mang màu sắc khác với những tập thơ trước đó, hầu hết các bài thơ ghi lại những cảm xúc của tác giả về những nỗi đau mà con người trong chiến tranh
đã trải qua, ghi lại nỗi đau của người phụ nữ Việt Nam sau chiến tranh Tập thơ được đánh giá rất cao và được cho là một trong những sáng tác hay về đề tài chiến tranh
Với những cố gắng và nỗ lực không ngừng, những tác phẩm của chị không chỉ được công chúng độc giả nồng nhiệt đón mừng mà còn được ghi nhận bởi giới chuyên môn, đặc biệt là nhiều giải thưởng trong tỉnh và toàn
quốc: Giải thưởng UBTQ Liên hiệp các HVHNT Việt Nam cho tập thơ: Rét
ngọt 2006; Giải C HVHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ Giữ lửa 2010; Giải nhất thơ báo Văn nghệ Bắc Thái năm 1993; Giải nhì chùm
truyện ngắn Đồng trăng, Cỏ mần trầu – Cuộc thi “Tam Nông” Hội Văn học
Nghệ thuật Tỉnh Thái Nguyên năm 2013; hai giải nhất về thơ; cuộc thi sáng tác thơ và ca khúc về Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Thái Nguyên và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên năm 1994 và 2012; cùng nhiều giải thưởng khác về thơ Thái Nguyên
1.3.2 Nguyễn Thúy Quỳnh
Nguyễn Thúy Quỳnh sinh ngày 9/10/1968 tại Lạng Sơn, quê quán ở Nghĩa Hưng, Nam Định nhưng có nhiều năm sinh sống tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Chị tốt nghiệp khoa Ngữ Văn – trường Đại học Sư Phạm Việt Bắc; khoa Kinh Tế trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Thúy Quỳnh
Trang 22từng làm giáo viên trường PTTH Đại Từ rồi chuyển sang công tác tại Tỉnh đoàn Thái Nguyên Chị là hội viên hội nhà báo Việt Nam, hội viên hội nhà văn Việt Nam Hiện nay chị là Thạc sĩ văn học, đảm nhiệm chức vụ Phó chủ
tịch Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên, Tổng biên tập báo Văn nghệ Thái Nguyên.
Nguyễn Thúy Quỳnh có niềm say mê sáng tác văn học từ rất sớm, chị
đã sáng tất nhiều bài thơ và đến năm 1982 chị đã có tác phẩm đầu tay được đăng trên một số tạp chí Kể từ khi công tác tại Hội Văn học nghệ thuật của tỉnh, chị thực sự bước vào nghiệp sáng tác với tư cách nhà thơ, nhà báo
chuyên nghiệp Cho đến nay chị đã xuất bản 3 tập thơ: Giá mà em từ chối
(2003), Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc; Mưa mùa đông (2004), Nhà xuất bản
Hội nhà văn; Những tích tắc quanh tôi (2011), Nhà xuất bản Hội nhà văn Chị
là một nhà thơ tiêu biểu của thơ nữ Việt Nam đương đại
Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh có sự vận động biến đổi qua những chặng đường khác nhau, thể hiện những nỗ lực của nhà thơ trên con đường khám phá khám phám chính mình và khám phá bản ngã Nhìn chung, thơ Nguyễn Thúy Quỳnh bao gồm 2 cảm hứng lớn là cảm hứng tình yêu và cảm hứng thế sự Trong chặng đường đầu, Nguyễn Thúy Quỳnh thường viết về cuộc đời mình như: tình yêu dành cho gia đình, tình yêu đôi lứa Càng về sau, khi mà ý thức trách nhiệm của mình trong xã hội ngày càng cao, chị chuyển ngòi bút của mình sang các vấn đề thế sự, những điều còn tươi nguyên nóng hổi của cuộc sống, những lo lắng trăn trở
về con người, về đạo đức, về các vấn đề xã hội,… Chị quan niệm: “Mình không giúp được gì cho những thân phận nhỏ bé và bất hạnh thì mình chia sẻ bằng trang viết”
Với những đóng góp của mình, trong thời gian qua chị đã nhận được
nhiều giải thưởng văn học có giá trị như: Giải thưởng thơ của báo Văn nghệ
Quân đội; Giải Nhì về thơ của Ủy Ban Toàn Quốc Liên hiệp các Hội VHNT
Việt Nam, giải thưởng của Hội văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam,…
Trang 231.3.3 Lưu Thị Bạch Liễu
Lưu Thị Bạch Liễu sinh năm 1979 tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Chị tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Việt Bắc nay là trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên năm 1994, tốt nghiệp khoa Tiếng Anh – Đại học ngoại ngữ Hà Nội Chị từng là sĩ quan an ninh, công an tỉnh Thái Nguyên, phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng thường trú tại Thái Nguyên Hiện nay chị đang công tác tại văn phòng hội nhà báo tỉnh Thái Nguyên
Sinh ra ở mảnh đất “thủ đô gió ngàn” Việt Bắc, nơi có có “Con sông Cầu êm trôi giữa hương chè, hương lúa”, là quê hương của những vùng chè ngon nổi tiếng Lại sống trong một gia đình bố là công nhân gang thép,mẹ là giáo viên tiểu học nhưng cả gia đình có truyền thống yêu văn chương, thích đọc sách báo Vốn đã mang trong mình chất thơ, hơn nữa chị cũng yêu thích
và thường xuyên tiếp xúc với nhiều tác phẩm thơ của nhiều cây bút tên tuổi tại Thái Nguyên, vì thế mà hồn thơ trong chị càng nảy nở Năm 1991, khi tham dự cuộc thi thơ do khoa Văn ĐHSP phát động, bài thơ của Lưu Thị Bạch Liễu đã được ban tổ chức gửi đến các báo và năm 1993, chị đạt giải thưởng
“Tác phẩm tuổi xanh” của báo Tiền Phong
Năm 2005, Lưu Thị Bạch Liễu đã ra mắt bạn đọc tập thơ đầu tay
với tên Gọi Những năm sau đó, chị kiên trì sáng tác và cho ra mắt nhiều tập thơ khác đó là Cõi tôi (2007), Sông Cầu đang chảy đâu đây (2009),
Nở muộn (2013) và tập thơ gần đây nhất của chị là tập Trường Sa! Ơi Trường Sa! (2014).
Với niềm đam mê sáng tạo cùng những sản phẩm nghiêm túc, chị cũng nhận được nhiều giải thưởng lớn nhỏ khác nhau như: Giải A – Tuần báo Văn nghệ năm 2006 – 2007; Giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt năm 2007; Giải thưởng của Hội VHNT các Dân Tộc Thiểu số Việt Nam năm 2009, 2011, 2013; Giải thưởng VHNT tỉnh Thái Nguyên năm
2007 – 2012; Giải Nhất, Nhì các cuộc thi thơ, bút kí, truyện ngắn
Trang 24Quan điểm sáng tác của Lưu Thị Bạch Liễu rất rõ ràng Trước hết chị cho rằng thơ là để giải tỏa cảm xúc, viết thơ chính là lưu lại nhật kí tâm hồn mình.Chị viết nhiều về tình yêu, về những cảm xúc của người phụ nữ khi yêu, khi làm mẹ, làm vợ Thơ chị nhẹ nhàng, chất chứa vị lãng mạn nhưng cũng nồng nàn và khao khát.Thơ chị viết về những điều bình dị, thường ngày nhưng ẩn chứa sau đó là một ý nghĩa khác sâu xa hơn, triết lí hơn Những chiêm nghiệm của đời mình đã được chị khái quát lên tầm triết lí Thơ của chị còn là tiếng nói yêu thương của một người gắn bó với thiên nhiên, quê hương nơi “chôn nhau cắt rốn” và những nơi đã đi qua, những vấn đề nóng bỏng của
xã hội hiện tại
Tiểu kết
Trong dòng chảy chung của thơ nữ đương đại Việt Nam, trong sự phát triển của thơ Thái Nguyên đương đại, ta bắt gặp những hồn thơ nữ - là những nhân tố góp phần làm nên diện mạo thơ Thái Nguyên và thơ Việt Nam đương đại, đồng thời cũng thể hiện được cá tính riêng, hồn thơ riêng của chính mình Nguyễn Thị Minh Thắng, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu, mỗi người một cội nguồn quê hương nhưng gặp nhau cùng một xứ sở, cùng chung một niêm đam mê dãi bày, bộc bạch cảm xúc của mình qua những vần thơ, với một ý thức làm thơ nghiêm túc, các chị đã cho ra đời những tập thơ hay, giá trị và ý nghĩa được khẳng định bằng sự yêu mến của độc giả, những giải thưởng thơ ca giá trị Các chị đã góp thêm một “phụ lưu” mới vào dòng chảy thơ ca Việt Nam
Trang 25Chương 2 NHỮNG KHÚC BIẾN TẤU TÂM HỒN VỀ TINH YÊU ĐÔI LỨA
Cảm thức là khái niệm để chỉ sự nhận thức của con người bằng cảm giác khi tiếp xúc với sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Cảm thức như thế nào vừa phụ thuộc vào các tác động đến giác quan con người, lại vừa phụ thuộc vào đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức, sự nhạy bén và tính cách của chủ thể.Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến cảm thức tình yêu đôi lứa Cảm thức tình yêu là sự ảnh hưởng, tác động của tình yêu đến tâm tư tình cảm của chủ thể tiếp nhận dẫn đến việc hình thành những trạng thái, cảm xúc khác nhau trong tâm lí của họ Sự phức tạp trong tâm lí con người, trong các mối quan hệ xã hội đã khiến cho tình yêu nam nữ hiện lên với vô vàn sắc thái, cảm xúc khác nhau nhờ vậy mà cảm thức trong tình yêu đôi lứa hiện lên
vô cùng phong phú và đôi khi ta không thể định nghĩa được hết Chính nhờ đặc điểm này mà khi đi vào trong văn chương, nghệ thuật, trí tuệ và cảm xúc của chủ thể sáng tạo đã viết nên rất nhiều cung bậc khác nhau của tình yêu, có lúc rất giống nhau nhưng nhiều khi lại không ai giống ai làm nên sự đa dạng
về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Đặc biệt hơn, đến với thơ trữ tình - một thể loại văn chương gắn chặt với thế giới chủ quan của tác giả, thì cảm thức tình yêu luôn luôn được xuất hiện với những khuôn mặt mới, nội dung mới và độc giả luôn được đón nhận những luồng sinh khí mới mỗi khi tiếp nhận một sáng tác mới của các tác giả Hãy cùng bước vào vườn thơ của các nhà thơ Minh Thắng, Thúy Quỳnh, Bạch Liễu để khám phá những rung động của những tâm hồn thơ nữ thời kì đương đại
2.1 “Nỗi cảm hoài về những điều đã mất” [11]
Trải qua bao thế hệ,biết bao người đã tự hát lên khúc hát tâm hồn và trái tim mình trước tình yêu Hòa vào dàn đồng ca tâm hồn của thế hệ cây bút
nữ thời kì đương đại, những nhà thơ nữ Thái Nguyên cũng nhanh chóng mở
Trang 26đường cho những “sóng nhạc” tâm hồn mình đến với thơ Họ cũng gửi gắm vào trang thơ những cung bậc tình yêu, bao nhiêu cung bậc là bấy nhiêu thanh
âm của tâm hồn Đọc thơ của Minh Thắng, Thúy Quỳnh và Bạch Liễu, ta sẽ được thấy được một thế giới tâm hồn nhiều cung bậc của những người phụ nữ trong cảm thức về tình yêu lứa đôi Thế nhưng, những thanh âm ngọt ngào, trong trẻo của cái thời còn bỡ ngỡ, còn sôi nổi của tình yêu không phải giọng điệu chủ đạo trong thơ của ba nhà thơ nữ Thái Nguyên Bước vào vườn thơ của những người phụ nữ ấy, ta gặp ngay cái cảm giác buồn miên man bởi những nỗi đau, nỗi nhớ niềm thương, những xót xa tiếc nuối cứ vương vấn lên trên từng con chữ, những cảm giác mà chỉ khi cách xa về khoảng cách trái tim
ta mới thấu, mới hay những khoảnh khắc khi ta còn trong nhau là đáng quý biết bao nhiêu - “nỗi cảm hoài về những điều đã mất” [11]
Các nhà thơ nữ Thái Nguyên, cũng như những người con gái nhạy cảm khác, cũng biết buồn, biết đau cho tình yêu Minh Thắng là người đàn bà gặp nhiều trắc trở, quẩn quanh trên con đường tình yêu của mình, nỗi đau chị từng nếm trải không ít và cũng không hề bình thường, trái tim của chị đã “rạn nứt”, chị đã tự cất lên tiếng than thở về những sự rạn nứt ấy một cách xót xa:
Cái áo rách mẹ vá Lại lành lặn tinh tươm Chi mảnh tình của mẹ Càng vá càng rách bươm!
(Vá – Nguyễn Thị Minh Thắng)Những vật vô tri vô giác ta có thể dễ dàng kiến tạo lại như ta muốn, chỉ
có trái tim – trái tim của người phụ nữ là cố chấp không muốn nhận lấy những
sự lành lặn, hoàn hảo, là bởi vì tim không muốn hay không thể lành được do nỗi đau quá lớn; là vì trái tim ấy đã từng loạn nhịp bởi ai ? đã từng nhiều lần
bị cào xước vì ai kia nên những gì lí trí cố “vá” lại cho tim là không đủ? Chỉ
Trang 27có nỗi đau vẫn tiếp tục từng ngày bào mòn, vò xé trái tim bằng những điều chỉ còn tồn tại trong quá khứ…
Thửa xưa có câu ca dao: “Vì cam cho quýt đèo bòng/ Vì em nhan sắc
cho lòng anh say”, “đèo bòng” những vấn vương, say sưa của tình yêu còn dễ
chịu; thế mà ở đây nhà thơ Minh Thắng lại “cam chịu” “đèo bòng” những thứ
đã khiến cho tình mình dang dở, khiến cho tim mình “rách bươm”:
Đã cam chịu cảnh đèo bòng
Đã ca chịu cảnh trăng tàn đêm đông
Đã thôi chút phận đèo bòng
Mà sao tôi vẫn tan lòng nát gan
(Đã cam – Nguyễn Thị Minh Thắng)Con người ta khi đã phải chịu đựng quá nhiều nỗi đau sẽ dẫn đến chai lì cảm xúc, đọc nhan đề bài thơ và 3 câu đầu ta cứ ngỡ Minh Thắng cũng sẽ như vậy, ai ngờ đến cuối bài thơ thi sĩ lại tự thú nhận sự bất lực của mình, cuối cùng vẫn “tan lòng nát gan”
Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau chia li khi mà mối dây tơ tình với nửa bên kia vẫn chưa dứt, nỗi buồn đau trong thơ Minh Thắng có một cái gì đó cuộn thắt từ đáy lòng: “Chị khóc, chị đau, chị quằn quại/ Chị vắt cạn giọt nước mắt cuối cùng” và khi vượt quá giới hạn của nỗi đau thì đó là gì? Một trái tim đã chết, “cả một đời nỗi đau hóa đá” “Bởi chị đã vắt cạn/ Giọt nước mắt cuối
cùng”(Giọt nước mắt cuối cùng – Nguyễn Thị Minh Thắng) Chính vì đánh
cược quá nhiều tình cảm vào tình yêu mà không để lại chút “vốn” nào cho trái tim mình nên nhận lại hậu quả là có hàng ngàn nỗi buồn vây bám từng ngày Nỗi đau của nhà thơ Minh Thắng đã nói lên sự đau khổ đến tan nát của người phụ nữ sau những mất mát đắng cay
Trang 28Nguyễn Thúy Quỳnh cũng là người phụ nữ nhạy cảm, yếu mềm trước
sự đổ vỡ của tình yêu Sau mất mát, người con gái bỗng nhiên rơi vào trạng thái mông lung, hoảng loạn giữa yêu, giận, thương, đau:
Ồn ào là thế, nồng nàn là thế vụt một cái
như thể anh bốc hơi đi đằng nào tuyệt nhiên không còn dấu vết.
Một mình gồng gánh nỗi giận nỗi thương nỗi buồn nỗi khát
em tất tưởi đi tìm.
(Viết giữa đêm và ngày – Nguyễn Thúy Quỳnh)Tình yêu giống như một dấu cắt, gặp nhau ở một điểm rồi đi ngang qua nhau, đã từng dành cho nhau những tình cảm rất sâu đậm giờ đây phải lặng lẽ nhìn người ấy bước qua đời mình và trở thành người xa lạ, không khỏi bơ vơ, xót xa sao được!
Nỗi buồn ở Nguyễn Thúy Quỳnh có cái gì đó mơn man, thi vị hơn so với nỗi buồn xé lòng của Minh Thắng, âm hưởng thơ dường như nhẹ nhàng hơn nhưng lại khiến cho người ta trầm tư hơn, nỗi đau dai dẳng, nặng trĩu hơn:
Ta đốt tháng năm mờ khói quẩn Không nhau đời bụi trắng bàn tay Sương ngậm vành trăng tan đáy cốc Nhấp giọt buồn vô cớ mà say
(Đêm – Nguyễn Thúy Quỳnh)Cũng “kí thác” những trạng thái tâm hồn vào thơ, Lưu Thị Bạch Liễuhiện lên với một hồn thơ thật tế nhị, kín đáo đầy chất nữ tính Chị không
có nhiều bài thơ viết về nỗi buồn, và nỗi buồn trong thơ chị cũng không thể
Trang 29hiện rành mạch trong từng câu chữ mà đều ẩn nấp dưới những dòng kí tự kia,
có những câu thơ đọc thoáng qua ta cữ ngỡ chị đang nói vu vơ về cảnh vật nhưng kì thực chị chỉ dùng chúng để “ngụy trang” cho cảm xúc của mình, đúng như cụ Nguyễn Du xưa từng nói:“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"
Và đây là cách nhà thơ vẽ lên nỗi buồn:
Không biết đêm qua mưa nói gì với ngôi nhà
mà các khung cửa đều nhòe ướt…
những lá cây rì rầm với lá cây
lá cây nào cũng rưng rưng nước một chuyến trăng lỡ hẹn
nản lòng một giấc mơ
(Du xuân – Lưu Thị Bạch Liễu)Nỗi buồn trong thơ Bạch Liễu là một nỗi buồn lặng lẽ, pha thêm giọng điệudu dương khiến bài thơ trở nên lãng mạn, giống như một bài hát buồn, cứ miên man, miên man:
Mùa thu ơi, chắc mùa thu không biết
Có một người đang khóc trong mưa!
(Mưa thu – Lưu Thị Bạch Liễu)Nỗi buồn chị tâm sự cùng mùa thu, nhưng thu có biết có hiểu được không vì hạt mưa đã che lấp đi nước mắt đang tuôn chảy nơi chị Chị buồn một cách nhẹ nhàng, chị gửi gắm những nỗi niềm vào thiên nhiên tạo nên một nỗi buồn thật trong trẻo và nên thơ
Song hành cùng nỗi buồn trong bản nhạc tình yêu đã nhuốm màu li biệt, là nốt nhạc xuyến xao của trái tim rung lên mỗi khi tâm trí nhắc về quá khứ, ấy là nỗi nhớ Quá khứ có gì mà sức hút của nó đối với tâm trí mãnh liệt
Trang 30đến vậy? Quá khứ được làm bằng chất keo gì, mà nó bám chặt tiềm thức con người đến day dứt không chịu buông tha? Cái tình trong tâm người phụ nữ là thế? Lúc nào cũng da diết và cồn cào Các nhà thơ nữ Thái Nguyên thường viết về đời sống tâm hồn của ngày hôm nay, nhưng căn nguyên chính của những cảm xúc ấy lại bắt nguồn từ những điều xưa cũ.
Đã có lúc, sự cao thượng trong Minh Thắng đủ sức mạnh để mở đường cho mối tình “chưa một lần dang dở” của người mình yêu: “Em cố quên/ Như chúng mình chưa một lần gặp gỡ/ Để anh hạnh phúc bên người con gái trẻ
đẹp/chưa một lần dang dở”(Thơ cho một người – Nguyễn Thị Minh Thắng)
Nhưng cũng như việc chị cố tìm niềm vui khác để lấn áp đi nỗi buồn, thì nỗi nhớ của chị vẫn cố chấp nhảy khỏi lí trí để tìm về nơi xa xôi kia đã từng có một đôi mắt nồng nàn, yêu thương:
Em trốn Nhưng làm sao trốn nổi chính mình Khi ánh mắt vẫn nhìn em đăm đắm Khi trong em chỉ một bóng hình
(Thơ cho một người – Nguyễn Thị Minh Thắng)Nỗi nhớ - là bản chất và là hệ quả của tình yêu, và cũng là minh chứng cho một tình yêu sâu đậm Minh Thắng dường như bất lực trước nỗi nhớ thương, “làm sao” – hai từ ấy thốt lên thật xót xa Nhà thơ có thể vì người mình yêu mà trở nên cao thượng, nhưng lại không thể vì mình mà quên được
kí ức, càng quên lại càng nhớ vậy thôi vì khi cảm xúc gọi tên, lí trí đều phải chùn bước: “Ta muốn quên/ Nhưng oan trái/ Như cỏ gianh/ đốt trụi/ Lại xanh
rờn…”(Khóc – Cười)
Nỗi nhớ trong thơ Minh Thắng có khi thật nồng nàn, ngang trái nhưng cũng có khi hiện lên với một nỗi hoài cảm nhẹ nhàng và có chút ngọt ngào:
Trang 31Nắng mật ong Rót tràn nỗi nhớ
(Nắng mật – Nguyễn Thị Minh Thắng)Nếu như Minh Thắng có một nỗi nhớ thổn thức và ngọt lịm, thì miền nhớ trong Nguyễn Thúy Quỳnh lại chất chứa sự nhức nhối, có khi rất đáng sợ
Có những nỗi nhớ xuyến xao đến chạnh lòng “như thể Thị Màu nhớ trái táo chua”, nỗi nhớ ấy chứa đựng cả những kỉ niệm ta đã cùng trải qua và cả những ước mơ còn dang dở:
Sao hôm nay bỗng nhớ về nơi ấy Như thể Thị Màu nhớ trái táo chua
Ta nhớ cả những nơi chưa từng đến Quán Xích lô giờ đang nắng hay mưa?
(Nhớ - Nguyễn Thúy Quỳnh)Nỗi nhớ ấy đã hun đúc lên một niềm khắc khoải trong em về một người
đã xa phương trời nào, không biết giờ này người đang vui hay đang mang nặng nỗi niềm như nhà thơ
Và cả những nỗi nhớ cứ quẩn quanh trong một vòng vây kí ức không lối thoát:
Người xa xôi như một vì sao ban ngày cũng sáng
ta trốn vào nắng nắng lấp lánh mắt người
ta trốn vào mưa rơi mưa day dứt bài ca buồn người hát trốn vào ly cà phê
Trang 32giọt giọt đếm từng giây xa cách
(Giá có thể làm được điều gì khác – Nguyễn Thúy Quỳnh)
“Vì sao” đã xa xôi ấy “sáng” cháy thành nỗi nhớ trong tâm trí em Người ta thường yêu ánh sáng nhưng ở đây Thúy Quỳnh lại chạy trốn thứ ánh sáng đầy mộng mị ấy Thứ ánh sáng có thể ăn mòn tâm tư của chị Chị cố chạy trốn nó, chị trốn vào nắng để ngụy biện rằng đó chỉ là thứ ánh sáng của
tự nhiên, nhưng ai ngờ ánh nắng ấy lại làm “lấp lánh” thêm cho vì sao ấy; trốn vào mưa, nhưng có mấy ai vui khi mưa xuống bao giờ, chị tuyệt vọng nhớ đến “bài ca buồn người hát”; trốn vào ly cà phê, những giọt cà phê rơi chậm rãi khiến chị bất giác nhớ đến những phút giây xa cách; trốn vào đâu bây giờ, thôi đánh bất lực để ánh sáng của vì sao ấy thâu chiếu mọi ngóc ngách kí ức trong ta vậy
Cũng như nỗi buồn, nỗi cô đơn, nỗi nhớ trong thơ chị được gieo rắc thêm một nỗi sợ hãi:
Trong bóng tối kinh hãi của im lặng
em quờ tay không chạm anh bàn chân run rẩy chạm vào hành trình ngược về ngày cũ ngày mà những giấc mơ của chúng mình cuộn chặt vào nhau dựng ngời ngời một ngôi nhà ấm
phòng ngủ treo đầy ảnh các con
(Nghĩ lúc 23 giờ 15 – Nguyễn Thúy Quỳnh)
Kí ức – chính là những kí ức tươi đẹp đối nghịch với thực tại “im lặng” của “bóng tối” nghiệt ngã khiến chị “kinh hãi” Sự “độc hành” đến tương lai và cũng có cả những cuộc hành trình ngược dòng quá khứ - cái thời mà cả hai cùng xây dựng mơ ước sẽ “song hành” với nhau để cập bến bờ hạnh phúc, ấy thế mà cái ước mơ đẹp đẽ ấy lại bị thay bằng một thực tại đáng sợ như hiện tại
Trang 33Những giọt nhớ rơi trên trang thơ Lưu Thị Bạch Liễu cũng vô cùng cồn cào, da diết Nguyễn Thúy Quỳnh đi đâu cũng gặp nỗi nhớ, Nguyễn Thị Minh Thắng thì cố gắng “khước từ” nỗi nhớ, còn Bạch Liễu cũng “đấu tranh” với nỗi nhớ bằng những cách khác nhau: có khi chị đơn giản hóa nó với hai từ
“chỉ là”, nhưng kết cục vẫn như hai nữ thi sĩ kia:
Sao run lên những ngón tay
Kí ức…
Kí ức Trên ô cửa kính Mưa đang vẽ lên hay đang xóa đi
(Kí ức – Lưu Thị Bạch Liễu)
“Mưa đang vẽ lên hay đang xóa đi”, mưa đang hối thúc kí ức hay là đang gột rửa nỗi nhớ? Phải chăng là gột rửa, nhưng nếu như gột rửa, sao ta lại “run lên”, lại “cồn cào” vì kí ức? Câu hỏi tu từ nhưng thực chất trong đầu người thơ đã có câu trả lời Có lẽ vì thế mà người ta mới ngộ ra cái chân lý tưởng như nghịch lý: “càng quên càng nhớ” Đúng là tình cảm con người, đặc biệt là trái tim và tâm hồn, thường hay tạo ra những nghịch lý
“hiển nhiên” như thế
Nỗi nhớ ngự trị tâm trí một con người đã từng yêu và được yêu một cách “kiên cố” rồi dần trở thành một cơn bão lòng cấp độ mạnh, khiến con người ấy liêu xiêu, cố “vịn” vào những “điều gì khác” nhưng cũng chẳng
“trỗi” nổi sự cồn cào của kỉ niệm đang dâng lên dữ dội ấy Và vẫn cứ là “phố
mờ trong mưa” như em “mờ trong nhớ”:
Phố mờ trong mưa
em mờ trong nhớ vịn vào màu áo
Trang 34chẳng trỗi nổi một giấc mơ
(Đợi – Lưu Thị Bạch Liễu)Nhưng nỗi nhớ không chỉ dừng lại ở đây thôi, nó vẫn muốn vươn cao hơn nữa, và nghịch lý lại xuất hiện: “Phố đen chiều mưa/ em trắng đêm
nhớ”(Đợi – Lưu Thị Bạch Liễu) - “Phố” vì nhớ nên chiều hóa màu “đen”, em
vì anh nên thức trắng đêm
Viết về nỗi buồn, nỗi đau, nỗi nhớ, ba nữ nhà thơ của chúng ta đã có những cách trang trải nó một cách bất ngờ, độc đáo Không hề đơn giản bởi
họ là những người từng trải, cũng không hề phức tạp bởi những cảm xúc ấy người phụ nữ nào mà chẳng có, nhưng bằng những vấn thơ như thế, chúng ta
có thể thấy được nỗi lòng cũng như độ sâu của những trái tim người con gái Thái Nguyên không kém gì các nhà thơ khác trong dòng chảy thơ ca Việt Nam đương đại, hơn thế nữa, họ còn làm cho khúc biến tấu về tâm hồn và tình yêu của người phụ nữ Việt Nam trở nên sắc nét và đa dạng hơn
2.2 Những nỗi niềm, suy tư, khắc khoải về tình yêu
Tình yêu chiếm lĩnh tâm hồn con người bằng những xúc cảm bộc phát từ trái tim Lí trí luôn đúng, ấy vậy mà trước tình yêu, lí trí còn phải băn khoăn, do dự trước những điều “có”, “không” Con người ta càng yêu nhiều bao nhiêu thì những suy nghĩ về tình yêu càng nhiều bấy nhiêu Nhiều nỗi niềm, trăn trở - đây có phải là cái sâu xa của nội tâm mà chỉ những người phụ nữ - những người được trời phú cho cái giác quan thứ sáu mới có được Trong thơ Nguyễn Thị Minh Thắng, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu ta cũng thường bắt gặp những dòng suy tư, trăn trở lẫn
âu lo của những người phụ nữ có trái tim yêu nồng nàn, đã từng đi qua những khổ đau và bất hạnh, những nhung nhớ và chờ mong, những tuyệt vọng và vô cảm Đến một ngày khi tình yêu chỉ còn là quá khứ, khi người
ta trưởng thành hơn, yêu đủ sâu sắc và đắng cay đủ trải, thì hai tiếng “tình
Trang 35yêu” – trở thành từ ngữ khó diễn đạt nhất, dù còn đến hay không, cũng đủ
để cho ta phải băn khoăn, suy ngẫm
Người phụ nữ khi chưa yêu, đang yêu và đã từng yêu, đều mang trong mình những nỗi niềm, những dự cảm đáng sợ về tương lai của mình Khi chưa yêu, người phụ nữ luôn băn khoăn liệu duyên số sẽ sắp đặt mình đi chung con đường với ai đây, ai sẽ là người chở che, bảo vệ những lúc yếu mềm, ai sẽ là người cùng ta vượt qua những giông bão của cuộc đời?
Ai dang đôi cánh tay Chở che đôi cánh mỏng
Ai nguyện làm con sóng Vượt dông bão lắt lay!
(Chiều xa – Nguyễn Thị Minh Thắng)Những suy tư, trăn trở còn đã đưa Minh Thắng đến với nhận định về tình yêu của một người đàn bà với một người đàn ông.Chị cho rằng: trái tim người đàn ông được làm bằng đá, dễ tan chảy trước những sự ấm áp của một người con gái: “Khi yêu/ Trái tim người đàn ông/ Có thể nhảy khỏi lồng ngực”; nhưng đá cũng vô cùng lạnh lẽo, dễ đổi thay và vô tâm khi cảm thấy
sự tẻ nhạt cho nên tỉnh yêu ấy: “Thoắt lạnh băng” (Người đàn ông yêu).Trái
tim người đàn bà thường hay “sàng lọc” tình yêu, không phải ai cũng dễ dàng lay động trái tim ấy Nhưng khi đã yêu, trái tim ấy yêu với một ngọn lửa cháy mãnh liệt và vĩnh hằng, sẵn sàng thủy chung, sẵn sàng dâng hiến những tình cảm thành thật từ nơi tận cùng của trái tim:
Người đàn bà yêu Như dòng sông khát Nứt nẻ phù sa
Giấc mơ quặn thắt Cày lật đêm.
Trang 36(Người đàn ông yêu – Nguyễn Thị Minh Thắng)Vậy nên, khi yêu cái cảm giác lo sợ luôn thường trực trong tâm trí người phụ nữ:
Nếu một ngày anh không đến tìm em Nếu một ngày em không nghe tiếng anh
Anh ngoảnh mặt khi cửa nhà em khẽ mở Giữa chiều hôm sẩm tối bủa về
“Lời yêu như màu khói lam chiều!
Em nhìn theo biết tìm gì níu lại?”
Và, em sợ !
(Dự cảm – Nguyễn Thị Minh Thắng)Người phụ nữ là vậy, dù đang tận hưởng trái ngọt của t́nh yêu nhưng tiềm thức lúc nào cũng đau đau một nỗi niềm khắc khoải Không ai muốn nghĩ đến những điều không tốt lành, nhưng tầm quan trọng của người mình yêu trong thời điểm hiện tại khiến họ lo sợ một sự mất mát nào bỗng dưng một ngày “thả” xuống lòng em, để em “chơ vơ” thì lúc ấy, em biết làm thế nào đây, em “biết tìm gì níu lại”, “Và, em sợ !”
Người đàn ông muốn chiếm được trái tim người phụ nữ không dễ dàng phải không? Vậy xin anh đừng khiến em thật vọng, hãy cho em thấy rằng những gì trái tim em đã đánh đổi để có được anh và tình cảm anh dành cho
em là cân bằng Xin anh đừng như đá, lạnh nhạt và lặng im trước sự cầu nguyện của trái tim em Đó có phải là những gì Minh Thắng khẩn cầu từ người mình yêu?
Còn với Nguyễn Thúy Quỳnh, khi yêu trái tim chị luôn chất chứa những nỗi niềm băn khoăn về thước đo tình cảm của người mình yêu:“Trời về
khuya càng lạnh/ Nhớ em nhiều không anh?” (Hẹn – Nguyễn Thúy Quỳnh)
Trang 37Người phụ nữ yêu ai cũng thường như vậy, dẫu người đó có yêu đậm sâu đến đâu thì câu hỏi này vẫn luôn được đặt ra, vì đơn giản thôi, cũng như Nguyễn Thị Minh Thắng, chị cũng lo sợ một ngày chất “muối” trong tim người đàn ông sẽ nhạt dần.
Ngay cả khi biết mình không thể sánh bước cùng anh trên con đường tình yêu vì lòng cao thượng đã trả anh cho người con gái khác vì cô ấy là người đến sau, thì nỗi băn khoăn vẫn không muốn dừng lại ở đó, nhà thơ vẫn muốn tìm kiếm một chút gì đó là của riêng mình:
Hạnh phúc như con tàu, em thành kẻ đến sau Phận trốn vé, làm sao về ga cuối
Toa hạng nhất bên người, anh lặng thầm sám hôi Với cả em và không – phải – em
Em xuống tàu thôi, trả duyên nợ về trời Trả ghen tuông cho người đàn bà ấy Chút dịu dàng em, đam mê của anh,
không dễ gì gửi lại Anh sẽ hát những gì nơi phía trước không em?
(Thơ viết trên tàu – Nguyễn Thúy Quỳnh)
Đã là người mình yêu – thì ai chẳng mong người ấy hoàn mĩ, tốt đẹp, thế cho nên Thúy Quỳnh cũng thường hay trăn trở về phẩm giá, lòng chung thủy của anh ta, chị lo sợ người đàn ông của mình sẽ giống như rất nhiều người đàn ông khác: lăng nhăng, vô tâm, bạc tình bạc nghĩa, và chị luôn trăn trở: anh sẽ không phải là người như thế chứ?:
trong ngàn cánh chim rong chơi khắp rừng trong vạn con cá nhởn nhơ dưới biển trong tỷ đàn ông bạc tình trên mặt đất
Có – anh – không?
Trang 38(Viết giữa đêm và ngày – Nguyễn Thúy Quỳnh)Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh chứa đựng những nỗi giằng co rất dữ dội, trong tâm hồn chị lúc nào cũng là những dấu chấm hỏi, về tình yêu của anh và
em, về sự đối lập giữa anh và em, “có phải”, “có phải” như một điệp khúc của tâm hồn vang lên một cách xô bồ:
Có phải con đường chúng mình vẽ ra bằng trí tưởng tượng rực rỡ nhất hóa ra ngắn hơn con đường trái tim chúng mình đến với nhau?
có phải những gánh nặng cuộc đời em đã làm anh mệt mỏi?
có phải cuộc đua giữa sự bướng bỉnh của em với sự khắc kỉ của anh
đã không còn nước vãn hồi?
có phải cửa địa đàng đóng lối này để mở về lối khác?
lạy trời
đừng bắt em phải hiểu rằng cái lấp lánh kì diệu kia
là chút ánh sáng cuối cùng của một vì sao
đã chết.
(Nghĩ lúc 23 giờ 15 – Nguyễn Thúy Quỳnh)
Và rồi, khi những điều mình không muốn ập đến, khi chất keo tình yêu loãng dần không còn giữ được anh và em đi về hai hướng ngược nhau, khi duyên nợ hai ta không đủ để chiến thắng nỗi sợ hãi trong em, và thay vào đó
là nỗi đau, kí ức cứ luôn gặm nhấm em từng ngày từng giờ rồi in hằn lên tim
em những vết sẹo chằng chịt, Minh Thắng lấy quá khứ đau đớn ấy để mà “rút kinh nghiệm” Vì biết “Một lần lỡ/ Lỡ một đời/ Một lần đau/ Đau mãi mãi”
(Sợ - Nguyễn Thị Minh Thắng) nên những đớn đau đã trải vô hình chung trở
thành một bức tường khiến người phụ nữ lo sợ sẽ lại một lần nữa dẫm đạp lên
Trang 39vết xe đổ của quá khứ “Như con dã tràng ẩn mình trong cát/ Nửa trốn ánh mắt
tìm/ Nửa sợ nỗi cô đơn!”(Sợ - Nguyễn Thị Minh Thắng).
Nội tâm người phụ nữ quá đỗi phức tạp, khi yêu lo sợ sự biệt li, khi biệt
li rồi lại sợ yêu, nhưng nỗi lo sợ không chỉ dừng lại ở dự cảm về những nỗi đau có thể sẽ hiện hữu một lần nữa nếu họ lại “đánh đắm” hồn mình, mà còn
sợ cã nỗi cô đơn Yêu – sợ đau, không yêu – sợ cô đơn, đó là những nỗi niềm chỉ có những người phụ nữ đa cảm – đa đoan mới hiểu được
Còn Thúy Quỳnh thì vẫn băn khoăn về sự ra đi của tình yêu, tại sao những điều tưởng chừng như không bao giờ có thể lay động được lại bỗng chốc mất đi Số phận không hề bỏ qua tình yêu cho dù nó có lớn lao đến mấy sao? Hay là vì anh đã đánh cắp duyên phận của chúng mình, anh ra đi vì đâu?
Sự giằng xé nội tâm nhà thơ càng mạnh thì lại càng như một mối tơ vò, để rồi vẫn chỉ là một dấu hỏi: “Vì sao ta yêu nhau?”:
Người yêu ơi Thế giới đầy bất trắc này Tồn tại bởi những điều dễ mất
Lẽ nào cả tình yêu?
Ta đã từng tin trời sinh ta cho nhau
Đã từng yêu như chẳng thể nhiều hơn được nữa Như hoang mạc chờ mưa,
như rừng khô gặp lửa Sao anh bỏ ra đi?
Những con tàu thời gian không biết lối trở về
Em ngồi bấm đốt tay nhớ vầng trăng
Trang 40chứng nhân trên bờ cát Phút ngạt thở trong tay anh
đã ngàn lần có thật
Và tự hỏi mình: Vì sao ta yêu nhau?
(Gửi một người – Nguyễn Thúy Quỳnh)Bước qua những vấp ngã, tình yêu đối với người phụ nữ trở nên thiêng liêng và đáng quý hơn bao giờ hết, nhưng để bước vào trái tim người phụ nữ
ấy không hề dễ dàng, họ khắt khe hơn, họ suy nghĩ nhiều hơn, những thứ tầm thường và thoáng qua không thể nào lay động được trái tim họ: “Thấy em buồn/ Xin anh chớ vội/ Đặt nụ hôn cháy bỏng làn môi!/ Em khát/ Đừng vội
nghe anh!” (Chồi xuân – Nguyễn Thị Minh Thắng); hay “Đừng trách em/ Sao chẳng nói lời yêu/ Cứ ẩn khuất nép mình sau vòm lá” (Chút nắng – Nguyễn
Thị Minh Thắng) vì “Cơn khát qua rồi/ giấc mộng có còn không?” (Chồi xuân – Nguyễn Thị Minh Thắng).
Lo lắng sẽ dẫn đến hoài nghi tất cả, nên cứ mỗi khi có ai đó gõ cửa trái tim, thì lí trí luôn mách bảo trái tim hãy cân nhắc thật kĩ, vì nếu sai lầm một lần nữa thì trái tim lại thêm một vết sẹo, nhà thơ Thúy Quỳnh là vậy:
Bất chợt trong tôi nhói nỗi hồ nghi Khi đọc lại vần thơ đêm trước
Tôi bỗng sợ những điều bất chợt
Cả khi anh bất chợt nói lời yêu.
(Bất chợt – Nguyễn Thúy Quỳnh)Theo thời gian, nỗi lo sợ bóng đen quá khứ đã làm mờ lấp đi sự sôi nổi của trái tim yêu, có khi họ dần rơi vào trạng thái vô cảm Vì anh đã mang cho
em quá nhiều trắc trở, vì tình yêu không còn đem lại cho em sự nồng ấm Nỗi