1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bai nhom kinh te 2015

10 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 23,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, nhận thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định “ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là

Trang 1

Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM

1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam

Trong những năm gần đây, số lượng Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta phát triển một cách khá mạnh, theo các số liệu thống kê và kết quả tổng điều tra các tổ chức kinh tế thì đến cuối năm 1999 số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là 43.772 doanh nghiệp chiểm tổng tỉ trọng 91% tổng số các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Trong năm

2000 số doanh nghiệp mới được thành lập theo luật doanh nghiệp dưới nhiều hình thức với số lượng vốn đăng kí trung bình trên dưới 1 tỉ đồng, hầu hết doanh nghiệp này cũng có quy mô vừa và nhỏ nếu xét theo chỉ tiêu lao động dưới 200 người thì doanh nghiệp vừa và nhỏ có 46,834 doanh nghiệp chiếm tỉ trọng 97% tổng số doanh nghiệp Như vậy, xét về mặt số lượng thì doanh nghiệp ở nước ta đều có quy mô vừa và nhỏ chiếm 91 – 97% tổng số doanh nghiệp chưa tính đến khoảng 1,4 triệu hộ sản xuất kinh doanh cá thể Như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, nhận thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định “ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những chiến lược trọng tâm trong những năm tới.”

Tuy nhiên, do cơ chế cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và sự ảnh hưởng của tình hình khủng hoảng kinh tài chính, kinh tế của một số nước trong khu vực cũng như trên thế giới có tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới các Doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta bộc lộ các mặt hạn chế và gặp không ít khó khăn trong hoạt động kinh doanh Cụ thể là:

Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất đã có suy giảm so với đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm giảm đáng kể sự đóng góp vào GDP của loại hình doanh nghiệp này Tuy nhiên, ngay cả trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ thì tình trạng hàng biên giới, hàng đã qua

sử dụng, hàng nhập lậu ( chủ yếu từ Trung Quốc) tràn ngập trên thị

trường với giá rẻ cũng gây cho các doanh nghiệp này rất nhiều khó khăn Thị trường và khách hàng bị thu hẹp cộng với sự lúng túng trong quản lý

đã dẫn tới một số doanh nghiệp bị phá sản hoặc buộc phải giải thế hạn

Trang 2

chế phần nào vai trò của loại hình Doanh nghiệp này trong phát triển kinh tế

Trình độ công nghệ, trang thiết bị máy móc vừa cũ vừa lạc hậu lại không đồng bộ dẫn đến việc sản phẩm làm ra không phù hợp với nhu cầu, thị hiếu người dùng do đó hạn chế rất lớn tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thị trường

Lực lượng công nhân kỹ thuật và lao động lành nghề được đào tạo làm việc trong các doanh nghiệp còn quá ít, việc đào tạo lại diễn ra không thường xuyên và đồng bộ dẫn đến tình trạng thừa ở nơi này nhưng lại thiếu ở nơi khác không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, cộng với đội ngũ cán bộ thiếu kỹ năng quản lý và điều hành nên việc quản lý sử dụng lao động vô cùng khó khăn dẫn đến hiệu quả lao động của doanh nghiệp vừa và nhỏ không cao, năng suất lao động thấp thu nhập không ổn định

Tình trạng thiều vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là một vấn đề bức xúc và đáng lo ngại nhất hiện nay Sự suy giảm kinh tế khu vực sau cuộc khủng hoảng tài chình tiền tệ diễn ra cuối năm 97 đầu năm

98 đã có tác động trực tiếp tới nến kinh tế nước ta đặc biệt là doanh

nghiệp vừa và nhỏ Một số nhà đầu tư nước ngoài đã rút vốn đầu tư ở VN

về khôi phục kinh tế trong nước Một số khác e ngại về sự ổn định của nền kinh tế trong nước và khu vực (đây là thị trường chủ yếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ) không đầu tư thêm hoặc rút vốn đầu tư sang thị trường khác dẫn đến sự tụt giảm khủng khiếp của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Và cuối cùng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là người gánh chịu trực tiếp hậu quả của việc suy giảm nguồn vốn này Hơn nữa việc tiếp cận với các nguồn vốn khác lại rất khó khăn, trong đó nguồn vốn chủ yếu đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là vốn vay từ các ngân hàng thương mại nhưng thực tế hiện nay có rất ít các doanh nghiệp đủ các điều kiện thế chấp, đảm bảo tiền vay theo yêu cầu của ngân hàng để vay vốn, tỷ trọng vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ chiểm 20% nhu cầu hoạt động Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều dựa vào nguồn vốn tự có là chính hoặc huy động từ các nguồn khác như bạn bè người thân Việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ không tiếp cận và sử dụng được các nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn tín dụng là hạn chế lớn nhất đối với sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này

Các chính sách vĩ mô, vi mô nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, nặng về hình thức thiếu hướng dẫn cụ thể như chính sách đối với doanh nghiệp sử dung nhiều lao động nữ, chính sách vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm giải quyết việc làm cho người lao động,

Trang 3

các hệ thống thông tin các dịch vụ tư vần về mặt hàng thị trường, công

nghệ, thiết bị môi trường, luật pháp, thông lệ quốc tế về kinh doanh

không đáp ứng được các nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Những khó khăn phiền toái đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

xung quanh các thủ tục kê khai hải quan, thủ tục tín dụng vay vốn, hoàn

trả thuế, nhà đất vẫn còn là nỗi lo lắng, băn khoăn của các doanh

nghiệp

2. Tình hình huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

2.1 Thực trạng vấn đề huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Khi chuyển sang cơ chế thị trường tình hình khá phổ biến ở hầu hết

các doanh nghiệp là tình trạng thiều vốn Đối với các doanh nghiệp

vừa và nhỏ tình trạng thiều vốn là một tất yếu không thể tránh khỏi

Theo số liệu điều tra ở Hà Nội năm 1994 có hơn 60% doanh nghiệp

thiếu vốn chỉ đạp ứng được một phần nhỏ nhu cầu về vốn của doanh

nghiệp Đó là do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết phải kể đến là

sự tác động của tình trạng lạm phát, sự biến động giá cả trong nước và

thế giới trong một thời gian dài làm cho sau mỗi chu kỳ sản xuất

không đủ tái tạo, không bù đắp được số vốn, ban đầu hoặc sự dư ra

không đáng kể Sự thiếu hụt vốn còn do nhiều doanh nghiệp có hiệu

quả kinh tế thấp, thậm chí có nơi có lúc không hiệu quả, làm cho

lượng vốn hao hụt, mất dần ( thâm hụt vốn) tình trạng chiếm dụng

vốn lẫn nhau, nợ nần lòng vòng, dây dưa giữa các doanh nghiệp và

các tổ chức kinh tế đang diễn ra rất nghiêm trọng ( trong giai đoạn II

của quá trình thanh toán công nợ, số nợ phải xử lý lên tới 18.000 tỷ

đồng) Nhưng đáng chú ý nhất là sự thiếu vồn tương đối đang diễn ra

trên bình diện rộng và khá gay gắt Đó là những trường hợp doanh

nghiệp có yêu cầu mở rộng kinh doanh hoặc yêu cầu đổi mới công

nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, để có thế đứng vững trong cạnh

tranh phát triển, nhưng không có nguồn cung ứng vốn ( vốn trong dân

không huy động được, vốn ngân hàng cho vay rất hạn chế) Cụ thể

nguồn vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện ở bảng dưới

đây:

Bảng 1: Cơ cấu vốn của các DNVVN ở một số tỉnh

Nguồn vốn Hà Nội Quảng Ninh Hải Phòng Tổng số TB Vồn chủ sở

hữu

Vay người

thân, bạn bè

Trang 4

Đóng góp

công nhân

Các nguồn

khác

Nguồn: Tổ chức lao động thế giới(1998)

Từ bảng trên ta thấy, lượng vốn huy động được của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu từ các nguồn cá nhân của chủ doanh nghiệp, bạn bè, người thân và các khoản vay không chính thức khác, chiếm 75,2% ; lượng vốn vay từ ngân hàng và đóng góp của công nhân chỉ chiếm lượng nhỏ 23,6%, còn lại là từ nguồn khác 2,2% Điều này chứng

tỏ các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc huy động vốn để sản xuất kinh doanh nhất là từ phía ngân hàng

Ở Hà Nội hiện tại chỉ có khoản 25% doanh nghiệp quốc doanh được vay vốn ngân hàng: 11,9% doanh nghiệp vay vốn từ các hợp tác xã tín dụng Những cản trở ở tầm vĩ mô dẫn đến việc cung ứng vốn cho doanh nghiệp hiện nay đang trở thành vấn đề bức xúc Mặt khác, thị trường vốn trung và dài hạn chưa phát triển, không thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp

Để cụ thể hơn, ta hãy xem xét thực trạng tình hình huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ các nguồn vốn sau:

2.1.1 Vốn chủ sở hữu:

Là loại vốn thường được tạo ra từ các vốn riêng của các doanh nghiệp chủ, vốn đóng góp của các cổ đông, bạn bè, họ hàng Nguồn vốn này chiểm khoảng 5-10% vốn luân chuyển của doanh nghiệp vừa

và nhỏ

Thực tế ta thấy hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng phần lớn nguồn vốn này vào việc kinh doanh chiếm khoảng 47,2% trên tổng số vốn toàn doanh nghiệp

Để huy động nguồn vồn này, doang nghiệp đã gặp phải nhiều khó khăn:

- Do đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là ở chỗ người chủ doanh nghiệp chỉ có phương tiện tài chính ở một mức độ nhất định nên họ không thể bỏ ra nhiều hơn số vồn mà họ đã đóng góp vào doanh nghiệp, lượng vốn này thường không dổi trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 5

- Môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư, chế độ pháp lý không ổn định chưa khuyến khích tạo điều kiện cho các luồng tiền nhàn rỗi được đầu tư vào doang nghiệp

- Vì vậy mà nguồn vốn này chưa được tận dụng một cách triệt

để trong khi các doanh nghiệp đang ở tình trạng đói vốn thì lượng tiền chết vẫn nằm trong túi của người dân khá lớn

2.1.2 Nguồn vốn chính thức

Nguồn vốn này được đánh giá là có triển vọng trong tương lai Nhưng hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa tiếp cận được nhiều và triệt để với nguồn vốn này Tỉ trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay được từ nguồn vốn chính thức chỉ chiểm một tỷ lệ rất khiêm tốn so với các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp lớn khác

2.1.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn vốn vay ngân hàng Xét trên tổng thể các số liệu rút ra từ một tài liệu do ngân hàng

Trung Ương ấn hàng cho thấy phần tín dụng và dài hạn so với toàn

bộ các loại tín dụng mà hệ thống ngân hàng đã cấp trong 9 tháng đầu nă 1997 chiểm 19% Con số này chỉ là con số trung bình và hiển nhiên là không tính đến sự khác biệt rất lớn giữa các ngân hàng trong hoạt động tín dụng có kỳ hạn Tuy nhiên con số này cho phép nhận thấy rằng nhìn chung phần tín dụng có kì hạn vẫn còn thấp và các ngân hàng còn tra được tỷ lệ khoảng 20% tín dụng có

kỳ hạn trên tổng số tín dụng ngân hàng nhà nước yêu cầu Nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khá cao trong đó ngân hàng không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu đó

Bảng 2:Mức độ vay vốn từ ngân hàng

Mức độ vay

vồn từ ngân

hàng

Không vay

được từ ngân

hàng

<10% tổng số

DNVVN vay

được vốn

10% - 30%

cầu về vốn của

DNVVN

30% - 50%

cầu về vốn

Trang 6

của DNVVN

>50% cầu về

vốn của

DNVVN

Nguồn: UNIDO-MPI(1998)

Ta thấy số doanh nghiệp vừa và nhỏ vay được vốn qua các năm tăng lên nhưng còn rất chậm do các hình thức vay ngân hàng phải trải qua các thủ tục nghiêm ngặt, phiền hà và thế chấp chặt chẽ, phải có luận chứng cụ thế của phương án kinh doanh Trên thực

tế chỉ có khoảng 30% - 40% số chủ doanh nghiệp có yêu cầu như được như vậy Hơn nữa lãi suất vay vốn ngân hàng chưa có khuyến khích phát triển loại hình kinh doanh này

Trong khu vực kinh tế quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu chung cơ chế quản lý vốn của nhà nước:

Thứ nhất: Doanh nghiệp được giao vốn và bảo toàn vốn

Thứ hai: khả năng tạo vốn không được thông qua quỹ khấu hao cơ bản, qua lợi nhuận để lại trích quỹ phát triển

Thứ ba, vay ngân hàng: Khả năng ngân hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ quốc doanh chỉ có thể được thực hiện được nếu triển vọng doanh thu của doanh nghiệp cho phép trả nợ trong 2 – 3 năm

Vì vậy chỉ có một số rất ít có thể làm được trong mấy năm

Đối với ngân hàng quốc doanh:

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoản 70% khách hàng của các ngân hàng quốc doanh, phần tín dụng có kỳ hạn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ này nhận được có thế được đánh giá bằng

khoảng 15% toàn bộ các khoản tín dụng mà các ngân hàng này cung cấp Một trong các lý do giải thích hiện tượng tín dụng có kì hạn do các ngân hàng quốc doanh cấp không cao là ở chỗ các ngân hàng này không có đủ nguồn lực tài chính dài hạn Nhưng gần đây một số ngân hàng được giao quản lý “ nguồn tài trợ” do các đối tác nước ngoài cấp, do đó các ngân hàng sẽ có nguồn tài chình cần thiết để cấp tín dụng có kì hạn cho những khách hàng đáp ứng được một số điều kiện nhất định Các daonh nghiệp vừa và nhỏ sẽ

có cơ hội vay được nhiều vốn hơn

Đối với ngân hàng cổ phần:

Trang 7

Các ngân hàng này chủ yếu hướng hoạt động vào tín dụng ngắn hạn, Tuy nhiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó vay được nguồn vồn này do ít có tài sản thế chấp, hơn nữa vấn đề khó khăn cơ bản

mà các ngân hàng thường gặp phải đó là thiếu nguồn tài chính dài hạn, dẫn đến gây khó khăn cho việc đi vay

Đồi với ngân hàng liên doanh:

Hoạt động trong việc cấp tín dụng có kỳ hạn phần này chiềm trung bình khoảng 20% so với toàn bộ lượng tín dụng ngân hàng liên doanh cấp Tuy vậy, các ngân hàng này quan tâm nhiều đến khách hàng là những doanh nghiệp quốc doanh lớn và những doanh nghiệp liên doanh hay 100% vốn nước ngoài hơn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các khoản tìn dụng có kỳ hạn mà các ngân hàng này cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp quốc doanh nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân có quy mô tương đối lớn

Đối với ngân hàng nước ngoài:

Các khoản vay được ghi bằng ngoại tệ, cũng như ngân hàng liên doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hầu như không thể huy động được vốn từ nguồn này

2.2.1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn thuê mua tài chính Hiện nay có các công ty thuê mua tài chính được thành lập ở VIệt Nam:

Các công ty do những ngân hàng Việt Nam lập ra: 3 công ty có nguồn gốc tử Vietcombank, VBARD, BIDV

Các công ty liên doanh có : “ Vietnam International leasing

company Ltd” ( VILC) , “ VENA leasing company” ( VENA) ;

“Vietnam leasing company Ltd” (VLC)

Trong đó đối tác Việt Nam là: đối tác với VILC là incombank, đối tác VENA Trường Thành trading & series company LTD, các công

ty 100% vốn nước ngoài

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thế đề nghị các công ty này cho thuê động sản và bất động sản mà họ dự kiến kí hợp đồng với các công ty cho thuê tài chính và có sự hứa hẹn về bất động sản tùy theo tình hình Đây là hình thức cung cấp vốn rất có khả quan cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam ngay cả trong lĩnh vực nông

Trang 8

nghiệp doanh nghiệp sẽ có khả năng sử dụng vốn trong khi chưa có

đủ vồn và cam kết trả vồn lẫn lãi theo định kì đã thỏa thuận với công ty cho thuê tài chính Quy trình xét duyệt cho thuê tài chính được các công ty này quy định

Khó khăn trong khi thuê mua tài chình là:

+ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa quen thuộc với việc huy động nguồn vốn này

+ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đi thuê phải chịu một lãi suất cao ( bù phần khấu hao máy móc nguyên vật liệu)

+ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phải thuyết trình kế hoạch sản xuất cung cấp thông tin của doanh nghiệp cho các công ty thuê mua tài chính biết Đây chính là một hạn chế lớn đối với daonh nghiệp vừa và nhỏ tìm đến nguồn vốn này

2.1.2.3 Quỹ hỗ trợ phát triển

Hoạt động thông qua ngân hàng phục vụ người nghèo, quỹ tín dụng nhân dân, quỹ phát triển nông thôn, liên hiệp hợp tác xã, quy

hỗ trợ đầu tư quốc gia

Đến tháng 9 năm 1998 trong cả nước có gần 5 tỷ USD nhàn rỗi, hàng nghìn tỷ của quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia chưa được sử dụng, hàng chục nghìn ha đất, nhà xưởng chưa sử dụng Nhìn chung nguồn vốn chính thức này đáp ứng được 25,6% nghiên cứu vồn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Năm 1998 nghành ngân hàng giành tới 35% ( 4500 tỷ đồng) tổng dư nợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ song tỷ lệ này còn ở mức thấp Sau nghị định

43/1999/NĐ-CP ngày 29/06/1999 của chính phủ ra đời, Quỹ hỗ trợ phát triển đã đạt được một số kết quả khả quan như năm 2000 đã thẩm định gần 1000 dự án ký hơn 1300 hợp đồng tín dụng có giá trị hơn 6,800 tỷ đồng và giải ngân hơn 4,700 tỷ đồng, thức hiện cho vay lại 765 triệu USD bằng vốn ODA, bước đầu đã hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho 49 dự án với số tiền là 11,5 tỷ đồng.\

Tuy vậy, việc vay vốn từ nguồn này vẫn gặp những khó khăn còn tồn tại sau: đối tượng còn ở phạm vi hẹp nhất là đối với các doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố không trực thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn; về thế chấp ( bảo đảm tiền vay) cũng là yếu tố

mà các chủ đầu tư không thể khắc phục được, đó là chưa kể đến mức vay tối đa từ 50 – 70 % so với nhu cầu của dự án, chủ dự án

Trang 9

phải bỏ ra số còn lại thiếu quá nhiều nên lúng túng không biết xoay vào đâu Một khó khăn nữa đối với các doanh nghiệp DNVVN là thông tin, các chủ đầu tư không được tiếp xúc với các văn bản về

cơ chể tín dụng đầu tư phát triển, nói cách khác là không cơ quan nào phổ biến các nghị quyết, Nghị định các văn bản của nhà nước

về tín dụng đầu tư và phát triển; khó khăn còn đặc biệt hơn đối với các doanh nghiệp vì không có cơ quan cấp trên

2.1.2.4 Nguồn vốn phi chính phủ và chình phủ Hiện nay có nhiều tổ chức quốc tế như ILO, UNIDO, ZDH tổ chức phát triển HÀ Lan, việc Friedrich Erbert ( Đức, ESCAP ) rất quan tâm tới sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam cụ thể:

- Dự án VIE/98/MO2/SID giữa chính phủ VIệt Nam ( qua VCCi – phong thương mại và công nghiệp Việt Nam) với chính phủ Thụy Điển ILO có giá trị 1,7 triệu USD là dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Dự án “ Tài chình nông thôn”: dự án này với thời hạn dự kiến

là 4 năm được tài trợ nhờ một khoản vay 120 triệu Usd do “ Hiệp hội phát triển quốc tế” ( IDA) cấp cho nhà nước Việt Nam, Mục đích của dự án là hỗ trợ những cố gắng của chình phủ Việt Nam trong cải thiện đời sống tại các vùng nông thôn

Để làm được điều đó các mục tiêu được đề ra như sau:

+ Khuyến khích đầu ở khu vực tư nhân + Tăng cường khả năng tài trợ cho đầu tư thuốc nhóm tư nhân + Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo taijcacs vùng nông thôn

Qua góc độ mà chúng ta quan tâm, dự án này thể hiện dưới một hình thức một nguồn tài trợ trị giá 100tr USD gọi là quỹ phát triển nông thôn quỹ này dùng để tài trợ cho các khoản vay ngân hàng ngắn, trung và dài hạn do các ngân hàng trong nước cấp cho các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nỏ tại vùng nông thôn

- Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SMDF) dự án này

có thời gian 3 năm do cộng đồng Châu Âu tài trợ mục tiêu của

dự án này là giúp đỡ VIệt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Để thực hiện được mục tiêu này nhiều hoạt động được để ra nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân vừa và nhỏ trong 24 tỉnh thành nhằm tăng cường phát triển kinh tế xa hội đặc biệt

Trang 10

là là tạo công ăn việc làm dự án cso một quỹ tài chình khoản

25 tr USD để tài trợ một phần dành cho các khoản vay có kì hạn mà nhiều ngân hàng trong nước được tham gia cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng đủ nhu cầu

- nguồn tài trợ Mê Kong (MLF) đây là nguồn tài trợ trị giá 5 tr USD do công ty tài chính quốc tế (SFI) trực tiếp vận hành và quản lysm là một trong những công ty của ngân hàng thế giới quản lý và hỗ trợ thành lập quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.3 Nguồn vốn phi chính thức(PCT)

Ỏ Việt Nam có các hình thức huy độn vốn PCT như: Vay nhân thân bạn bè, người quen, nhân viên trong daonh nghiệp, cầm cố tài sản, vay người cho vay chuyên nghiệp, ứng trước vốn bằng bán non, ứng trước hàng hóa nguyên vật liệu

Ngày đăng: 15/05/2016, 08:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu vốn của các DNVVN ở một số tỉnh - bai nhom kinh te 2015
Bảng 1 Cơ cấu vốn của các DNVVN ở một số tỉnh (Trang 3)
Bảng 2:Mức độ vay vốn từ ngân hàng. - bai nhom kinh te 2015
Bảng 2 Mức độ vay vốn từ ngân hàng (Trang 5)
w