1. tăng trưởng kinh tế việt nam theo đầu vào. thước đo tăng trưởng kinh tế. 2. thực trạng tăng trưởng kinh tế việt nam phân tích thực trạng đánh giá 3. giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quan điểm, định hướng, mục tiêu. giải pháp
Trang 1PHẦN 1: KHUNG LÍ THUYẾT ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ THEO THỜI GIAN.
I Tăng trưởng kinh tế và các thước đo tăng trưởng kinh tế.
1 Tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập(hiện vật hoặc giá trị) bình quân đầu người trong một thời gian nhất định
- Mức tăng trưởng: ΔYt = Yt – Yt-1 Cho biết tăng trưởng nhiều hay ít
- Tốc độ tăng trưởng: g= ΔY/Y (%) Cho biết tăng trưởng nhanh hay chậm, nước đang phát triển > nước phát triển
2 Các thước đo tăng trưởng kinh tế
1) (GO – Gross output) Tổng giá trị sản xuất.
Tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia trong một thời gian nhất định
GO =
2) GDP (Gross domestic product) Tổng sản phẩm quốc nội.
- GDP là tổng giá trị vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm
vi lãnh thổ một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định
- Tính GDP từ góc độ sản xuất: GDP = VA= GO-IC
- GDP tính từ góc độ chi tiêu: GDP = C+G+I+NX
- GDP tính từ góc độ thu nhập: GDP = W+R+In+Pr+Dp+Ti
- Lưu ý khi tính GDP:
+ Chỉ tính những sản phẩm được đem ra trao đổi
+ Không tính những sản phẩm tự cung tự cấp
+ Có một số sản phẩm không được đem ra trao đổi nhưng vấn được ước tính theo giá thị trường
+ Khi tính vào GDP, chỉ tính thời điểm sản xuất chứ không tính thời điểm mua bán hàng hóa trên thị trường
3) GNI ( Gross national income ) Tổng thu nhập quốc dân.
- GNI là tổng giá trị vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân một nước tạo nên trong một thời kỳ nhất định
- GNI= GDP+chênh lệch thu nhập với nhân tố nước ngoài
= GDP+(thu từ yếu tố nước ngoài – chi trả yếu tố nước ngoài)
4) NI (National Income ) Thu nhập quốc dân.
- NI là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định
- NI = GNI- Dp
5) NDI (National disposable income ) Thu nhập quốc dân sử dụng.
- NDI là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy trong một thời kì nhất định
- NDI= NI + chênh lệch chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài
II Tăng trưởng kinh tế theo đầu vào.
Trang 2AS1
Y1 Y0
PL0 PL1
1 Các yếu tố có tác động đến tăng trưởng kinh tế.
1) Quan điểm truyền thống.
- Hàm sản xuất tổng quát có dạng:
Y = F(K,L,R,T)
K – vốn:
- Yếu tố vật chất đầu vào quan trọng tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế
- Là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng, các trang bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào khác
- Nước đang phát triển sự đóng góp của K vào tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất => tăng trưởng theo chiều rộng nhưng có xu hướng giảm dần
L – lao động:
- Yếu tố vật chất đầu vào, được tính bằng số lượng dân số nguồn lao động của mỗi quốc gia (tính bằng đầu người hoặc thời gian lao lao động)
- Yếu tố phi vật chất (vốn nhân lực): lao động có kỹ năng sản xuất, có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, có sáng kiến, phương pháp mới trong hoạt động kinh tế
- Ở các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động Yếu tố vốn nhân lực có vị trí chưa cao
R – tài nguyên, đất đai:
- Đất là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, yếu tố không thể thiếu trong việc bố trí các cơ sở kinh tế thuộc các ngành công nghiệp, dịch vụ
- Tài nguyên thiên nhiên từ lòng đất, rừng, không khí, biển chia ra làm: tài nguyên vô hạn
và không thể thay thế, tài nguyên có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo
T – công nghệ kỹ thuật:
- Nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng kinh tế trong điều kiện hiện đại
- Thứ nhất: đó là những thành tựu kiến thức
- Thứ hai: đó là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thực nghiệm vào thực tế
2) Quan điểm hiện đại.
Y = F( K, L, TFP )
- K, L là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng
- TFP là yếu tố phi vật chất, yếu tố trưng trưởng theo chiều sâu
2 Phân tích tác động các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố K, L, R, T (TRF) tác động trực tiếp đến tổng cung
- Điểm cân bằng ban đầu nền kinh tế là: E0 với mức thu nhập Y0, mức giá chung LP0
- Một trong các yếu tố K, L, R, T (TFP) thay đổi theo chiều hướng tăng, chẳng hạn K tăng thì => Tổng cung tăng lên và đường AS0 dịch chuyển xuống dưới về phía bên trái sang đường AS1
- Với giả thiết các yếu tố khác không đổi, điểm cân bằng E0 sẽ dịch xuống đường E1, (Y1>Y0, PL1<PL0) tức là mức thu nhập tăng lên, mức giá cả chung giảm đi
( K, L, R, T (TRF) thay đổi theo chiều hướng giảm thì ngược lại)
Trang 3- Nếu sử dụng giải pháp tăng tổng cầu để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, thì hệ quả phụ là: mức giá cả chung có xu hướng tăng lên => tỷ lệ lạm phát có xu hướng tăng
PHẦN 2: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
2011- 2015
I Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2011 – 2015
1 Theo thời gian
Giai đoạn 2011-2015, kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn do những vấn đề nội tại của nền kinh tế và chịu tác động không nhỏ của sự suy thoái kinh tế toàn cầu Trong hai năm 2011-2012, tăng trưởng kinh tế liên tiếp sụt giảm, từ mức 6,42% năm 2010 xuống còn 6,24% trong năm 2011 và 5,25% trong năm 2012
Từ năm 2013 cho đến 2015, với nỗ lực điều hành chính sách, tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế đồng thời nhờ những tác động tích cực của sự phục hồi kinh tế thế giới, kinh tế trong nước bắt đầu có sự cải thiện đặc biệt ghi nhận mức tăng trưởng đột phá trong năm 2015, đạt 6,68%, vượt 0.48 điểm phần trăm so với kế hoạch đề ra Mặc dù vậy, mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2015 cũng không đủ để kéo tăng trưởng cả giai đoạn 2011-2016 lên mức cao hơn giai đoạn trước đó (2006-2010)
Xem xét tăng trưởng giữa các lĩnh vực trong nền kinh tế cho thấy, khu vực công nghiệp, xây dựng đã dần lấy lại đà tăng trưởng cao trong khi sự cải thiện tăng trưởng khu vực dịch vụ có dấu hiệu chậm lại, riêng khu vực nông, lâm, thủy sản tăng trưởng có dấu hiệu giảm sút
Trang 4Trong giai đoạn 2011-2013, khu vực dịch vụ với mức tăng trưởng cao nhất trong ba khu vực, bình quân 6,7%/năm, đã giữ vai trò là động lực cho tăng trưởng chung Trong khi đó, khu vực CNXD gặp phải nhiều khó khăn và sụt giảm tăng trưởng
Đặc biệt, tăng trưởng của ngành xây dựng xuống mức (-0,6%) trong năm 2011 và công nghiệp chế biến chế tạo ở mức (-0,2%) trong năm 2013, ngược lại, trong những năm gần đây 2014-2015, tăng trưởng của khu vực dịch vụ lại cải thiện chậm
Trong khi đó, nhờ những chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất và sự cải thiện của tổng cầu, khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng trưởng mạnh mẽ, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2015, đạt 9,64% so với cùng kỳ và trở thành khu vực dẫn dắt tăng trưởng của toàn nền kinh tế
Cũng giống như khu vực CNXD, khu vực nông lâm thủy sản cũng chứng kiến sự sụt giảm tăng trưởng liên tiếp trong năm 2011-2013, từ mức 4,02% năm 2011 xuống 2,64% năm
2013, sau đó cải thiện nhẹ trong năm 2014 nhưng quay lại xu hướng sụt giảm ngay trong năm 2015
Cả giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng của khu vực NLTS đạt khoảng 3,05%, thấp hơn mức 3,53% của giai đoạn 2006-2010 Tính chung cả giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng bình toàn nền kinh tế đạt 5,91%, thấp hơn so với mức 7,01% của giai đoạn 2006-2010, đồng thời cũng không đạt được kế hoạch tăng trưởng 6,5-7% như mục tiêu kế hoạch
Biểu đồ: tăng trưởng GDP theo ngành, %, giá 2010
Trang 5Tăng trưởng toàn nền kinh tế qua các giai đoạn, % so với cùng kì (Đơn vị: %)
Nguồn: Tổng cục thống kê
2 Theo không gian
Tăng trưởng kinh tế phục hồi chậm so với một số nước trong khu vực trong giai đoạn hậu khủng hoảng Một vấn đề đáng lo ngại khác là so sánh với nhiều quốc gia trong khu vực, Việt Nam có tốc độ phục hồi kinh tế chậm hơn trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới (2011-2013) Tốc độ tăng trưởng của các nước như Myanmar, Campuchia, Philippines, Lào đã liên tục ở mức cao hơn so với cùng kỳ Indonesia giảm tốc độ tăng trưởng trong năm 2012 cũng giống như Việt Nam nhưng mức độ sụt giảm của nước này thấp hơn rất nhiều so với Việt Nam (tăng trưởng của Indonesia ở mức 6,03% trong năm 2012, thấp hơn gần 0,2 điểm % so với cùng
kỳ năm 2011, trong khi đó tăng trưởng Việt Nam cũng trong năm này đã giảm gần 1 điểm % so với cùng kỳ)
Trong giai đoạn gần đây (2014-2015), tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dần cải thiện nhưng mức tăng vẫn còn thấp hơn một số nước như Campuchia, Lào, Philippines
Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á
Năm
Việt Nam 7,01 6,24 5,25 5,42 5,98 6,68
Nguồn: IMF World Economic Outlook (WEO)
II Tăng trưởng kinh tế theo đầu vào 2011 -2015
Trang 6Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa trên tăng Vốn, đóng góp từ lao động vào TFP (năng suất các yếu tố tổng hợp) còn hạn chế trong khi Việt Nam có lợi thế về lao động hơn là lợi thế về vốn Yếu tố trình độ công nghệ, chất lượng lao động, trình độ quản lý cải thiện chưa đáng kể
Giai đoạn 2011-2015, hiệu quả tăng trưởng kinh tế thấp, khi TFP đóng góp vào tăng trưởng GDP chỉ là 28,94%, vốn đóng góp 51,28% và lao động đóng góp 19,78%
1 Vốn:
Khởi đầu giai đoạn 2011-2015, để khắc phục những bất cập trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư theo phương thức cũ, việc tái cơ cấu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công đã được thông qua Qua hơn 3 năm thực hiện, quá trình tái cơ cấu đầu tư công bước đầu đã có chuyển biến tích cực,
tỷ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng giảm dần Về cơ bản, các chính sách đã góp phần bước đầu khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải, thất thoát lãng phí; nâng cao hiệu quả đầu tư
Xét về cơ cấu vốn đầu tư, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước tăng nhanh trong giai đoạn 2011-2013, từ mức 36,9% năm 2011 lên mức 40,4% năm 2013, thế nhưng lại có
sự giảm sút trong 2 năm tiếp theo, tuy nhiên vẫn đạt mức cao hơn so với năm 2011 Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng nhanh, nguyên nhân chủ yếu là do việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước; nhiều cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh và thành lập mới Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định nhưng nhìn chung có xu
Nguồn tổng cục thống kê
Trang 7hướng tăng dần Trong đó, đáng chú ý, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, vốn FDI giải ngân giai đoạn 2011-2015 vẫn duy trì ở mức khoảng 10,5-12 tỷ USD (trong đó năm 2015 đã tăng mạnh lên mức 14,5 tỷ USD)
Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu đầu tư công có tốc độ triển khai chậm và hiệu quả chưa đạt kỳ vọng đặt ra Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước vẫn ở mức cao (bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt khoảng 39,1%) Trong đó, vốn từ NSNN tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất Riêng năm 2015, vốn từ NSNN tăng cao hơn so với các năm trước do tính bổ sung thêm 30.000 tỷ đồng giai ngân vốn nước ngoài nguồn ngân sách nhà nước theo các hiệp định đã ký kết với các nhà tài trợ và tiến độ thực hiện Vốn tín dụng nhà nước cũng tăng nhanh trong những năm gần đây
Nguồn tổng cục thống kê
Trang 82 Lao động
Năng suất lao động Việt Nam còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng còn hạn chế Năm
2011, năng suất lao động bình quân của Việt Nam theo giá thực tế mới đạt khoảng 2.400 USD/người, thấp hơn rất nhiều so với mức năng suất lao động năm 2005 của nhiều nước trong khu vực Cụ thể, con số tương ứng lần lượt là Indonesia 2.650 USD, Philipines 2.689 USD, Thái Lan 2.721 USD, Singapore 48.162 USD, Brunei 51.500 USD, Nhật Bản 70.237 USD, Trung Quốc 2.869USD, Malaysia 12.571USD, Hàn Quốc 33.237USD… Năm 2012 năng suất lao động
xã hội (GDP/LĐ), giá hiện hành đạt 63,11 triệu đồng; năm 2013: 68,65 triệu, năm 2014: 74,66 triệu và năm 2015 đạt khoảng 83,81 triệu đồng, còn thấp hơn nhiều lần so với các nước trong khu vực
3 TFP
TFP đang có tỷ lệ đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế Nếu như các giai đoạn trước, đóng góp của tăng TFP vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thường dưới 20%, thì
từ năm 2011 đến 2014, tốc độ tăng TFP ngày càng nhanh, đóng góp của tăng TFP của năm sau tăng nhanh hơn năm trước, bình quân giai đoạn 2011 – 2014, tốc độ tăng của TFP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế khoảng trên 27%
Nguồn tổng cục thống kê
Trang 9III Đánh giá
1 Những điểm hợp lí
Tăng trưởng kinh tế trong 5 năm 2011-2015 đạt tỷ lệ thấp (bình quân chỉ tăng 5,52%/năm) nhưng trong điều kiện cụ thể với tình hình kinh tế thế giới trì trệ thì đây là mức tăng trưởng thành công của nước ta
Kinh tế có dấu hiệu phục hồi vào năm 2013 và có thể tạo đà tăng trưởng cho những năm tiếp theo Năm 2013, Chính phủ thực hiện quyết liệt tái cơ cấu nền kinh tế; Tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước; Xử lý nợ doanh nghiệp, nợ xấu của các ngân hàng thương mại đã đạt được những kết quả khả quan Đáng chú ý, kết thúc năm 2013, tổng số các goanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 76.955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so với năm 2012 Qua đó có thể thấy, đã có dấu hiệu của sự phục hồi kinh tế, đây là tiền đề tạo đà tăng trưởng trong hai năm cuối của kế hoạch 2011- 2015
2 Những điểm bất hợp lí
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm (2011 – 2015) chỉ đạt 5,52% so với chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI là 7,0 - 7,5% và Nghị quyết số 01/2011 của Quốc hội khóa VIII điều chỉnh mức tăng trưởng là 6,5- 7,0%/ năm thì mức tăng trưởng trên còn thấp hơn rất nhiều
Giá trị gia tăng của ba ngành kinh tế cơ bản là ngành Công nghiệp, Xây dựng và Dịch vụ trong những năm qua còn quá thấp so với chỉ tiêu đề ra: Giá trị gia tăng bình quân trong 3 năm của ngành Công nghiệp, Xây dựng đạt 5,9%/năm, trong khi chỉ tiêu kế hoạch là 7,8 – 8%/năm Cùng với đó, ngành dịch vụ tăng bình quân là 6,59%/năm so với chỉ tiêu kế hoạch là 7,8 – 8%/năm Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 là 5,25%, không những thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch mà còn là năm có mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 14 năm qua
3 Nguyên nhân bất hợp lí
Trang 10Thứ nhất, từ cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009 đến nay, kinh tế thế giới vẫn sụt giảm, tăng trưởng chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam
Thứ hai, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta chậm được hoàn thiện; Nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, chưa tạo ra được môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh; Còn tồn tại cơ chế “xin – cho”; Cải cách hành chính chậm và còn nhiều hạn chế, thủ tục hành chính rườm rà, tiêu cực còn lớn Đặc biệt là nạn tham nhũng chưa được đẩy lùi, vẫn còn lãng phí lớn trong chi tiêu công
Thứ ba, quản lý nhà nước về kinh tế đạt hiệu quả chưa cao Chưa tập trung được các nguồn lực, chưa phát huy được các tiềm năng của nền kinh tế; quản lý kinh tế vĩ mô chưa hiệu quả; Nhiều chính sách nhưng tính thực tiễn chưa cao; Chưa có những giải pháp, chính sách ứng phó linh hoạt, kịp thời với những tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Thứ tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước
Thứ năm, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng năm 2012 tăng bình quân 3,91%/tháng, năm
2013 có giảm nhưng vẫn ở mức 2,52%/tháng Năm 2012, nợ xấu đạt 8,82% tổng mức tín dụng của nền kinh tế, tương đương khoảng 250.000 tỷ đồng
Thứ sáu, nợ công tăng cao, đầu tư toàn xã hội giảm Nợ công Việt Nam tăng dần qua các năm và là một trong những quốc gia có mức nợ công cao của châu Á Năm 2011, tỷ lệ nợ công
so với GDP là 54,9%, giảm 0,9% so với năm 2010 (56,8%), nhưng năm 2012 tỷ lệ nợ công đã đạt mức 55,7% và năm 2013 là 56,2% ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế
PHẦN 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VIỆT NAM
I Quan điểm, định hướng, mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến
2020
1 Quan điểm