Ví dụ giá trị sử dụng của vải là để may quần áo, của gạo là để ăn, của điện thoại là để liên lạc… Một hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng khác nhau phụ thuộc vào thuộc tính
Trang 1Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 1
PHẦN THỨ HAI
1 Khái niệm, điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế, khuyết tật của sản xuất hàng hóa
Khái niệm: Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để
trao đổi hoặc mua bán trên thị trường
Điều kiện ra đời: Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện:
- Phân công lao động xã hội (LĐXH): là sự phân chia LĐXH thành các ngành, nghề khác nhau tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất, mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định Để đáp ứng nhu cầu của mình, những người sản xuất phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau Như vậy phân công LĐXH là cơ sở, tiền đề của sản xuất hàng hóa Tuy nhiên phân công LĐXH mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại Muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai
- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất (TLSX), đã xác định người sở hữu TLSX là người sở hữu sản phẩm lao động
Sự tách biệt về kinh tế làm cho những người sản xuất độc lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công LĐXH, vì vậy họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng Người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi mua bán hàng hóa Vì vậy, sản xuất hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội nối liền những người sản xuất vừa phụ thuộc lại vừa độc lập với nhau
Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa:
Thứ nhất, mục đích của sản xuất hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của người khác, của thị trường Vì vậy, sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ hai, sản xuất hàng hóa luôn đặt trong môi trường cạnh tranh gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ đưuọc hàng hóa và gia tăng lợi nhuận Cạnh tranh thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
Thứ ba, sản xuất hàng hóa gắn liền sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở”, các mối quan hệ hàng - tiền, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
Thứ tư, sản xuất hàng hóa gắn với phân công lao động qua đó thúc đẩy chuyên môn hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Bên cạnh đó, sản xuất hàng hóa cũng có những hạn chế nhất định như phân hóa giàu – nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá hoại môi trường sinh thái
Trang 2Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 2
2 Khái niệm hàng hóa, hai thuộc tính của hàng hóa và mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa - Phân tích tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Khái niệm: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định
nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có ở dạng vật thể (hữu hình: lương thực, máy móc…) hoặc phi vật thể (vô hình: dịch vụ vận tải, dịch vụ chữa bệnh…)
Hai thuộc tính của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Ví dụ giá trị sử dụng của vải là để may quần áo, của gạo là để ăn, của điện thoại là để liên lạc… Một hàng hóa có thể có một hay nhiều giá trị sử dụng khác nhau phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên của nguyên vật liệu và trình độ KH-KT sản xuất hàng hóa
Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải Vì thế giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn Trong kinh tế học, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Giá trị là phạm trù lịch sử, gắn liền với sản xuất hàng hóa
Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện
ra bên ngoài của giá trị hàng hóa và khi tiền tệ ra đời nó biểu hiện ra bằng tiền gọi là giá cả
Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa:
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, sự thống nhất của hai mặt đối lập
Sự thống nhất thể hiện ở chỗ: bất kỳ một vật nào khi trở thành hàng hóa đều phải có đủ cả hai thuộc tính trên, nếu thiếu một trong hai thuộc tính thì vật không phải hàng hóa
Sự đối lập và mâu thuẫn thể hiện ở chỗ: người làm ra hàng hóa đem bán chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa do mình làm ra, nếu họ có chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để có được giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa Nhưng muốn có giá trị sử dụng để tiêu dùng thì người mua phải trả giá trị cho người sản xuất hàng hóa Như vậy, quá trình thực hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng: giá trị được thực hiện trước, giá trị sử dụng được thực hiện sau
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
Lao động cụ thể là lao động có ích được hao phí dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định Nó có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương pháp riêng và kết quả riêng Toàn bộ lao động cụ thể hợp thành sự phân công LĐXH Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn không thể thiếu được trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào Trong việc hình thành nên giá trị của hàng hóa, lao động cụ thể bảo tồn giá trị tư liệu sản xuất và di chuyển giá trị tư liệu sản xuất (còn gọi là giá trị cũ) vào trong hàng hóa
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa nếu không kể hình thức cụ thể
của nó như thế nào Nó là lao động chung đồng nhất của người sản xuất hàng hóa Trong việc hình thành nên giá trị của hàng hóa, lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới, giá trị mới này cùng
Trang 3Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 3
với giá trị tư liệu sản xuất hình thành nên giá trị tư liệu sản xuất dã hao phí và giá trị mới Lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong điều kiện sản xuất hàng hóa khi cần phải
so sánh các loại lao động khác nhau
3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa Cấu thành lượng giá trị hàng hóa
Thước đo lượng giá trị hàng hóa: Thời gian LĐXH cần thiết là thời gian cần thiết để sản
xuất ra hàng hóa với một trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội lúc bấy giờ Thông thường thời gian LĐXH cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: năng suất lao động, cường độ lao động
và tính chất của lao động
+ Năng suất lao động xã hội có ảnh hưởng đến giá trị của một hàng hóa Năng suất lao động càng cao thì sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian càng nhiều, do đó giá trị của một hàng hóa càng thấp Đó là vì thời gian LĐXH cần thiết kết tinh trong một đơn vị sản phẩm ít hơn trước Như vậy lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh
và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
+ Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đến lượng giá trị hàng hóa Cường độ lao động là mức độ khẩn trương của lao động Khi tăng cường độ lao động thì lượng lao động hao phí trong một đơn vị thời gian và lượng sản phẩm cũng tăng lên tương ứng, cho nên lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm không đổi
+ Tính chất của lao động: lao động giản đơn và lao đọng phức tạp:
- Lao động giản đơn là lao động không lành nghề, không đòi hỏi phải có sự đào tạo nào đó
- Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải có sự đào tạo, huấn luyện ở một trình độ nhất
định Nó là bội số của lao động giản đơn, tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn
Trong quá trình trao đổi hàng hóa, người ta quy đổi moi lao động phức tạp thành hình thức lao động giản đơn trung bình của xã hội Theo Mác, đó là lao động khai thác ra vàng, bạc đóng vai trò là tiền
Vậy, lượng giá trị xã hội của hàng hóa được đo bằng thời gian LĐXH cần thiết giản đơn, trung bình
Cấu thành lượng giá trị hàng hóa:
Giá trị hàng hóa: W= c + v + m
Bộ phận c là giá trị của tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm hàng hóa (Gtrị cũ)
Bộ phận v + m là hao phí lao động sống trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa (gọi là giá trị mới)
Trang 4Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 4
4 Trình bày nội dung của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa và sự biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản
Nội dung quy luật giá trị: Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí LĐXH cần
thiết
Sự biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản: biểu
hiện thành quy luật giá cả sản xuất Giá cả sản xuất = chi phí sản xuất + lợi nhuận bình quân
5 Khái niệm tư bản bất biến, tư bản khả biến Trình bày căn cứ và ý nghĩa phân chia tư bản thành TBBB và TBKB
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo toàn và
chuyển vào sản phẩm, tức là không thay đổi về lượng giá trị của nó Kí hiệu là c Tư bản bất biến
là điều kiện để sản xuất ra giá trị thặng dư
Tư bản khả biến là bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông
qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên về lượng Kí hiệu là v Tư bản khả biến là bộ phận trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư
Căn cứ phân chia: Dựa vào vai trò khác nhau của các bộ phận của tư bản trong quá trình
sản xuất ra giá trị thặng dư, tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính
là bộ phận tư bản đã lớn lên
Ý nghĩa phân chia: Việc phân chia tư bản thành TBBB và TBKB vạch rõ bản chất bóc lột
của tư bản đối với lao động làm thuê, nó chỉ rõ tư bản khả biến là bộ phận trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Khái niệm tư bản cố định, tư bản lưu động Trình bày căn cứ và ý nghĩa phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động
Tư bản cố định: là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
v.v…, tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong thời gian sản xuất
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất Có hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Tư bản lưu động: là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật
liệu phụ,… sức lao động, giá trị của nó được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi một quá trình sản xuất, khi hàng hóa được bán xong
Tư bản lưu động thường chiếm tỷ lệ thấp hơn so với tư bản cố định trong các ngành sản xuất, nhưng tốc độ chu chuyển có nó thường nhanh hơn tư bản cố định
Căn cứ phân chia: là phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản
này trong quá trình sản xuất Tư bản cố định chuyển giá trị dần dần, từng phần một vào trong sản phẩm mới, còn tư bản lưu động thì chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm mới sau một quá trình sản xuất
Trang 5Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 5
Ý nghĩa phân chia: Đây là sự phân chia khoa học mang tính chất quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng của tư bản
Tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên, tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do
tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra, có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh
Việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác, tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm tăng lên
6 Hãy cho ví dụ về một hàng hóa đặc biệt và giải thích vì sao nó là hàng hóa đặc biệt Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt?
Tiền tệ là hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như các loại hàng hóa khác Và nó là hàng hóa đặc biệt vì nó không phải là sản phẩm trực tiếp của quá trình lao động của con người, đồng thời tiền là thước đo giá trị của các loại hàng hóa khác
Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu của nó
7 Nếu nhà tư bản trả tiền công đúng với giá trị sức lao động thì họ có bóc lột giá trị thặng dư không? Vì sao?
Họ có bóc lột giá trị thặng dư vì bên cạnh thuộc tính giá trị sức lao động còn có giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt
vì nó mới chính là nguồn gốc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho các nhà tư bản Nếu nhà tư bản trả tiền công đúng với giá trị sức lao động thì họ vẫn có bóc lột giá trị thặng dư ở phần giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, cái đã tạo nên giá trị thặng dư
8 Giá trị của hàng hóa sức lao động có điểm gì khác biệt so với giá trị của hàng hóa thông thường?
Lượng giá trị hàng hóa thông thường được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa Giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp qua giá trị của hàng hóa, dịch vụ
để sản xuất, trừ sản xuất sức lao động
Giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần, lịch sử
9 Nêu khái niệm giá trị thặng dư Trình bày phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
và tương đối trong chủ nghĩa tư bản
Khái niệm giá trị thặng dư: Là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuất giá tri ̣ thă ̣ng dư do kéo dài
thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao đô ̣ng xã hô ̣i, giá
tri ̣ sức lao đô ̣ng và thời gian lao đô ̣ng tất yếu không thay đổi
Sản xuất giá trị thặng dư tuyê ̣t đối còn bằng cách tăng cường đô ̣ lao đô ̣ng, vì tăng cường đô ̣ lao đô ̣ng cũng giống như kéo dài ngày lao đô ̣ng
Trang 6Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 6
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá tri ̣ thă ̣ng dư do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách ha ̣ thấp giá tri ̣ sức lao đô ̣ng, nhờ đó thời gian lao đô ̣ng thă ̣ng
dư làm tăng giá tri ̣ thă ̣ng dư trong khi đô ̣ dài ngày lao đô ̣ng không thay đổi
Muốn ha ̣ thấp giá trị sức lao đô ̣ng phải làm giảm giá tri ̣ các tư liê ̣u sinh hoạt bằng cách tăng năng suất lao động xã hội ở các ngành sản xuất ra tư liê ̣u sinh hoa ̣t hoă ̣c ở ngành sản xuất ra tư
liê ̣u sản xuất để sản xuất ra tư liê ̣u sinh hoa ̣t đó
Phương pháp sản xuất giá tri ̣ thă ̣ng dư tuyê ̣t đối đươ ̣c áp du ̣ng phổ biến trong điều kiê ̣n khoa
ho ̣c kỹ thuâ ̣t còn ở trı̀nh đô ̣ thấp, khi khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t phát triển thı̀ phương pháp sản xuất giá tri ̣ thă ̣ng dư tương đối là chủ yếu
10 Giá trị thặng dư siêu ngạch là gì? Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối?
GTTD siêu nga ̣ch là phần giá tri ̣ thă ̣ng dư thu trô ̣i hơn giá tri ̣ thă ̣ng dư bình thường nhờ giá
tri ̣ cá biê ̣t của hàng hóa thấp hơn giá tri ̣ xã hô ̣i
Nói GTTD siêu ngạch là hình thức biến tướng của GTTD tương đối vì chúng đều giống
nhau về phương pháp sản xuất, đó là đều dựa vào tăng năng suất lao động GTTD tương đối dựa trên việc tăng NSLĐ xã hội, còn GTTD siêu ngạch dư ̣a trên cơ sở tăng năng suất lao đô ̣ng cá biê ̣t cao hơn năng suất lao đô ̣ng xã hô ̣i Mặt khác, NSLĐ xã hội thường xuyên tăng lên do sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, làm cho NSLĐ cá biệt thường chuyển hóa thành NSLĐ xã hội nên GTTD siêu ngạch có thể chuyển hóa thành GTTD tương đối
11 Hãy so sánh điểm giống và khác nhau giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản?
* Giống nhau: đều là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt
* Khác nhau:
Nguồn Giá trị thặng dư Giá trị cá biê ̣t
Phản ánh Mối quan hê ̣ của TB và lao đô ̣ng Quan hê ̣ ca ̣nh tranh trong nô ̣i bô ̣ nhà TB Tác đô ̣ng Làm tăng tổng tư bản xã hội Không làm tăng tổng tư bản xã hội
12 So sánh chi phí sản xuất TBCN với chi phí sản xuất thực tế
Về chất:
- Chi phi thực tế là chi phí lao động, phản ánh đầy đủ hao phí lao động cần thiết để tạo ra giá trị hàng hóa
- Chi phí sản xuất TBCN là chi phí về tư bản, phản ánh hao phí về tư bản cần bỏ ra để chuẩn bị sản xuất, nó không tạo ra giá trị thặng dư
Về lượng: chi phí sản xuất TBCN luôn nhỏ hơn chi phí thực tế k=(c+v) < (c+v+m)
Trang 7Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 7
Hơn nữa chi phí sản xuất TBCN lại không tạo ra giá trị thặng dư, nên phạm trù chi phí sản xuất TBCN không những che đậy thực chất bóc lột TBCN mà còn tạo ra sự nhầm tưởng chi phí sản xuất TBCN (k) mới là nguồn gốc của lợi nhuận
13 Lợi nhuận là gì? Hãy so sánh lợi nhuận với giá trị thặng dư
Lợi nhuận: Giữa giá tri ̣ hàng hóa và chi phí sản xuất TBCN có sư ̣ chênh lê ̣ch về lươ ̣ng, nên sau
khi bán hàng nhà TB đã bù đắp đủ TB ứng ra và thu đươ ̣c số tiền lớn ngang bằng giá tri ̣ thă ̣ng
dư go ̣i là lơ ̣i nhuâ ̣n ký hiê ̣u là p
So sánh:
* Giống nhau: cả lợi nhuận và giá trị thặng dư đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân
* Khác nhau: có sự khác nhau về lượng và chất
+ Về lươ ̣ng: Nếu giá cả = giá tri ̣ thì m = p
Nếu giá cả < giá tri ̣ thì p < m Nếu giá cả > giá tri ̣ thì p > m + Về chất: Giá tri ̣ thă ̣ng dư là nô ̣i dung bên trong, do lao đô ̣ng không công của công nhân ta ̣o ra,
lợi nhuận là biểu hiê ̣n bên ngoài của giá tri ̣ thặng dư, đươ ̣c xem là con đẻ của toàn bô ̣ TB ứng
trước
14 Tỷ suất lợi nhuận là gì? Hãy so sánh tỷ suất lợi nhuận với tỷ suất giá trị thặng dư?
Tỷ suất lợi nhuận: là tỷ lê ̣ phần trăm giữa tổng giá tri ̣ thă ̣ng dư m (nếu p = m) và toàn bô ̣ tư bản
ứng trước (k = c+v); ký hiê ̣u p’ = p / (c + v) x 100% = m /(c + v) x 100%
So sánh: Có sự khác nhau về chất và lượng
+ Về lươ ̣ng: tỷ suất lơ ̣i nhuâ ̣n luôn luôn nhỏ hơn tỷ suất giá tri ̣ thă ̣ng dư (p’ < m’ vì m’ = m / v) + Về chất: tỷ suất lơ ̣i nhuâ ̣n phản ánh mức doanh lơ ̣i của doanh nghiê ̣p còn tỷ suất giá tri ̣ thă ̣ng
dư phản ánh mức đô ̣ bóc lô ̣t của tư bản đối với lao đô ̣ng
15 Phân biệt tư bản ngân hàng với tư bản cho vay Tại sao nói tư bản cho vay là tư bản được sùng bái nhất trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản?
Phân biệt:
- Tư bản cho vay là tư bản tiềm thế, tư bản tài sản, là tư bản không hoạt động Vì vậy tư bản cho vay không tham gia vào quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận Lợi tức – thu nhập của tư bản cho vay chỉ là một phần của lợi nhuận bình quân
- Tư bản ngân hàng là tư bản chức năng, tư bản hoạt động nên tư bản ngân hàng cũng có tham gia vào quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận Trong tự do cạnh tranh, lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng lợi nhuận bình quân
Nói tư bản cho vay là tư bản được sùng bái nhất trong giai đoạn tự do cạnh tranh của CNTB vì: Tư bản cho vay hoạt động theo công thức T- T’, trong đó T’ = T + z Theo đó sự vận động
Trang 8Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 8
của tư bản cho vay chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa nhà tư bản cho vay và nhà tư bản đi vay, tiền
đẻ ra tiền Do đó, quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được che giấu một cách kín đáo nhất, tư bản cho vay trở nên thần bí và được sùng bái nhất
16 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa? Phân biệt địa tô tư bản chủ nghĩa với địa tô phong kiến
Bản chất địa tô TBCN: Đi ̣a tô TBCN là phần GTTD còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi
nhuận bình quân mà các nhà TB kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho đi ̣a chủ
Đi ̣a tô TBCN là mô ̣t hı̀nh thức chuyển hóa của GTTD siêu nga ̣ch hay lợi nhuận siêu nga ̣ch
So sánh với địa tô PK:
+ Giống: đều thư ̣c hiê ̣n về mă ̣t kinh tế của quyền sở hữu ruô ̣ng đất Cả hai loa ̣i đi ̣a tô đều là kết quả bóc lô ̣t đối với người lao đô ̣ng nông nghiệp
+ Khác:
Về mặt lượng: ĐTPK là toàn bô ̣ SP thă ̣ng dư (thỏa thuâ ̣n chia tỷ lê ̣ trước khi SX), còn
ĐTTBCN chı̉ là mô ̣t phần GTTD trong NN
Về mặt chất: ĐTPK phản ánh mối quan hệ 2 giai cấp trong XH: Đi ̣a chủ và nông dân, còn
ĐTTBCN phản ánh mối quan hệ 3 giai cấp: Đi ̣a chủ – TB kinh doanh nông nghiệp – Công nhân
NN
17 Trình bày tác động của quy luật giá trị và sự biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản?
Độc quyền là quan hệ mới nảy sinh trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng nó không vượt ra khỏi các quy luật của CNTB, mà chỉ là sự tiếp tục mở rộng, phát triển những xu thế sâu sắc nhất của CNTB và của nền sản xuất hàng hóa, làm cho các quy luật kinh tế của CNTB
có những biểu hiện mới
Dựa vào sức mạnh chiếm được vị trí độc quyền, các tổ chức độc quyền áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi mua nhưng cao khi bán Như vậy, nếu trong giai đoạn CNTB
tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất, thì trong giai đoạn CNTB độc quyền, quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền cao Giá cả hàng hóa trên thị trường sẽ lên xuống xoay quanh giá cả độc quyền
Trang 9Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 9
PHẦN THỨ BA
1 Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về những đặc trưng cơ bản, nội dung, điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân:
Thứ nhất, về phương thức lao động của giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là những tập đoàn người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại, có trình độ xã hội hóa cao (đây là đặc trưng cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người lao động thời trước)
Thứ hai, về địa vị của giai cấp công nhân trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN: Trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN, công nhân là những người không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động, đi làm thuê cho giai cấp tư sản để kiếm sống
Nội dung sứ mệnh lịch sử:
Về mặt khách quan là GCCN có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa
bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN và CSCN
Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cần phải trải qua hai bước: Bước thứ nhất, giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền, trở thành giai cấp thống trị Bước thứ hai, GCVS tiến hành tổ chức xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN và CSCN Hai bước này quan hệ chặt chẽ với nhau, giai cấp công nhân không thực hiện được bước thứ nhất thì cũng không thực hiện được bước thứ hai, nhưng bước thứ hai là rất quan trọng để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử, GCCN phải tập hợp được các tầng lớp nhân dân lao động, tiến hành cuộc cách mạng xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mới về mọi mặt KT, CT
và VH, TT Đó là một quá trình lịch sử hết sức lâu dài và khó khăn
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử:
- Địa vị KT-XH của GCCN trong xã hội TBCN
GCCN là ‘lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại’, nền sản xuất tư bản càng hiện đại, GCCN càng phát triển, được ‘trí thức hóa’, họ là lực lượng làm ra phần lớn của cải cho xã hội, nhưng họ vẫn là người làm thuê, chịu sự bóc lột của GCTS GCCN đối lập trực tiếp về lợi ích với GCTS, GCTS muốn giữ chế độ tư hữu tư nhân, còn GCCN muốn xóa bỏ chế độ đó, giành chính quyền về tay mình, xây dựng xã hội mới không còn bóc lột
GCCN gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp, môi trường làm việc, sinh sống tập trung, điều kiện đó giúp họ đoàn kết chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh đòi quyền lợi cho mình mà những người lao động khác không có ưu thế đó
GCCN có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích đại đa số quần chúng nhân dân lao động, do
đó tạo cho họ khả năng đoàn kết với các giai cấp, tầng lớp lao động khác trong cuộc đấu tranh chống GCTS, giải phóng mình và giải phóng xã hội
- Những đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân:
Trang 10Lê Ngô Duy Tú – Banking University HCMC 10
Thứ nhất, là giai cấp tiên phong cách mạng vì họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, được trang bị bởi lý luận khoa học, cách mạng, luôn đi đầu trong mọi phong trào cách mạng để thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội mới tiến bộ, nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo quần chúng cách mạng
Thứ hai, là giai cấp có tình thần cách mạng triệt để, họ làm cách mạng đến cùng, xóa bỏ tận gốc chế độ người bóc lột người, vì họ chỉ có thể được giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội
Thứ ba, là giai cấp có ý thức tổ chức, kỷ luật cao, chính hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền hiện đại, nhịp độ làm việc khẩn trương và kỷ luật lao dộng nghiêm ngặt cùng với cuộc sống đô thị, tập trung rèn luyện cho giai cấp công nhân có tính tổ chức, kỷ luật cao
Thứ tư, là giai cấp có bản chất quốc tế, có khả năng liên minh với các giai cấp khác và các dân tộc bị bóc lột trên thế giới để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
2 Trình bày khái niệm và nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Khái niệm cách mạnh chủ nghĩa xã hội:
Là cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ tư hữu TBCN lỗi thời bằng chế độ XHCN, trong cuộc cách mạng đó, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Theo nghĩa hẹp, đó là cuộc cách mạng về chính trị - giành chính quyền
Theo nghĩa rộng, đó là cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực nhằm xây dựng CNXH, tiến tới CNCS
Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
mang tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN
về tư liệu sản xuất
Mâu thuẫn này đã diễn ra thường xuyên, biểu hiện ngày càng gay gắt và trở thành mâu thuẫn
cơ bản của chế độ TBCN Trong lữih vực kinh té, tính tổ chức, tính kế hoạch cao trong từng doanh nghiệp ngày càng tăng mâu thuẫn với tính vô tổ chức của sản xuất toàn xã hội Quy luật cạnh tranh, tính chất vô chính phủ trong sản xuất dưới CNTB dẫn tới khủng hoảng kinh tế thừa
và nạn thất nghiệp Để khắc phục tình trạng ấy, giai cấp tư sản đã có những biện pháp điều chỉnh, nhưng đó chỉ là những biện pháp để giai cấp tư sản duy trì quan hệ sản xuất khi nó không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đã xã hội hóa, chứ không thể giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản của CNTB Sự phù hợp thật sự với tính chất xã hội hóa ở trình độ ngày càng cao cùa lực lượng sản xuất chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sản xuất TBCN bằng quan hệ sản xuất XHCN
và phải thông qua cuộc cách mạng XHCN
Tuy nhiên, cuộc cách mạng XHCN không tự diễn ra mà là kết quả của sự giác ngộ của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động Giai cấp công nhân đã dựa trên sự tiếp thu lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lenin, tự mình tổ chức ra chính đảng, tiến hành tuyên fruyen vận động quần chúng nhân dân đứng lên lật đổ chế độ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới