1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

hệ thông Marketing cà phê

39 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 415,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cà phê là một sản phẩm xuất hiện từ lâu đời và rất được ưa chuộng trên toàn cầu. Đây là loại hàng hóa giao dịch mạnh trên thị trường thế giới đã và đang mang lại cho hàng triệu nông dân ở các nước xuất khẩu cà phê nguồn thu nhập chính. Việt Nam là một nước có diện tích trồng cà phê lớn và là quốc gia có sản lượng xuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới và đứng đầu về sản xuất, xuất khẩu cà phê vối. Có được một vị trí quan trọng như vậy là do chúng ta sớm có chủ trương phát triển cây cà phê trở thành ngành kinh tế và nguồn hàng xuất khẩu mũi nhọn. Nhìn lại sự phát triển của cà phê Việt Nam thời gian qua mặc dù đạt số lượng xuất khẩu khá tốt nhưng về chất lượng, giá cả vẫn còn thất thế so với các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới. Việt Nam hòa nhập vào thị trường thế giới trong bối cảnh bị mất thị trường truyền thống (Liên Xô và các nước XHCN trước đây) trong khi đó thị trường cà phê thế giới được hình thành từ lâu đời và được phân chia rõ rệt, hầu như cà phê Việt Nam không còn chỗ đứng. Chúng ta chủ yếu bán cà phê cho các nước trung gian, do vậy giá cả luôn thấp hơn mặt bằng giá chung của thế giới. Nhằm ổn định, nâng cao chất lượng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê Việt Nam, chúng ta cần có những giải pháp khả thi và triển khai một cách đồng bộ. Để cà phê Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngành cà phê cần chú ý thay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ khâu sản xuất đến khi thu được sản phẩm hoàn thiện. Nhận thức được điều đó, để hiểu rõ hơn về hệ thống marketing ngành cà phê, nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu với đề tài “Tìm hiểu hệ thống Marketing ngành hàng Cà phê”.

Trang 1

A - MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cà phê là một sản phẩm xuất hiện từ lâu đời và rất được ưa chuộng trên toàncầu Đây là loại hàng hóa giao dịch mạnh trên thị trường thế giới đã và đang manglại cho hàng triệu nông dân ở các nước xuất khẩu cà phê nguồn thu nhập chính.Việt Nam là một nước có diện tích trồng cà phê lớn và là quốc gia có sản lượngxuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới và đứng đầu về sản xuất, xuất khẩu càphê vối Có được một vị trí quan trọng như vậy là do chúng ta sớm có chủ trươngphát triển cây cà phê trở thành ngành kinh tế và nguồn hàng xuất khẩu "mũi nhọn".Nhìn lại sự phát triển của cà phê Việt Nam thời gian qua mặc dù đạt số lượng xuấtkhẩu khá tốt nhưng về chất lượng, giá cả vẫn còn thất thế so với các nước xuấtkhẩu cà phê trên thế giới Việt Nam hòa nhập vào thị trường thế giới trong bốicảnh bị mất thị trường truyền thống (Liên Xô và các nước XHCN trước đây) trongkhi đó thị trường cà phê thế giới được hình thành từ lâu đời và được phân chia rõrệt, hầu như cà phê Việt Nam không còn chỗ đứng Chúng ta chủ yếu bán cà phêcho các nước trung gian, do vậy giá cả luôn thấp hơn mặt bằng giá chung của thếgiới

Nhằm ổn định, nâng cao chất lượng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê ViệtNam, chúng ta cần có những giải pháp khả thi và triển khai một cách đồng bộ Để

cà phê Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngành cà phê cần chú ýthay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ khâu sản xuất đến khi thu được sản phẩm hoànthiện

Nhận thức được điều đó, để hiểu rõ hơn về hệ thống marketing ngành cà phê,

nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu với đề tài “Tìm hiểu hệ thống Marketing

ngành hàng Cà phê”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 2

2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu về hệ thống marketing nông nghiệp trong ngành hàng Cà Phê

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa một số lý luận về marketing nông nghiệp & ngành cà phê

- Tìm hiểu về hệ thống marketing trong ngành cà phê - Mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia hệ thống marketing ngành Cà phê

- Chi phí, hiệu quả của hệ thống marketing cà phê

- Đưa ra những khó khăn hạn chế ngành gặp phải, từ đó đề xuất một số giải pháp

cụ thể

3 Phương pháp nghiên cứu

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong đề tài:

- Phương pháp phân tích thông tin (phân tích, đánh giá, nhận xét,…)

- Phương pháp tổng hợp thông tin từ các nguồn tin cần thiết như sách báo, tạp chí,luận văn - luận án, Internet,…

- Phương pháp thống kê mô tả nội dung đề tài…

B NỘI DUNG

I – Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê.

1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới

Trang 3

• Châu Á - Thái Bình Dương

Phân bổ sản lượng cà phê thế giới theo các khu vực này có thể được tóm tắt như sau: Châu Mỹ sản xuất ra 60 - 70 % sản lượng cà phê thế giới, tức là khoảng gần 4 triệu tấn cà phê nhân Châu Phi sản xuất ra 20 - 22% khoảng hơn 1 triệu tấn Châu á hàng năm sản xuất khoảng 70 ngàn tấn cà phê chiếm 12% sản lượng toàn thế giới, sản lượng cà phê hàng năm biến động thất thường nhưng theo chiều

hướng ngày càng tăng Thập kỷ 70 sản lượng trung bình đạt 4,5 triệu tấn trên một năm; thập kỷ 80 tăng nên 5,5 triệu tấn trong một năm ; Sang thập kỷ 90 con số đã

là 6 triệu tấn một năm cho tới nay con số này đã lên tới 6,2 triệu tấn 1 năm

Sản phẩm hạt cà phê là loại hàng hóa giao dịch mạnh trên thị trường thế giới ở London và NewYork và đã đang tạo việc làm, mang lại nguồn thu nhập chính cho hàng triệu nông dân ở các nước xuất khẩu cà phê Năm 2005, cà phê được coi là mặt hàng xuất khẩu hợp pháp thứ 7 trên thế giới

Một đợt hạn hán được cho là khốc liệt nhất từ nhiều thập kỷ nay đang xảy ratại Brazil, nước cung ứng cà phê số 1 thế giới Trong cuộc họp báo tại trụ sở Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) vào ngày 7-3-2014, Tổng giám đốc điều hành ICO Roberio Oliveira Silva cho rằng thế giới năm tới sẽ thiếu hụt “ít nhất là hai triệu bao cà phê, chủ yếu là do hạn hán tại các vùng trồng cà phê của Brazil”.Hằng năm,nước này xuất khẩu chừng từ 32-33 triệu bao, Việt Nam xếp thứ 2 với chừng 21-22triệu bao Giá cà phê thế giới xoay chiều không chỉ do yếu tố thời tiết Tình hình bất ổn địa chính trị tại bán đảo Crimea của nước Ukraine đang làm lung lay các thị trường cổ phiếu toàn cầu Đứng trước tình hình này, các quỹ đầu cơ đang chuyển vốn từ các thị trường chứng khoán có mức độ rủi ro cao hơn, để chọn sàn cà phê vàmột số loại nông sản khác làm nơi “trú ẩn an toàn” Lượng vốn chuyển vào càng nhiều, giá kỳ hạn càng tăng do đầu cơ đặt cược càng lớn

Trang 4

Báo cáo mới nhất của ICO nói rằng tổng sản lượng cà phê thế giới năm 2014ước đạt 145,75 triệu bao và tổng cầu cà phê thế giới năm 2012 chừng 142 triệu bao Nếu cho rằng hiện nay mỗi năm thế giới tiêu thụ thêm 2 triệu bao, thì ước niên

vụ 2014/15 tiêu thụ cà phê thế giới chừng 146 triệu bao Tuy vị quan chức ICO chưa đưa ra con số ước lượng cụ thể cho niên vụ mới, dựa trên phát biểu của ông, sản lượng cà phê thế giới vụ tới chỉ còn 144 triệu bao, giảm 2 triệu bao so với năm này và đúng với lượng thiếu hụt ông đã ước

b) Tiêu thụ

Nhu cầu tiêu thụ cà phê rất lớn Hàng năm, lượng tiêu thụ trên thế giới ước tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn) Có thể chia các nước tiêu dùng cà phê thành bốn nhóm chính theo khu vực địa lý như sau :

• Nhóm các nước Tây Bắc Âu và Nam Âu

• Nhóm các nước Bắc Mỹ: Trong đó thị trường Mỹ là lớn nhất với nhu cầu hàng năm khoảng 4 kg/người/năm: Tình hình sản xuất tiêu thụ, xuất khẩu và giá cả1/3

• Nhóm các nước Châu Á - Thái Bình Dương: Trong đó hai thị trường tiêu biểu là Hàn Quốc và Nhật Bản

• Nhóm các nước Đông Âu và Nga: Đây là những thị trường mới nổi rất tiềm năng với sản phẩm cà phê

Các nước tiêu thụ cà phê lớn nhất là Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nhật Bản, Ý, Người Phần Lan uống nhiều cà phê nhất thế giới với 1737 tách/năm, trung bình 5 tách/ngày, tương ứng 11,3kg/năm/người Hoa Kỳ năm 1998 sử dụng 1.148.000 tấn

cà phê, trung bình tiêu thụ 4,8kg/ người/năm hay 646 tách /năm Người Đức sử

Trang 5

dụng trung bình 6,7kg/ người/năm hay 4 tách /ngày và cà phê được coi là thức uống ưa thích nhất, xếp trước cả bia.

2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê ở việt nam

Mặc dù chính phủ tiếp tục khuyến nghị duy trì diện tích cà phê của cả nước

là 500.000 ha nhưng diện tích gieo trồng cà phê vẫn tiếp tục được mở rộng tại các khu vực chính Theo số liệu ước tính của Sở NN&PTNT, Bộ NN&PTNT, diện tíchtrồng cà phê nước ta năm 2014 ước tính vào khoảng 653.000 ha, tăng 2% so với năm 2013 (633.000 ha) Tuy nhiên, thực tế diện tích gieo trồng có thể vượt quá 660.000 ha Sản xuất cà phê nước ta tăng đều đặn trong vòng 3 năm gần đây do 5 yếu tố chính: (1) việc mở rộng diện tích trồng cà phê; (2) thời tiết tương đối thuận lợi (đặc biệt là vụ thu 2013); (3) việc nâng cao hiểu biết và tăng vốn đầu tư của người nông dân như cải thiện kỹ thuật trồng trọt, thủy lợi hợp lý, sử dụng phân bónthích hợp; (4) sử dụng các giống cây mới cho năng suất cao và kháng bệnh gỉ sắt; (5) giá xuất trại và giá xuất khẩu ổn định, tạo động lực cho người nông dân mở rộng diện tích và thay thế cây cà phê già cỗi

Từ tình hình thực tế, Mạng thông tin Nông nghiệp toàn cầu của FAS/USDA

đã điều chỉnh dự báo ban đầu về sản lượng cà phê mùa vụ 2014/15 của nước ta lên29.2 triệu bao tương đương 1,75 triệu tấn, tăng nhẹ so với mùa vụ trước Với sảnlượng như vậy dự báo nguồn hàng cà phê xuất khẩu nước ta năm nay tương đốilớn, được FAS USDA dự báo là 28 triệu bao, tương đương 1,68 triệu tấn, tăng 8%

so với mùa vụ trước do nguồn cung xuất khẩu cao, giá cà phê thế giới tăng ngay từđầu mùa vụ và sự phát triển không ngừng của ngành cà phê hoà tan nước ta

Cũng theo FAS USDA, sản lượng cà phê nước ta mùa vụ 2013/14 ước tính

là 29 triệu bao (tương đương 1,74 triệu tấn), xuất khẩu tăng nhẹ lên 25,9 triệu bao

Trang 6

(tương đương 1,56 triệu tấn) do nguồn cung xuất khẩu tăng đặc biệt là cà phê hoàtan.

Tiêu thụ cà phê trong nước tiếp tục tăng mạnh nhờ chiến lược marketing rầm

rộ của các nhà sản xuất nội địa FAS/USDA vẫn giữ mức dự báo về tiêu thụ cà phêtrong nước mùa vụ 2013/14 là 2 triệu bao (tương đương 120.000 tấn), mùa vụ2014/15 là 2,08 triệu bao (tương đương 125.000 tấn) với tốc độ tăng trưởng hàngnăm là 4%

Sản xuất:

Theo các doanh nghiệp xuất khẩu và kinh doanh cà phê trong nước, diện tíchgieo trồng cà phê tiếp tục tăng mạnh tại một số khu vực chính Theo số liệu ướctính của Sở NN&PTNT các tỉnh, diện tích trồng cà phê nước ta năm 2014 có thểlên tới 653.000 ha (tham khảo hình 2, bảng 2), tăng 2% so với năm 2013 (613.000tấn) Các tỉnh Dak Lak, Gia Lai và Lâm Đồng tiếp tục mở rộng diện tích gieo trồng

cà phê, đặc biệt là cà phê Robusta Năm 2014, diện tích trồng cà phê Arabica tạiLâm Đồng, Sơn La và Quảng Trị ước tính khoảng 45.000 ha, chiếm 7% tổng diệntích trồng cà phê của cả nước

Một số nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu trong nước cho biết thời tiết thuậnlợi sẽ giúp cây cà phê trong mùa vụ 2014/15 phát triển, đặc biệt tại khu vực TâyNguyên (Đắk Lắk, Gia Lai và Kon Tum) lượng mưa vẫn thuận lợi từ giữa tháng tư

Dự báo ban đầu của FAS/USDA cho biết sản lượng cà phê hạt nước ta mùa vụ2014/15 vào khoảng 1,75 nghìn tấn (tương đương 29,2 triệu bao) do sản lượng bổsung từ các vùng cà phê mới đã bù đắp việc giảm năng suất tại các vùng năng suấtthấp và trồng cây lâu năm và tại các vùng trồng cà phê Arabica phía Bắc nước ta

do ảnh hưởng bởi đợt lạnh kéo dài từ cuối năm 2013 đến đầu năm 2014

Trang 7

FAS/USDA vẫn duy trì số liệu ước tính về tổng sản lượng cà phê xanh nước tamùa vụ 2013/14 là 29 triệu bao (tương đương 1,74 triệu tấn), cà phê Arabica là 70nghìn tấn.

Theo một số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê trong nước, tại các khu vực chính,người nông dân đã và đang thay thế các giống cây năng suất thấp và lâu năm với tỷ

lệ từ 10%-15% tổng diện tích gieo trồng của mình để duy trì hoạt động sản xuất và

ổn định thu nhập hàng năm

Hình 1: Sản lượng cà phê Việt Nam

Nguồn: USDA, FAS, doanh nghiệp xuất khẩu cà phê trong nước

Trang 8

Hình 2: Các khu vực trồng cà phê của Việt Nam năm 2014

Nguồn: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT các tỉnh, Doanh nghiệp xuất

khẩu cà phê Việt Nam

Bảng 2: Diện tích trồng cà phê của Việt Nam theo tỉnh thành

2013

Năm2014

Mục tiêu tới năm

2020

Trang 9

Nguồn: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT các tỉnh, Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam

Trang 10

Hình 3: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam (theo niên lịch)

Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT, Dự báo của FAS/USDA

Tiêu thụ

Tiêu thụ cà phê trong nước tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới Văn hóa càphê và các cửa hàng bán lẻ cà phê tiếp tục lan nhanh tại Việt Nam với sự xuất hiệncủa các hãng cà phê lớn như Starbucks, Gloria Jeans, Illy Café và The Coffee Bean

& Tea Leaf, McCafe (McDonald’s), Dunkin Donuts Mặc dù chỉ sử dụng mộtlượng nhỏ cà phê có nguồn gốc của Việt Nam nhưng sự tồn tại của những thươnghiệu trên đã kích thích sự cạnh tranh và chất lượng dịch vụ của các thương hiệutrong nước như Trung Nguyên, Highlands và Vinacafe Các thương hiệu quốc tếcũng mang đến phong cách thưởng thức cà phê kiểu mới (xay tại chỗ và cà phê

Trang 11

take away) Ngoài ra, bán bánh kèm cà phê cũng là loại hình kinh doanh đang kháthịnh hành tại Việt Nam như Paris Baguette Café, Tour les Jours, và Givral.

Khoảng 2/3 cà phê tiêu thụ trong nước là cà phê rang và cà phê xay; 1/3 cònlại là cà phê hoà tan Tiêu thụ cà phê hoà tan tăng đáng kể đóng góp vào tổng tiêuthụ cà phê nước ta do giới trẻ, dân thành thị ưa thích sử dụng cà phê on-the-go hơn

là ngồi uống cà phê phin truyền thống

FAS/USDA đưa ra mức dự báo ban đầu về tiêu thụ cà phê trong nước mùa vụ2014/15 là 2,1 triệu bao (tương đương 125.000 tấn), tăng 4% so với mùa vụ trước;đồng thời ước tính số liệu mùa vụ 2013/14 là 2 triệu bao (tương đương 120.000tấn)

II – Hệ thống Marketing ngành Cà phê

Sản phẩm cà phê trong ngành cà phê của mỗi doanh nghiệp để có thể thamgia vào thì trường và tham gia một cách có hiệu quả thì không thể thiếu hoạt độngcủa hệ thống marketing Để hoạt động marketing thành công thì bộ phận marketingcủa doanh nghiệp phải phối hợp hoạt động với các bộ phận khác và cân nhắc sựảnh hưởng của những nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các trung gianmarketing và khách hàng (người tiêu dùng) trong hệ thống

-Sự khác biệt về không gian

-CP giao dịch -Tính không đồng nhất của sản phẩm

-Thông tin -Biến số đầu ra/ chất lượng

Bản chất của hệ thống

trao đổi

Sản xuất -

Vận tải Bảo quản và các giao phó tiếp theo ( mặc cả giá, chất lượng )

Phân loại Chế biến Đóng gói/bán buôn/phân phối

Bán lẻ/ quảng bá SP ( nhu cầu của NTD, an toàn TP )

Trang 12

1 Xúc tiến các điều kiện KD

- Trợ cấp

- thuế

- khung pháp lý

- các DV thông tin

trường

HD

-hội nhập theo

- Sự phụ thuộc ( Nhu cầu an toàn TP/sự thuận

lẫn nhau tiện của TP )

Liên kết ngang

III - Phân tích cấu trúc hệ thống marketing cà phê

1. Mối quan hệ theo chiều ngang

Mối liên

kết

Giữa nhà khoa học-nhà nông

Giữa doanh nghiệp-nhà nông

Giữa doanh nhà khoa học

nghiệp-Liên kết dọc

Xuất khẩu

Trang 13

Niềm tin Tạo ra giống cà

phê có năng suất

và chất lượng cao

Sự tin tưởng giữahai bên còn thấp

Nâng cao sức cạnh tranh

và giá trị xk cà phê của vùng, tạo sự gắn kết chặtchẽ giữa nông dân, DN, nhà khoa học và nhà nước

Thông tin Đưa ra các giống

cà phê, thời gian gieo trồng thích hợp, cách chăm sóc

Doanh nghiệp cần tăng cường

hỗ trợ vốn cho nông dân

DN đóng vai trò là nhà đầu tư và tài trợ

Sự phụ

thuộc

Điều kiện ban đầu quyết định đến việc sản xuất của người dân

Làm cho nguồn cung cà phê cho sản xuất và xuất khẩu được đảm bảo cả về chất lượng và số lượng

Là mối liên kết quyết định đến chất lượng giống trước khi đến với tay người dân

Mối quan hệ giữa các NSX Có mối quan hệ hợp tác là chủ yếu Những NSXhợp tác với nhau trong khuôn khổ HTX , các tổ chức công ở địa phươnghoặc sự hợp tác giữa các hộ quen biết nhau

• Các hộ tự hợp tác với nhau dưới hình thức chung vốn để mua sắm máymóc, thiết bị, công cụ lao động phục vụ cho sản xuất

• Các hộ hợp tác trong khâu áp dụng đồng bộ việc phòng trừ sâu bệnh

• Những NSX còn cung cấp cho nhau thông tin về giá và cầu của thị trường

Trang 14

• Giám sát nhau trong hoạt động sản xuất cà phê để đảm bảo chất lượngcũng như uy tín của vùng

• Tuy có sự trao đổi về thông tin nhưng những NSX vẫn có sự độc lập trongcác quyết định của mình

b Mối quan hệ giữa các tác nhân trung gian

• Có sự gắn kết với nhau trong việc thực hiện vai trò của những người khâunối giữa NSX và NTD

• Các tác nhân trung gian này cung cấp các thông tin về nhu cầu cà phê củacác tác nhân khác trong hệ thống

• Các nhà thu gom môi giới vận chuyển cung cấp cà phê cho các trung giankhác

• Các trung gian có sự ràng buộc chặt chẽ về mặt cung cấp

• Có sự trao đổi về thông tin giữa các tác nhân trung gian

• Các tác nhân có sự chia sẻ rủi ro với nhau

2. Mối quan hệ theo chiều dọc

Với hình thức liên kết theo chiều dọc, quan hệ giữa các tác nhân thể hiện rõrệt trong các hoạt động của ngành hàng Trong đó các nhà thu gom, nhàphân phối, nhà bán buôn, bán lẻ là các tác nhân trung gian có vai trò giảm

Trang 15

chi phí cho người sản xuất, tăng phạm vi tiếp cận khách hàng, chia sẻ rủi rovới nhà sản xuất, kết nối cung – cầu và tăng khả năng cạnh tranh cho sảnphẩm hàng hóa.

Các tác nhân này- kết nối với nhau thông qua các dòng: dòng chuyểnquyền sở hữu dòng thông tin, dòng vận động vật chất, dòng thanh toán vàdòng xúc tiến

Điều kiện đảm bảo cho việc tồn tại của mối quan hệ theo chiềudọc giữa các tác nhân bao gồm năng lực đàm phán, dòng kiến thức, niềm tin

và sự phân phối lợi ích kinh tế

Theo đó năng lực đàm phán là khả năng, sức thuyết phục ngườikhác của mỗi cá nhân,là phương tiện cơ bản để đạt được cái mà ta mongmuốn từ người khác Đó là quá trình giao tiếp có đi có lại được thiết kếnhằm thỏa thuận trong khi giữa ta và bên kia có những quyền lợi có thể chia

sẻ và có những quyền lợi đối kháng Dây là một năng lực không thể thiếucủa mỗi cá nhân để đạt được hiệu quả trong các quan hệ hợp tác

Dòng kiến thức (hay thông tin): là điều không thể thiếu trong bất kì

hoạt động sản xuất kinh doanh nào Các tác nhân trong hệ thống cần chia sẻthông tin về thị trường, giá cả với nhau Hay nói cách khác cần đảm bảođược tính minh bạch của thông tin thị trường

Niềm tin: giữa các tác nhân với nhau cần tạo dựng được niềm tin

với đối tác, trong sản xuất kinh doanh uy tín là điều vô cùng quan trọng Nếukhông có niềm tin hay không tạo dựng được lòng tin đối với các tác nhânkhác thì mối quan hệ này sẽ không đem lại hiệu quả, thậm chí rất dễ đổ vỡ.Phân phối lợi ích kinh tế: sản phẩm cà phê trước khi đến tay người tiêu dùng

đã qua tay các tác nhân trung gian, và qua mỗi khâu trung gian, giá trị của nólại được tăng thêm một lượng nhất định Do đó việc phân phối lợi ích kinh tếgiữa các tác nhân làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm một cách công bằng

Trang 16

cũng là một trong những điều kiện đảm bảo duy trì mối quan hệ giữa các tácnhân trong hệ thống.

- Quan hệ hợp tác trong hoạt động cung ứng đầu vào cho sản xuất:

Nội dung liên kết này thể hiện giữa các nhà cung cấp đầu vào và người sảnxuất cà phê trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình Chủ thể cung ứngđầu vào có thể là doanh nghiệp thu mua, các cơ sở thu gom hay các đại lýđầu vào,… mối liên kết này thường được thực hiện thông qua hợp đồng tiêuthụ sản phẩm Hộ nông dân được doanh nghiệp hỗ trợ về giá và cước vậnchuyển trong khâu mua sắm các đầu vào

- Liên kết trong hoạt động ứng dụng KHKT vào sản xuất: Chủ thể

tham gia trong hoạt động này là các nhà khoa học (cán bộ nghiên cứu củacác viện, các trung tâm nghiên cứu, cán bộ khuyến nông…), hợp tác xã,doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân Trong quan hệ này, nhà khoa học có

cơ sở vững chắc để phát triển nghiên cứu đáp ứng đòi hỏi của thị trường tiêudùng về chất lượng, mẫu mã, nguồn gốc sản phẩm…đảm bảo an toàn Hộsản xuất có điều kiện để áp dụng TBKT vào sản xuất nhằm giảm chi phí,đem lại hiệu quả cao trong sản xuất

- Liên kết trong hoạt động vay vốn phát triển sản xuất: Nội dung

liên kết trong hoạt động này có các tác nhân chính là các tổ chức tín dụng,ngâ hàng và hộ nông dân Mối liên kết này mang lại lợi ích cho cả 2 bên.Một mặt tạo điều kiện giúp nông dân có vốn phát triển sản xuất, mặt kháccũng tạo ra thu nhập cho các tổ chức cho vay từ lãi suất

- Liên kết trong hoạt động chế biến: Các cơ sở chế biến trực tiếp thu

mua nguyên liệu từ các hộ sản xuất hoặc thông qua người thu gom, thươnglái hay hợp tác xã bằng hợp đồng thu mua sản phẩm Trong mối liên kết này,người sản xuất có được nguồn vốn phục vụ sản xuất, có cán bộ kỹ thuật dodoanh nghiệp cử xuống hướng dẫn sản xuất và có đầu ra ổn định cho sản

Trang 17

phẩm Đồng thời doanh nghiệp chế biến cũng yên tâm mở rộng thị trườngnhờ có nguồn cung ổn định.

- Liên kết trong tiêu thụ: Nội dung liên kết này có thể được thực hiện

trực tiếp giữa doanh nghiệp và hộ nông dân thông qua hợp đồng tiêu thụhoặc thông qua các cá nhân, tổ chức trung gian như: hợp tác xã, cơ sở thugom, thương lái…Trong hoạt động tiêu thụ, các doanh nghiệp thường hỗ trợ

hộ sản xuất dưới hình thức ứng trước cho hộ vật tư để có sự ràng buộc cũngnhư để hộ chủ động được vốn cho quá trình đầu tư, ngoài ra còn giúp đỡnông dân trong việc áp dụng kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn, thực hiện bao tiêu sảnphẩm với giá thỏa thuận đảm bảo lợi ích cho cả 2 bên

- Quan hệ giữa người sản xuất với tổ chức đoàn thể và cơ quan nhà

nước: mối quan hệ này thể hiện rõ nhất trong sự cung cấp thông tin thị

trường và chuyển giao KHKT

a) Xúc tiến các điều kiện kinh doanh:

- Trợ cấp của nhà nước về mặt hàng cà phê:

Trợ cấp về giá:

• Bộ Tài chính đã có công văn số 12545/BTC -TCDN ngày 19-9-2013 đềnghị Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ cho tạm trữ khigiá cà phê thị trường xuống dưới giá thành và giao cho Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn phối hợp với Hiệp hội Cà phê quyết định lượngmua, phương thức mua tạm trữ theo nguyên tắc: DN thu mua cà phê đểtạm trữ và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Vốn mua cà phê tạmtrữ được các ngân hàng thương mại đảm bảo cho vay với lãi suất phù hợpđược Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn

• Gia hạn thời gian vay tín dụng xuất khẩu đối với mặt hàng cà phê theoNghị quyết số 83/NQ-CP của Chính phủ Trong đó quy định cụ thể nhưsau: “Gia hạn thời gian vay vốn lên tối đa là 36 tháng (tổng thời gian vayvốn tối đa 36 tháng) đối với khoản vay vốn tín dụng xuất khẩu của Nhànước cho các nhóm hàng xuất khẩu cà phê, với điều kiện DN lỗ và

Trang 18

không cân đối được nguồn vốn để trả nợ theo đúng hợp đồng tín dụng đã

ký với Ngân hàng Phát triển Việt Nam”

Theo nghị định 209 ngày 19/12/2013 quy định : Chính phủ Việt Nam đã

chính thức bãi bỏ thuế VAT 5% đối với mặt hàng cà phêvà một số mặt hàngnông sản khác – thuế giá trị gia tăng

- Khung pháp lý

Chính sách về đất đai

• Đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp (trong đó có đấttrồng cây cà phê) được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng nămhoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất Quy định về nộp tiền thuê đất,chính sách ưu đãi về miễn tiền thuê đất với mức ưu đãi (miễn 3 năm, 7năm, 11 năm, 15 năm, hoặc cả thời gian thuê đất tùy thuộc dự án thuộclĩnh vực ưu đãi đầu tư (khuyến khích đầu tư, đặc biệt khuyến khích đầutư) được đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư (địa bàn kinh tế – xã hội khókhăn, địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn) theo quy định tại chínhsách thu tiền thuê đất (Nghị định số 142/2005/NĐ-CP, được sửa đổi, bổsung tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP của Chính phủ)

• Về quy định về nộp tiền sử dụng đất, chính sách ưu đãi tiền sử dụng đấtvới mức ưu đãi (giảm 20%, giảm 30%, giảm 50%), miễn tiền sử dụng đấttùy thuộc dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư (khuyến khích đầu tư, đặcbiệt khuyến khích đầu tư) được đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư (địa bànkinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn)thực hiện theo quy định tại chính sách thu tiền sử dụng đất (Nghị định số198/2004/NĐ-CP, Nghị định số 44/2008/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sungtại Nghị định số 120/2010/NĐ-CP của Chính phủ)

• Ngoài ra, Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19-12-2013 của Chínhphủ quy định chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nôngthôn quy định ưu đãi miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê

Trang 19

đất tùy theo Dự án thuộc loại dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư,

dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp khuyến khích đầutư

b) Hạn chế trong liên kết dọc:

• Hạn chế trong việc tiếp cận thông tin thị trường:

Mặc dù Việt Nam là nước đạt doanh số xuất khẩu đứng thứ hai thế giới, đạt

612 triệu USD (năm 2005), nhưng sản phẩm cà phê chưa thực sự được thịtrường thế giới công nhận là mặt hàng chất lượng và có uy tín lớn, mà chủyếu sản phẩm cà phê được biết đến thông qua xuất khẩu dưới dạng nguyênliệu "thô" và không có tên tuổi Kết quả là, cà phê thường bị bán với giá thấp(bị ép giá) trên thị trường quốc tế, chưa thể cạnh tranh được với các nước cócùng mặt hàng xuất khẩu trên thế giới Khi giá cà phê tăng lên, nhiều nôngdân của Việt Nam xoá bỏ mùa vụ cây trồng khác để trồng cà phê và ngượclại khi mà giá cả thị trường cà phê thấp họ lại phá bỏ cà phê để trồng câykhác, mà chu kỳ giai đoạn sinh trưởng của cây cà phê cho đến thu hoạch mất

từ 3 - 5 năm, điều này gây nhiều bất lợi cho ngành cà phê Việt Nam

c) Chi phí của hệ thống Marketing

Chi phí marketing là tất cả các chi phí cho sản phẩm nông nghiệp sau khi rời khỏinông trại cho đến khi được người tiêu dùng mua Các loại chi phí marketing chủ yếu trong nông nghiệp bao gồm :

Các loại chi phí marketing chủ yếu trong nông nghiệp bao gồm : Hình: Các loại chiphí trong marketing nông nghiệp Mỗi tác nhân tham gia đều có chi phí marketing khác nhau theo chuỗi giá trị như sau : người sản xuất -> tác nhân trung gian -> các

Ngày đăng: 15/05/2016, 16:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sản lượng cà phê Việt Nam - hệ thông Marketing cà phê
Hình 1 Sản lượng cà phê Việt Nam (Trang 7)
Hình 2: Các khu vực trồng cà phê của Việt Nam năm 2014 - hệ thông Marketing cà phê
Hình 2 Các khu vực trồng cà phê của Việt Nam năm 2014 (Trang 8)
Bảng 2: Diện tích trồng cà phê của Việt Nam theo tỉnh thành - hệ thông Marketing cà phê
Bảng 2 Diện tích trồng cà phê của Việt Nam theo tỉnh thành (Trang 8)
Hình 3: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam (theo niên lịch) - hệ thông Marketing cà phê
Hình 3 Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam (theo niên lịch) (Trang 10)
Bảng 1. Tiêu chuẩn cà phê Việt Nam - hệ thông Marketing cà phê
Bảng 1. Tiêu chuẩn cà phê Việt Nam (Trang 31)
Bảng 2. Tiêu chuẩn ngành về Cà phê - hệ thông Marketing cà phê
Bảng 2. Tiêu chuẩn ngành về Cà phê (Trang 34)
Bảng : Sản lượng và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam - hệ thông Marketing cà phê
ng Sản lượng và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w