1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề dân tộc giai cấp trong tư tưởng hồ chí minh và chủ nghĩa mác lê nin

28 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 115,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất trong giao tiếp của các dân tộc.. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, nhưng trong một quốc gia nhiều dân tộc bao giơ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao chonước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

- Hồ Chí Minh - Bác Hồ – người cha già kính yêu của dân tộc, suốt cuộc đời hy sinh vì dân vì nước – là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Bác là vị lãnh tụ của nhân dân, tượng trưng cho những tinh hoa tốt đẹp của dân tộc Nhớ về Người, ta càng thêm kính phục và biết ơn Bác biết bao Chính Bác là người đã khai sáng và mở đường cho cách mạng Việt

Trang 3

góp lớn của Bác chính là việc vận dụng triết học Mác – Lênin vào thực trạng cách mạng Việt Nam để tìm ra con đường đi đúng đắn cho nước nhà Đặc biệt, tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam, một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin

A Vấn đề dân tộc và giai cấp trong chủ nghĩa Mác – Lênin:

I Vấn đề dân tộc:

Dân tộc là một cộng đồng dân cư hình thành từ một bộ tộc hoặc từ sự liên kết của tất cả các bộ tộc sống trên cùng một cùng lãnh thổ

Cũng như bộ tộc, dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có các thể chế chính trị và nhà nước Thêm vào

Trang 4

đó, dân tộc là một cộng đồng dân cư có tính thống nhất cao, ổn định và tương đối bền vững dựa trên những nguyên tắc pháp lý cao.

Dân tộc là một cộng đồng dân cư gồm có những đặc điểm chungthống nhất rất chặt chẽ như sau:

Thứ nhất, cộng đồng về lãnh thổ Trong một quốc gia nhiều dân tộc thì lãnh thổ quốc gia gồm lãnh thổ của tất cả các dân tộc thuộc quốc gia ấy hợp thành Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ là kết quả lao động kiến tạo của cả một dân tộc trong suốt quá trình hình thành dân tộc Nó được thể chế bằng pháp luật quốc gia và quốc tế Lãnh thổ là chủ quyền không thể chia cắt, là nơi sinh tồn phát triển và là nền tảng hình thành nên tổ quốc của mỗi quốc gia dân tộc

Thứ hai, cộng đồng về kinh tế Cộng đồng chung về kinh tế là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và thống nhất của mỗi quốc gia dân tộc Một quốc gia thống nhất, một dân tộc thống nhất phải được bảo đảm và phải dựa trên cơ sở cộng đồng chung về kinh tế Tính thống nhất, tính tương đồng và ổn định chung về kinh tế luôn luôn là nhân tốbảo đảm cho sự thống nhất của mỗi quốc gia dân tộc

Thứ ba, cộng đồng về ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất trong giao tiếp của các dân tộc Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, nhưng trong một quốc gia nhiều dân tộc bao giờ cũng có một ngôn ngữ chung thống nhất Ngôn ngữ được chọn làm ngôn ngữ thống nhất thường là sản phẩm và là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển lâu dài về kinh tế – xã hội của các dântộc trong một quốc gia Ngôn ngữ là nền tảng văn hóa, đồng thời là di sản tinh thần của mỗi dân tộc

Thứ tư, cộng đồng về văn hóa, về tâm lý Văn hóa là yếu tố đặc biệt trong sự gắn kết cộng đồng dân tộc thành một khối thống nhất Đặc trưng chung của văn hóa dân tộc là thống nhất trong tính đa dạng

Nó được chắt lọc trải dài trong suốt lịch sử đấu tranh để sinh tồn của mỗi dân tộc Hơn thế nữa, văn hóa còn là động lực của sự phát triển, là

Trang 5

vệ chủ quyền dân tộc phải được thể hiện thông qua cuộc đấu tranh chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa Ngoài ra, mỗi dân tộc còn có tâm lý lối sống và những nét tính cách riêng Tâm lý và nét tính cách riêng của mỗi dân tộc trước hết là sự phản ánh những điều kiện kinh tế, điều kiện địa lý, dân cư và nét đặc thù văn hóa riêng của dân tộc ấy.

Chính vì vậy, cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng về kinh tế, cộngđồng về ngôn ngữ, về văn hóa, tâm lý và tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu của mỗi dân tộc Đó chính là những yếu tố có mối quan hệ nội lực nội lực mạnh mẽ Nó vừa kết dính dân tộc thành một khối vừa tạo ra động lực để liên kết và phát triển cho mỗi quốc gia dântộc Với những đặc trưng trên, dân tộc hình thành thường gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, song cũng có những dân tộc hình thành không gắn với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản như Việt Nam và Triều Tiên

II Vấn đề giai cấp:

1 Giai cấp:

Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lênin định nghĩa: “Người ta gọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”

2 Nguồn gốc hình thành giai cấp:

Trang 6

Trong xã hội có nhiều nhóm xã hội khác nhau Sự khác nhau ấy được phan biệt bởi những đặc trưng khác nhau như giới tính, nghề nghiệp, chủng tộc, dân tộc Những khác biệt ấy tự nó không tạo ra sự đối lập về mặt xã hội Chỉ có những giai cấp xuất phát từ sự khác biệt căn bản về lợi ích mới tạo ra những xung đột xã hội mang tính chất đối kháng Mác chỉ ra rằng: “Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất” Sự phân chia một xã hội thành giai cấp trước hết la do nguyên nhân kinh tế.

Trong xã hội nguyên thủy, lực lượng sản xuất chưa phát triển, năng suất lao động rất thấp, sản phẩm làm ra chưa đủ nuôi sống người nguyên thủy Để tồn tại họ phải sống nương tựa vào nhau theo bầy đàn lệ thuộc vào tự nhiên, giai cấp chưa xuất hiện

Sản xuất ngày càng phát triển với sự phát triển của lực lượng sảnxuất Công cụ sản xuất bằng kim loại ra đời thay thế công cụ bằng đá, năng suất lao động nhờ đó tăng lên đáng kể, phân công lao động xã hội từng bước hình thành, của cải dư thừa xuất hiện, những người có chức quyền trong các thị tộc, bộ lạc đã chiếm đoạt của cải dư thừa làmcủa riêng; chế độ tư hữu ra đời, bất bình đẳng về kinh tế nảy sinh trong nội bộ công xã, đó chính là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp

Do có của cải dư thừa, tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh không bị giết như trước Họ được sử dụng làm nô lệ phục vụ những người giàu và có địa vị xã hội, chế độ có giai cấp chính thức hình thành kể từ đó Như vậy, sự xuất hiện chế độ tư hữu là nguyên nhân quyết định trực tiếp sự ra đời giai cấp Sự tồn tại các giai cấp đối kháng gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và chế độ tưbản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản phát triển cao lại tạo tiền đề khiến cho sự thủ tiêu chế độ tư hữu, cái cơ sở kinh tế của sự đối kháng giai cấp trở thành xu thế khách quan trong sự phát triển xã hội Đó là lôgic khách quan của tiến trình phát triển lịch sử

Trang 7

III Quan hệ giai cấp – dân tộc và giai cấp – nhân loại:

1 Quan hệ giai cấp – dân tộc:

Trong một cộng đồng dân tộc bao giờ cũng có nhiều giai cấp và các tầng lớp xã hội khác nhau cùng chung sống Lợi ích dân tộc là lợi ích chung của tất cả các giai cấp, các lực lượng xã hội sống trong cộngđồng ấy Mỗi một giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử, giai cấp nào

có lợi ích gắn liền với phương thức sản xuất thống trị, sẽ trở thành lực lượng tiêu biểu và lãnh đạo dân tộc

Tuy nhiên, trong các xã hội và những phương thức sản xuất tồn tại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích của dân tộc không phải khi nào cũng thốngnhất, thậm trí nhiều lúc trái ngược và đối lập với lợi ích dân tộc Trongxã hội xã hội chủ nghĩa phương thức sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, lực lượng sản xuất thuộc về quyền sở hữu chung của cả xã hội, khi ấy lợi ích giai cấp về cơ bản phù hợp với lợi ích của cả cộng đồng dân tộc Đương nhiên, sự phù hợp được thể hiện trong quá trình giải quyết đúng đắn các mâu thuẫn Ngày nay, chừng nào trong xã hội còn giai cấp đối kháng, và đấu tranh giai cấp, vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc được giải quyết trên lập trường giai cấp nhất định

2 Quan hệ giai cấp - nhân loại:

Vấn đề lợi ích nhân loại là những vấn đề có liên quan đến sự sống còn của cả loài người, chẳng hạn những vấn đề chống chiến tranh hạt nhân, bảo vệ môi trường, vấn đề dân số, chống các loại dịch bệnh đe dọa sự sống còn của cả nhân loại Lợi ích nhân loại là những nhân tố đáp ứng yêu cầu phát triển của loài người mọi quốc gia, khôngphân biệt sự khác nhau về giai cấp, dân tộc, tôn giáo

Trang 8

Tuy nhiên trong xã hội có giai cấp, lợi ích nhân loại là không tách rời với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và do đó nó bị chi phối bởi lợi ích giai cấp

Lợi ích của giai cấp tiến bộ phù hợp với lợi ích của nhân loại Các giai cấp phản động đối với lịch sủ thì lợi ích của giai cấp về căn bản mâu thuẫn với lợi ích chung của dân tộc và lợi ích toàn nhân loại

Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng, muốn giải phóng mình, giai cấp vô sản phải giải phóng toán nhân loại khỏi áp bức và nô dịch của chủ nghĩa tư bản Vì vậy, lợi ích giai cấp của giai cấp vô sản về căn bản phù hợp với lợi ích của nhân loại

Trang 9

Ban lãnh đạo Quốc tế cộng sản một thời gian dài đã nhấn mạnh vấn đềgiai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc, vì vậy không mấy quan tâm đến chủnghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chícòn coi đó là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủnghĩa quốc tế vô sản Hơn thế nữa, nếu các nhà Nho yêu nước đề caovấn đề dân tộc nhưng không dựa trên vấn đề giai cấp Tuy nhiên, chủtịch Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh vấn đề dân tộc đi kèm với vấn đề giaicấp.

Trang 10

B Vấn đề giai cấp - dân tộc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh:

I Cơ sở thực tiễn của các nước phương Đông:

Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề thuộc địa – một vấn đề không chỉ đáng quan tâm ở các nước châu Á mà còn tồn tại ở rất nhiều quốc gia trên thế giới

1)Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa:

- Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc:

Nếu như C.Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Hồ Chí Minh tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân C.Mác và Lênin bàn nhiều về đấu tranh giai cấp ở các nước

tư bản chủ nghĩa, thì Hồ Chí Minh bàn về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa

Thực chất của vấn đề này chính là vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của người nước ngoài, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập Nhà nước dân tộc độc lập

Tất cả những điều trên được Bác đặc biệt đề cập đến trong

những bài Bác viết có tiêu đề Đông Dương và nhiều bài khác Bác lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục Bác chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa, đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được

- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc

Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là chủ nghĩa xã hội

Trang 11

Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn đề hết sức mới mẻ Từ một nước thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Con đường đó kết hợp cả nội dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

“Đi tới xã hội cộng sản” là hướng phát triển lâu dài Nó quy địnhvai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, đoàn kết mọi lực lượng dân tộc, tiến hành các cuộc cách mạng chống đế quốc và chống phong kiến cho triệt để

Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở các nước thuộc địa Đó cũng là nét độc đáo, khác biệt với con đường phát triển của các dân tộc đã phát triển lên chủ nghĩa tư bản ở phương Tây

2)Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địavà chủ nghĩa yêu nước chân chính – một động lực lớn của đất nước:

Trên cơ sở giải thích những vấn đề về thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa yêu nước chân chính

Bác hết sức trân trọng quyền con người Người đã tìm hiểu và tiếp nhận những nhân tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của Cách Mạng Pháp, như quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Từ quyền con người, Hồ Chí minh đã khái quát và nâng cao thành quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật sự, hoàn toàn, gắn với hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Độc lập tự do là độc lập tự do thực sự gắn liền với chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; là đảm bảo quyền tự quyết dân tộc; là đảm bảo cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho dân

Trang 12

Xuất phát từ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, từ thực tiễn rằng ở phương Đông lực lượng sản xuất phát triển chậm, phân hóa kinh tế không rõ nên phân hóa cơ cấu xã hội – giai cấp

không điển hình, đấu tranh giai cấp không phải là vấn đề nổi bật trong xã hội phong kiến phương Đông và mặc dù có sự khác biệt về lợi ích giai cấp nhưng người dân vẫn chung một cảnh ngộ: mất nước, vì thế

họ có chung lí tưởng: giành độc lập tự do và đoàn kết để xây dựng chủnghĩa cộng sản; Bác đã nêu lên nội dung của chủ nghĩa dân tộc chân chính Trước hết là nó dựa trên ý chí độc lập, khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc Tiếp đó Bác khẳng định chủ nghĩa dân tộc thống nhất với chủ nghĩa quốc tế Cuối cùng Bác nhấn mạnh chủ

nghĩa dân tộc là căn nguyên, cội nguồn sức mạnh dân tộc, là yếu tố quyết định cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam:

“Người ta không thể giúp gì cho người dân An Nam nếu như không dựa trên động lực vĩ đại, duy nhất trong đời sống xã hội của họ.”

Hồ Chí Minh

-II Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp:

1 Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau:

Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh thể hiện: khẳng định vai trò của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng Sản trong quá trình Cách Mạng Việt Nam; chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ

Trang 13

thù; thiết lập chính quyền nhà nước của dân, do dân và vì dân; gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

2 Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Năm 1920, ngay khi quyết định phương hướng giải phóng và phát triển dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc vớimục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người Chỉ có xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức, bóc lột; thiết lập một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân mới bảo đảm cho người lao động có quyền làm chủ, mới thực hiện được sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người

3 Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp:

Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp Vì vậy, lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc

Tháng 5-1941, Người cùng với Trung ương Đảng khẳng định:

“Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự

do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc cònchịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”

Trang 14

4 Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác:

Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lậpcủa tất cả các dân tộc bị áp bức

Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, thực hiện nguyên tắc về quyềndân tộc tự quyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới Người nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Lào và Campuchia, đề ra khẩu hiệu:

“giúp bạn là tự giúp mình” và chủ trương phải bằng thắng lợi của cáchmạng mỗi nước mà đóng góp vào cách mạng chung của thế giới

Ngày đăng: 15/05/2016, 19:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w