Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin - Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực, nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: T
Trang 1Trường đại học NHA TRANG
KHOA Lý luận CHíNH TRị
TS- NGUYỄN TRỌNG THểC
BÀI GIẢNG NHỮNG NGUYấN Lí CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC - LấNIN 1
Nha trang, năm 2011
Trang 2THÔNG TIN VỀ HỌC PHẦN
“NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 1”
(Ban hành theo Quyết định số 52 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
5 Mục tiêu của môn học:
Môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 nhằm giúp cho sinh viên:
- Xác lập cơ sở lý luận cơ bản nhất để từ đó có thể tiếp cận được nội dung môn học Tưtưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, hiểu biết nềntảng tư tưởng của Đảng;
- Xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng cho sinh viên;
- Từng bước xác lập thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận chung nhất đểtiếp cận các khoa học chuyên ngành được đào tạo
6 Điều kiện tiên quyết:
- Bố trí học năm thứ nhất trình độ đào tạo đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là môn học đầu tiên của chương trình các môn Lý luậnchính trị trong trường đại học, cao đẳng
- Giảng dạy cho sinh viên của tất cả các ngành đào tạo của Trường Đại học Nha Trang
7 Tóm tắt nội dung học phần:
Học phần“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin 1”giới thiệu khái lược
về chủ nghĩa Lênin, thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Lênin, về chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch
Mác-sử Phù hợp với phương pháp giảng dạy nêu vấn đề, nội dung của học phần được phân thành
12 vấn đề để giảng dạy như sau:
8 Danh mục vấn đề của học phần
Vấn đề 1: Khái lược về chủ nghĩa Mác – Lênin Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phươngpháp học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Vấn đề 2: Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa VC và YT
Vấn đề 3: Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
Trang 3Vấn đề 4: Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật.
Vấn đề 5: Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Vấn đề 6: Lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Vấn đề 7: Vai trò của sản xuất vật chất và quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất
Vấn đề 8:Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Vấn đề 9:Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Vấn đề 10:Hình thái kinh tế - xã hội và quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hìnhthái kinh tế - xã hội
Vấn đề 11:Vai trò của đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội đối với sự vận động, phát triểncủa xã hội có đối kháng giai cấp
Vấn đề 12: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về con người và vai trò sáng tạo lịch sửcủa quần chúng nhân dân
8 Tài liệu học tập và nghiên cứu của học phần
1 Bộ Giáo dục & Đào tạo: Giáo trình môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
2 Bộ Giáo dục & Đào tạo: Giáo trình môn Triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, H.
2006
3 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Triết học Mác – Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999
4 Khoa Triết học Phân viện Hà Nội: Tập bài giảng triết học Mác-Lênin; 2 tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000
5 PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa: Những chuyên đề Triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2007
6 Hữu Ngọc, Dương Phú Hiệp, Lê Hữu Tầng: Từ điển Triết học giản yếu, Nxb Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987
7 Khoa Triết học Phân viện Hà Nội: Tập bài giảng triết học Mác-Lênin; 2 tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000
8 Vụ Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp: Triết học
Mác-Lênin: Hỏi và đáp, Nxb Sự thật, Hà Nội 1986.
9 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Chính trị): Triết học Mác-Lênin; 2 tập (Chủ nghĩa duy vật
biện chứng; Chủ nghĩa duy vật lịch sử), Nxb Tuyên huấn, Hà Nội, 1990
10 C.Mác & Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
11 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
Trang 4Vấn đề 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH
VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU NHỮNG
NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TS Nguyễn Trọng Thóc
I KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1 Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành
1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giá trị củalịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại Là thế giới quan, phương phápluận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, là khoa học về sự nghiệp giảiphóng giai cấp vô sản (GCVS), giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức bóc lột vàtiến tới giải phóng toàn thể nhân loại
1.2 Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực, nhưng trong
đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: Triết học Lênin, Kinh tế Chính trị Lênin, và Chủ nghĩa xã hội khoa học:
Mác-+ Triết học Mác-Lênin là bộ phận nghiên cứu những quy luật vận động, phát triểnchung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy nhằm hình thành thế giới quan và phương phápluận chung nhất cho nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng
+ Kinh tế Chính trị Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội loàingười, đặc biệt là những quy luật kinh tế của sự ra đời, phát triển, suy tàn của phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới -phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật khách quan của quá trình cách mạng
xã hội chủ nghĩa (XHCN), sự chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa
xã hội (CNXH) và tiến tới chủ nghĩa cộng sản (CNCS)
- Như vậy, ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu cụ thểkhác nhau nhưng đều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất, là khoa học về sựnghiệp giải phóng GCVS, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột, bấtcông, tiến tới giải phóng con người một cách triệt để
2 Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin
2.1 Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Trang 5a Điều kiện kinh tế - xã hội:
- Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 thế kỷ XIX Đây là thời kỳ phương thức sảnxuất TBCN ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên cơ sở những thành tựu của cuộccách mạng công nghiệp Cách mạng công nghiệp không những đánh dấu sự chuyển biến từnền sản xuất thủ công sang đại công nghiệp mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, nhất
là sự hình thành và phát triển của GCVS Cách mạng công nghiệp làm cho mâu thuẫn giữalực lượng sản xuất (LLSX) mang tính xã hội hoá với quan hệ sản xuất (QHSX) mang tính tưnhân TBCN ngày càng gay gắt Biểu hiện của mâu thuẫn trên là sự xuất hiện của khủnghoảng kinh tế (xảy ra lần đầu tiên ở Anh vào năm 1825)
- Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa:
+ Cuộc khởi nghĩa của công nhân ngành dệt thành phố Liôn (Pháp) năm 1831, 1834.+ Phong trào Hiến chương Anh (1835-1848)
+ Khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Silêdi (Đức) năm 1844
- Tất cả các cuộc khởi nghĩa trên chứng tỏ rằng giai cấp công nhân (GCCN) đã trở thànhlực lượng chính trị độc lập Thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp đặt ra đòi hỏi khách quan làGCCN cần phải được trang bị vũ khí về lý luận làm cơ sở cho đấu tranh giai cấp Vì vậy, thựctiễn cách mạng là tiền đề thực tiễn cho sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác
b Tiền đề lý luận:
Chủ nghĩa Mác ra đời là sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại trong đó trựctiếp là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế Chính trị học cổ điển Anh và Chủ nghĩa xã hội khôngtưởng Pháp
- Triết học cổ điển Đức với các đại biểu xuất sắc là L.Phơbách (Ludwig AndreasFeuerbach, 1804 – 1872) và G.W.Ph.Hêghen (Georg Wilhelm Friedrich Hegel, 1770 1831)
đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học củachủ nghĩa Mác
+ Với triết học của G.W.Ph.Hêghen, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy của nhân loại đãdiễn đạt nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua một hệ thốngcác quy luật, phạm trù Trên cơ sở phê phán quan điểm duy tâm thần bí trong triết học củaG.W.Ph.Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng của ông để xây dựngphép biện chứng duy vật
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao quan điểm triết học của L.Phơbách trong cuộcđấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo nhưng đồng thời cũng phê phán quan điểm siêuhình của ông Chủ nghĩa duy vật, vô thần của ông đã tạo tiền đề cho sự chuyển biến củaC.Mác, Ph.Ăngghen từ thếgiới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạngsang lập trường CNCS
- Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu tiêu biểu:
Trang 6+ Adam Smith (1723 – 1790) và David Ricardo (1772 -1823) đã góp phần tích cực vào
sự hình thành quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác Công lao của A.Smít vàD.Ricácđô là đã xây dựng lý luận giá trị lao động, đưa ra kết luận quan trọng về nguồn gốccủa giá trị và lợi nhuận và các quy luật kinh tế khách quan, nhưng lý luận của các ông có hạnchế là không thấy được tính lịch sử của giá trị và mâu thuẫn của sản xuất hàng hóa, khôngphân biệt được sản xuất hàng hóa giản đơn với sản xuất hàng hóa TBCN, chưa phân tíchđược những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất TBCN
+ C.Mác đã kế thừa những yếu tố hợp lý trong học thuyết giá trị và những tư tưởng tiến
bộ của các nhà cổ điển, giải quyết được những bế tắc mà các nhà cổ điển không thể vượt qua
để xây dựng lý luận giá trị thặng dư, luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của CNTB vànguồn gốc kinh tế của sự diệt vong tất yếu của CNTB và sự ra đời khách quan của CNXH
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng đã có quá trình phát triển lâu dài và đạt đến đỉnh caovào cuối thế kỷ XIX Các đại biểu xuất sắc như: Henri Saint Simon (1976 - 1725), CharlesFourier (1772 - 1837), Robert Owen (1771 – 1858) thể hiện đậm nét tư tưởng nhân đạo, phêphán mạnh mẽ CNTB và đưa ra nhưng dự báo thiên tài về xã hội tương lai
Hạn chế của Xanh Ximông, Phuriê và Ôoen là không phân tích được một cách khoa họcbản chất của CNTB, chưa thấy được sứ mệnh lịch sử của GCCN, song tinh thần nhân đạo vànhững dự báo của các ông đã trở thành tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luậnkhoa học về CNXH trong chủ nghĩa Mác
c Tiền đề khoa học tự nhiên:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác là kết quả của sự tổng kết những thành tựukhoa học của nhân loại, nhất là ba phát minh trong khoa học tự nhiên:
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đây là cơ sở khoa học để khẳng địnhrằng vật chất và vận động của vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt.Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, từ hình thức này sang hình thức khác
- Thuyết tiến hóa của Charles Robert Darwin (1809 – 1882) đã đem lại cơ sở khoa học
về sự phát sinh, phát triển của các giống loài, mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, độngvật trong quá trình chọn lọc tự nhiên
- Thuyết tế bào Học thuyết tế bào do GS M.Slaiđen (trường Đại học Gana ở Đức) xâydựng năm 1838 Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kết cấu của mọi thựcvật Quá trình phát dục của thực vật là quá trình hình thành và phát triển của tế bào Sau đó,vào năm 1839 GS T.Svannơ (GS phẫu thuật người của trường Đại học Ruăng ở Đức) đã mởrộng học thuyết tế bào từ giới thực vật sang giới động vật, khiến loài người nhận thức đượcrằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi cơ thể sinh vật Những phát hiện nêu trên
đã vạch ra quá trình biện chứng của sự vận động, phát triển, chuyển hoá không ngừng củabản thân giới sinh vật
Trang 7- Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật, nó vừa là sản phẩmcủa tình hình kinh tế xã hội đương thời, của tri thức nhân loại trong các lĩnh vực khoa học,vừa là sản phẩm năng lực tư duy và tinh thần nhân văn của những người sáng lập ra nó.
2.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác
a Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác (1842-1848)
- Trong giai đoạn này với các tác phẩm chủ yếu như: Bản thảo kinh tế-triết học (C.Mác,1844), Gia đình thần thánh (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1845), Luận cương về Phơbách (C.Mác,1845), Hệ tư tưởng Đức (C.Mác, Ph.Ăngghen, 1845), C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừanhững tinh hoa của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng để xây dựng nên phép biện chứngduy vật
- Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (C.Mác,1847), C.Mác đã đề xuất nhữngnguyên lý của chủ nghĩa duy vật (CNDV) biện chứng, CNXH khoa học và bước đầu thể hiện
tư tưởng về giá trị thặng dư
- Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C.Mác, Ph.Ăngghen, 1848) đã chỉ ra quy luậtvận động của lịch sử, thể hiện tư tưởng cơ bản về lý luận hình thái kinh tế-xã hội, về giai cấp
và đấu tranh giai cấp Với các quan điểm này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo tiền đề sáng lập
ra CNDV lịch sử
b Giai đoạn từ 1849-1895
- Đây là giai đoạn phát triển, hoàn thiện của chủ nghĩa Mác Trong giai đoạn này cùngvới các hoạt động thực tiễn, trên cơ sở vận dụng CNDV lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đãnghiên cứu một cách toàn diện phương thức sản xuất TBCN
- Dựa trên việc phát hiện ra phạm trù hàng hóa sức lao động, C.Mác đã tìm ra nguồn gốccủa giá trị thặng dư, chỉ ra bản chất bóc lột của CNTB Lý luận giá trị thặng dư được C.Mác
và Ăngghen trình bày toàn diện, sâu sắc trong bộ Tư bản Tác phẩm này không chỉ mở đườngcho sự hình thành hệ thống lý luận kinh tế chính trị trên lập trường GCVS mà còn củng cố,phát triển quan điểm duy vật lịch sử thông qua lý luận hình thái kinh tế - xã hội, làm choCNDV lịch sử không còn là một giả thuyết mà là một nguyên lý đã được chứng minh mộtcách khoa học Bộ Tư bản còn là tác phẩm chủ yếu trình bày về CNXH khoa học thông quaviệc làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của CNTB, sự thay thế nóbằng CNXH và sứ mệnh lịch sử của GCCN
- Tư tưởng về CNDV lich sử, về cách mạng vô sản tiếp tục được phát triển trong tácphẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác, 1875) Tác phẩm này trình bày những luận điểm cơbản của chủ nghĩa Mác về nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ CNTB lênCNXH, các giai đoạn xây dựng CNCS
c V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới
* Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác
Trang 8- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, CNTB đã chuyển sang giai đoạn CNTB độc quyền.Bản chất bóc lột và thống trị của CNTB ngày càng được bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn của CNTBtrở nên gay gắt Các nước tư bản chia nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc Chiến tranh thếgiới lần thứ nhất (1914-1918) Tại các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đếquốc tạo nên sự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản màtrung tâm là Cách mạng Tháng Mười Nga Sau khi Ph.Ăngghen qua đời, các phần tử cơ hộitrong Quốc tế II tìm mọi cách nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác Trước tình hình đó đòi hỏiV.I.Lênin phải tiến hành đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trong vật lý học, cónhiều phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình về vật chất và vận động, gây racuộc khủng hoảng về thế giới quan trong triết học Chủ nghĩa duy tâm (CNDT) đã lợi dụngtình trạng khủng hoảng này để tấn công và bác bỏ CNDV Trong hoàn cảnh đó, V.I.Lênintiến hành đấu tranh chống CNDT để bảo vệ và phát triển CNDV, bảo vệ và phát triển chủnghĩa Mác
* Quá trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác chia thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1893-1907:
+ Là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống lại phái Dân túy Trong tác phẩm: Những ngườibạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894),V.I.Lênin đã phê phán tính chất duy tâm và những sai lầm của phái Dân túy về nhận thứcnhững vấn đề lịch sử - xã hội, vạch rõ ý đồ xuyên tạc chủ nghĩa Mác bằng cách xóa nhòa ranhgiới giữa phép biện chứng duy vật của C.Mác với phép biện chứng duy tâm của G.Hêghen,nêu lên mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Trong tác phẩm Làm gì? (1902) V.I.Lênin pháttriển lý luận của chủ nghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai cấp của GCVS trước khigiành chính quyền; đề cập đến nhiều vấn đề đấu tranh kinh tế, chính trị, tư tưởng; đặc biệtnhấn mạnh quá trình hình thành hệ tư tưởng của GCVS
+ Năm 1905, V.I.Lênin viết tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trongcách mạng dân chủ Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về phương pháp cáchmạng, các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, vai trò của quần chúng nhân dân, của cácđảng chính trị trong cách mạng tư sản giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
- Giai đoạn 1907-1917
+ Trong giai đoạn này diễn ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan, dẫn đến sự xuất hiện
tư tưởng duy tâm của Makhơ phủ nhận chủ nghĩa Mác V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thànhtựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; tổng kết các sự kiện lịch sử của thời
kỳ này để viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909)
+ Bằng việc đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất; nêu lên mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những nguyên tắc của nhận thức Bảo vệnguồn gốc lịch sử, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác (ở tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộphận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913), phép biện chứng (tác phẩm Bút ký triết học, 1914-1916), phát triển tư tưởng về nhà nước và chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, vai trò
Trang 9của Đảng Cộng sản và con đường xây dựng CNXH (tác phẩm Nhà nước và cách mạng,1917).
- Giai đoạn sau Cách Mạng Tháng Mười 1917-1924
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trênphạm vi toàn thế giới, nảy sinh những nhu cầu mới về lý luận mà thời C.Mác, Ph.Ăngghenchưa đặt ra Trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, V.I.Lênin đãviết các tác phẩm: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920), Lại bàn về vềcông đoàn, Về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồng chí Tơrôtxki vàBukharin (1921), Về chính sách kinh tế mới (1921), Bàn về thuế lương thực (1921) nhằm tiếptục bảo vệ phép biện chứng mácxít, chống chủ nghĩa chiết trung, và thuyết ngụy biện; pháttriển học thuyết Mác về nhân tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, vềhai nhiệm vụ cơ bản của GCVS, về chiến lược, sách lược của đảng vô sản trong điều kiện lịch
sử mới, về thời kỳ quá độ lên CNXH, về kế hoạch xây dựng CNXH
d Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới
- Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng vô sản Nga (1917)
+ Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản và công nhânquốc tế Cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp với sự ra đời của nhà nước chuyên chính vôsản (công xã Pari) là sự kiểm nghiệm đầu tiên của chủ nghĩa Mác
+ Tháng 8 năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên được thành lập ở Nga và lãnh đạo cuộccách mạng 1905 Tháng Mười năm 1917, cuộc cách mạng XHCN của GCVS thắng lợi, mở ramột kỷ nguyên mới cho nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác-Lênin tronglịch sử
- Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH trên phạm vi thế giới.
+ Sau 1917, học thuyết Mác-Lênin tiếp tục có những ảnh hưởng sâu rộng: năm 1919Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922 Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết ra đời; sauchiến tranh thế giới thứ 2, hàng loạt nước XHCN ra đời, hình thành nên hệ thống XHCN thếgiới bao gồm các nước: Mông Cổ, Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Cộnghòa dân chủ Đức, Trung Quốc, Cu Ba, Nam Tư, Anbani, Bungari
+ Những sự kiện trên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân và phong trào giải phóngdân tộc trên thế giới Vai trò định hướng của chủ nghĩa Mác Lênin đã đem lại những thànhquả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
+ Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà đặc biệt là do sai lầm trong việcvận dụng chủ nghĩa Mác của những người cộng sản đã dẫn tới hệ thống XHCN thế giới lâmvào khủng hoảng, thoái trào, song đó không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin; sựsụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu không đồng nhất với sự sụp đổ của CNXH nóichung
Trang 10+ Một số nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam thực hiện thành công công cuộc đổimới CNXH, chẳng những đã có thể ra khỏi khủng hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn nhữngmục tiêu của công cuộc xây dựng CNXH.
+ Quyết tâm xây dựng thành công CNXH vẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia vàchiều hướng đi theo con đường XHCN vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh Sự sụp
đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây là sự phá sản của mô hình cũ của CNXH.+ Việc đổi mới thành công CNXH ở một số nước đã mở ra cho nhân loại nhiều triểnvọng mới Nhân loại chẳng những không từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà trái lại, tìm kiếm một môhình mới của CNXH phù hợp với tình hình mới
+ Cần phải thấy rằng, dù xã hội hiện nay có biến đổi thế nào thì bản chất của CNTB vẫnkhông thay đổi Chính vì vậy, việc bảo vệ thành quả của CNXH, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và đổi mới công cuộc xây dựng CNXH trở thành vấn đề cấp bách trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn
+ Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng ta phát động và lãnh đạo không từ bỏ mà lànắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh(TT.HCM); giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; kiên trì mục tiêu CNXH; nghiên cứu và vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và TT.HCM phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta vàbối cảnh thế giới hiện nay
II ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1 Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu
* Đối tượng học tập, nghiên cứu môn học“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Lênin” là “những quan điểm cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong phạm vi ba bộphận cấu thành
Mác Trong phạm vi lý luận triết học của chủ nghĩa MácMác Lênin: nghiên cứu những nguyên
lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất, bao gồm: Những nguyên lý củaCNDV biện chứng với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học
- Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự pháttriển, những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy
- CNDV lịch sử với tư cách là sự vận dụng những nguyên lý của CNDV và phép biệnchứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội
- Trong phạm vi lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là nghiên cứuhọc thuyết giá trị lao động, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về CNTB độc quyền vàCNTB độc quyền nhà nước; khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sảnxuất TBCN từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao của nó
Trang 11- Trong phạm vi CNXH khoa học, đó là nghiên cứu về sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân và tiến trình cách mạng XHCN; những quy luật của sự hình thành, phát triển củahình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa và những định hướng cho hoạt động của GCCN.Mục đích của việc nghiên cứu, học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin:
* Mục đích của việc học tập, nghiên cứu môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin” là nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủnghĩa Mác-Lênin
- Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cáchmạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụng sáng tạo nhữngnguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, hiểu rõ nền tảng tư tưởng của Đảng
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là để xây dựngniềm tin, lý tưởng cách mạng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, đáp ứng yêu cầu của con ngườiViệt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
2 Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu
Một là, học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin cần phảihiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện, giáo điều trong quá trình học tập,nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơ bản đó trong thực tiễn
Hai là, những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có quan hệ mật thiết với nhau, bổsung và hỗ trợ cho nhau, vì vậy, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin phải đặtchúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác, mỗi bộ phận cấu thành trong mối quan hệvới các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhất trong tính đa dạng và nhất quán củamỗi tư tưởng nói riêng, của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung
Ba là, học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần phảitheo nguyên tắc gắn kết những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cáchmạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy được sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong từng giai đoạn lịch sử
Bốn là, học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin phải gắn với quá trình giáo dục, tudưỡng, rèn luyện bản thân, đáp ứng yêu cầu xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạnmới
Năm là, hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là hệ thống lý luận khépkín mà trái lại là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển thực tiễn củathời đại, do vậy, cần đặt nó trong lịch sử phát triển tư tưởng của nhân loại./
Trang 12Vấn đề 2 QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC
VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
TS Nguyễn Trọng Thóc
I CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1 Vấn đề cơ bản của Triết học, sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
1.1 Vấn đề cơ bản của Triết học
- Triết học ra đời do nhu cầu hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầusống Triết học ra đời từ thực tiễn, và nhu cầu từ thực tiễn Như vậy, triết học có nguồn gốcnhận thức và nguồn gốc xã hội Khi con người có một vốn kiến thức nhất định và đạt đến khảnăng khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa những gì mà con người quan sát được, triếthọc ra đời
- Nguồn gốc xã hội của triết học chính là sự phát triển của xã hội đến thời kỳ hình thànhtầng lớp lao động trí óc Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lạithành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời
- Triết học cũng như bao khoa học khác, cũng có đối tượng nghiên cứu riêng của mình.Đối tượng nghiên cứu của triết học là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tưduy Nhưng trong đó có những vấn đề cực kỳ quan trọng, là nền tảng, là điểm xuất phát để
giải quyết những vấn đề còn lại Đó là vấn đề cơ bản của triết học Theo Ăngghen: “Vấn đền
cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy
và tồn tại”.
- Vấn đề cơ bản của Triết học có hai mặt: Mặt thứ nhất, giữa vật chất và ý thức cái nào
có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận
thức được thế giới không?
- Việc giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của Triết học là cơ sở hình thành các trường
phái triết học lớn trong lịch sử: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; khả tri luận (thuyết
có thể biết) và bất khả tri luận (thuyết không thể biết); chủ nghĩa nhị nguyên và hoài nghi
luận (chủ nghĩa hoài nghi).
1.2 Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
* Trả lời câu hỏi thứ nhất vấn đề cơ bản của Triết học, các nhà triết học duy vật chorằng vật chất và giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức Từ khi ra đời đến nay, chủnghĩa duy vật đã trải qua ba giai đoạn cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vậtsiêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 13a Chủ nghĩa duy vật chất phác
CNDV chất phác ra đời vào thời cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp Quan điểmcủa CNDV thời kỳ này là thừa nhận tính thứ nhất của vật chất Tuy rằng, các quan điểm cótính đúng đắn vì nó đã lấy giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, không viện đến thần linhhay Thượng đế nhưng các quan điểm này vẫn còn nhiều hạn chế và mang tính ngây thơ, chấtphác bởi lẽ nó đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể, vẫn còn những kết luậnmang nặng tính chất trực quan
b Chủ nghĩa duy vật siêu hình
- CNDV siêu hình thể hiện khá rõ ở các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII.Tuy những quan điểm của CNDV siêu hình có tính chất kế thừa từ những quan điểm củaCNDV chất phác nhưng nó có sự phát triển hơn do cơ học cổ điển thời kỳ này đạt đượcnhững thành tựu rực rỡ
- Các nhà triết học thời kỳ này sử dụng phương pháp siêu hình để nhìn nhận thế giới Docách nhìn nhận đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi chỉnh thể khác vàgiữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối, coi đối tượng nghiên cứu ở trạng tháitĩnh tại, nếu có biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân của sự biến đổi
đó nằm ở ngoài đối tượng nên các nhà duy vật siêu hình “chỉ nhìn thấy những sự vật riêngbiệt mà không thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sựvật chứ không thấy sự phát sinh và tiêu vong của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của
sư vật mà quên mất sự vận động của sự vật ấy”
c Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật
- CNDV biện chứng ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX do C.Mác và Ph.Ăngghenxây dựng, V.I.Lênin là người đã bổ sung và phát triển hoàn thiện CNDV biện chứng luônnhìn nhận đối tượng ở trong mối quan hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau và nhìnnhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi nằm trong khuynh hướng chung là phát triển,
là quá trình biến đổi về chất của sự vật và hiện tượng mà nguồn gốc là sự đấu tranh giữa cácmặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng, các nhà duy vật biện chứng đã phảnánh hiện thực đúng như nó tồn tại và phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữuhiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
- Đối lập với các nhà duy vật là các nhà triết học theo trường phái duy tâm CNDT chiathành hai phái: CNDT khách quan và CNDT chủ quan Cả hai phái duy tâm đều thừa nhậntính thứ nhất của ý thức và coi ý thức sản sinh ra giới tự nhiên, thừa nhận sự sáng tạo ra thếgiới
- Tuy nhiên, phái duy tâm chủ quan cho rằng mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp của những cảm giác cá nhân, của chủ thể, còn phái duy tâm khách quan lại cho rằng ý thức là thứ
tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người mang những tên gọi khác nhaunhư ý niệm tuyệt đối, lý tính thế giới Đó là sự nhận thức sai lầm do cách xem xét phiến diện
Trang 14mang tính biện chứng của con người Đồng thời, CNDT còn được ra đời do sự tách rời laođộng trí óc với lao động chân tay và địa vị thống trị của lao động trí óc với lao động chân taytrong xã hội cũ.
- Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học còn nảy sinh ra các học thuyết nhất nguyênluận (học thuyết thừa nhận chỉ một trong hai thực thể vật chất và ý thức là nguồn gốc của thếgiới), nhị nguyên luận (học thuyết triết học xem vật chất và ý thức là hai thực thể tồn tại độclập, tạo thành hai nguồn gốc của thế giới), đa nguyên luận (học thuyết cho rằng vạn vật trongthế giới là do vô số nguyên thể độc lập tạo nên)
* Trả lời câu hỏi thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học chia thànhhai trường phái: khả tri và bất khả tri Hầu hết các nhà duy vật và duy tâm đều cho rằng conngười có thể nhận thức được thế giới Tuy nhiên, dưới góc độ duy tâm, các nhà triết học theotrường phái này cho rằng sự nhân thức của con người chỉ là sự tự nhận thức về chính bản thânmình Còn những nhà triết học phủ nhận sự nhận thức của con người đã cho ra đời “thuyếtkhông thể biết” Học thuyết này cho rằng con người không thể hiểu được đối tượng hoặc cóchăng là chỉ hiểu hình thức bề ngoài vì tính xác thực của hình ảnh về đối tượng mà các giácquan của con người cung cấp trong quá trình nhận thức không đảm bảo tính chân thực Tínhtương đối của nhận thức dẫn đến sự hình thành trào lưu “hoài nghi luận”, những người theotrào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được
và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan
2 Ý nghĩa vấn đề cơ bản của triết học
- Vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để phân biệt các trường phái triết học, nhận biếtcác quan điểm triết học và các nhà triết học, là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giớiquan của các triết gia và các học thuyết triết học của họ
- Trong lịch sử triết học, các nhà triết học có thể chỉ giải quyết những vấn đề riêng biệt,nhưng thực chất ở mức độ này hay mức độ khác họ đều tập trung giải quyết mối quan hệ giữavật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy
- Ngoại trừ triết học Mác, các trường phái triết học khác không thừa nhận mình làCNDV hay CNDT Nhưng cách giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức của họ là cơ
sở để chúng ta phân biệt trường phái duy vật hay duy tâm
Mặt khác, không phải bất kỳ một nhà triết học duy vật nào cũng hoàn toàn duy vật, họcũng có những quan niệm duy tâm, ngược lại, các nhà duy tâm cũng vậy Do đó, khi đánh giáluận điểm nào đó là duy vật hay duy tâm phải trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triếthọc
- Một nhà triết học duy vật hay duy tâm phụ thuộc vào hệ thống triết học của họ giảiquyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức Ngày nay, triết học giảiquyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm quyết định luận, nhưng thực chất
nó vẫn không vượt ra khỏi vấn đề cơ bản của triết học
Trang 15- Vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề của triết học Triết học
không chỉ giải quyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại mà còn giải quyết nhiều vấn đề kháccủa đời sống thực tiễn Những vấn đề về nhận thức luận, nhà nước, tôn giáo, con người, v.v.được các nhà triết học giải quyết trên cơ sở vấn đề cơ bản của triết học
- Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học giúp con người ta có thể hình thành thế giới
quan và phương pháp luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Thế giới
quan là nhân tố để con người nhận thức và hành động Là thấu kính giúp con người xem xét
chính bản thân mình để xác đinh cho mình mục đích và ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cáchthức hoạt động để có nhân sinh quan tích cực Trình độ thế giới quan chính là tiêu chí đánhgiá sự trưởng thành của cá nhân và toàn xã hội
- Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học làm triết học thực hiện chức năng phương phápluận Vì thế, mỗi quan điểm lý luận về triết học đồng thời là một nguyên tắc về phương pháp
và lý luận về phương pháp đó tạo khả năng cải biến thế giới
II QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC
1 Vật chất
1.1 Lược khảo các quan điểm trước Mác về vật chất
- Hy Lạp – La Mã cổ đại: Talét: Vật chất là nước; Anaximen: Vật chất là không khí; Hêraclit: Vật chất là lửa; Ămpêđoclơ: Vật chất là đất, nước lửa và không khí; Anaximendơrơ:
Vật chất là Apeiron; Lơxip và Đêmôcrit: Vật chất là nguyên tử; Arixtốt: Vật chất là đất, nước,
lửa, không khí và Ête
- Trung Quốc cổ đại: Khí là thực thể của thế giới; Phái Ngũ hành: Vật chất là Kim,
+ Đêcáctơ (Pháp): Vũ trụ là vật chất, vô tận, gồm những hạt nhỏ có thể phân chia đến
vô tận, luôn vận động và thay đổi vị trí trong không gian
+ Xpinôza (Hà Lan): Tự nhiên là nguyên nhân tự nó Thực thể là thống nhất; vật hữuhạn vô tận
+ Điđrô (Pháp): vũ trụ là vật chất, tự nó Bản tính cố hữu của vật chất là vận động,đứng yên là một dạng của vận động Vận động sẽ giúp giới tự nhiên ngày càng hoàn thiệnđồng thời đào thải những gì không phù hợp
Trang 16+ Hônbách (Pháp): Vật chất là những gì mà bằng cách nào đó tác động vào cảm giáccủa con người.
- Do những thành tựu của cơ học trong thời kỳ này, họ đồng nhất vật chất với khốilượng, vận động chỉ là sự di chuyển vị trí trong không gian Coi nguyên tử là phần tử nhỏ bénhất không thể phân chia; không thể cảm giác được và tách rời nguyên tử với vận động
- Mặc dù thuyết nguyên tử còn mang tính chất chất phác, nhưng phỏng đoán thiên tài ấy
về cấu tạo vật chất có ý nghĩa định hướng đối với lịch sử phát triển khoa học nói chung, đặcbiệt là khi vật lý học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử vào những năm 40 của thế kỷ XIX
- Khoa học trong thời kỳ này, chỉ có cơ học cổ điển phát triển nhất, còn các khoa họckhác còn ở trình độ thấp, chỉ dừng lại ở trình độ sưu tập, mô tả Quan điểm thống trị trongtriết học và khoa học tự nhiên thời bấy giờ là quan điểm siêu hình – máy móc, nó chi phốinhững hiểu biết triết học về vật chất Chẳng hạn:
+ Sự vận động, biến đổi của mọi sự vật trong tự nhiên là kếy quả của sặ tác động qua lạicủa lực hấp dẫn và lực đẩy của các phân tử của vật thể Các phần tử của vật trong quá trìnhvận động là bất biến, còn cái thay đổi chỉ là trạng thái không gian và tập hợp của chúng.+ Sự phân biệt về lượng là cơ sở để phân biệt về chất giữa các vật thể; mọi sự vận độngcủa vật chất chỉ đơn giản là sự thay đổi vị trí trong không gian Hoặc là quy mọi sự vận độngcủa vật chất vào một hình thức vận động duy nhất là vận động cơ học và nguồn gốc của vậnđộng nằm ngoài vật chất
+ Kế thừa quan điểm nguyên tử luận thời cổ đại, các nhà triết học duy vật thời cận đạivẫn coi nguyên tử là phần tử nhỏ bé nhất không thể phân chia được, tách rời nguyên tử vớivận động, không gian và thời gian
1.2 Nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc của những quan điểm trước Mác về vật chất
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất hiện những phát minh mới trong khoa học tựnhiên, con người mới có những hiểu biết sâu hơn về nguyên tử như:
+ Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượngphóng xạ và các nguyên tố phóng xạ Năm 1897, Tôm Xơn phát hiện ra điện tử Năm 1901,Kaufman chứng minh được rằng: khối lượng của điện tử không phải là một khối lượng tĩnh,quá trình vận động thì khối lượng của điện tử tăng lên khi vận tốc tăng Năm 1905, AnbeAnhxtanh với thuyết tương đối…
+ Các phát minh trên đã tấn công vào phạm trù vật chất của triết học duy vật là phạm trùnền tảng của CNDV, tức là nguyên tử không phải là phần tử nhỏ bé nhất không thể phân chia
và khối lượng không phải bất biến Còn các nhà triết học duy tâm lại khẳng định vật chất biếnmất, thế giới chỉ còn lại những khái niệm
1.3 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất
Trang 17- V.I.Lênin cho rằng không phải vật chất biến mất mà sự hiểu biết hạn chế của conngười về phạm trù vật chất mới biến mất.
- V.I.Lênin nêu định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Định nghĩa vật chất củaV.I.Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Vật chất là phạm trù của triết học
+ Phạm trù triết học là phạm trù bao trùm nhất, rộng nhất
+ Phạm trù vật chất trong khoa học cụ thể chỉ káhi quát một trong những trạng thái cụthể của vật chất, không mang nghĩa phạm trù vật chất của triết học
- Vật chất tồn tại khách quan và được con người cảm giác.
+ Tồn tại tự nó, không do ai sáng tạo ra, không mất đi, có thể chuyển hoá từ trạng tháinày sang trạng thái khác
+ Tồn tại trước con người, trước ý thức của chúng ta
+ Vật chất tồn tại vừa mang tính trừu tượng, vừa có nội dung cảm tính
+ Khi các trạng thái của vật chất tác động đến các giác quan thì tạo nên cảm giác chocon người
- Ý thức là sự phản ánh thế giới quan vào bộ óc người thông qua các giác quan, nếucác giác quan của con người bình thường, góc phản ánh tương ứng thì hình ảnh của sự vật tácđộng không phụ thuộc vào cảm giác
- Con người có khả năng nhận thức được thế giới: vì thế giới vật chất tồn tại kháchquan khi tác động vào các giác quan thì tạo nên cảm giác để làm cơ sở cho quá trình hìnhthành tri thức Quá trình đó diễn ra vĩnh viễn nên con người có khả năng nhận thức được thếgiới
* Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
- Khắc phục được tính trực quan, siêu hình của các nhà triết học duy vật thời cổ đại vàcận đại
- Khẳng định quan điểm vô thần, chống lại các quan điểm duy tâm, thần học, tôn giáo về
1.4 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Vật chất tồn tại bằng cách nào? CNDV biện chứng khẳng định: các dạng cụ thể của vật
Trang 18a Vận động:
- Định nghĩa vận động: Vận động là mọi sự biến đổi nói chung Theo Ph Ăngghen:
“Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản đến tư duy”.
+ Vật chất là vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi và vận động là một thuộc tính
cơ bản không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặcsáng tạo ra Mọi vận động đều là vận động của vật chất, không có vật chất không vận động vàcũng không có vận động nào không phải của vật chất Vật chất tồn tại thông qua vận động.Một vật chất không vận động thì không có gì mà nói cả
b Các hình thức vận động cơ bản của vật chất:
+ Vận động cơ học: sự chuyển dịch vị trí của các vật thể trong không gian
+ Vận động vật lý: sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, cácquá trình nhiệt điện…
+ Vận động hoá học: vận động của nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải cácchất
+ Vận động sinh học: sự tương tác giữa quá trình đồng hoá và quá trình dị hoá của các
cơ thể sinh vật, là sự trao đổi chất giữa các cơ thể sống với nhau và giữa các cơ thể sống vớimôi trường
+ Vận động xã hội: sự tác động giữa các cá nhân trong cộng đồng thông qua các mốiquan hệ xã hội làm biến, thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế – xãhội
- Cần lưu ý khi xem xét các hình thức vận động của vật chất:
+ Mỗi hình thức vận động của vật chất có một sự khác nhau về chất, và các hình thức
vận động của vật chất luôn có mối liện hệ với nhau
+ Tùy theo cấu trúc của các trạng thái vật chất mà có hình thức vận động tương ứng.Các hình thức vận động của vật chất có cấu trúc phức tạp và cao hơn xuất hiện trên cơ sở cáchình thức vận động thấp, và luôn bao gồm trong nó các hình thức vận động thấp
+ Những hình thức vận động thấp không bao hàm trong nó các hình thức vận động cao
* Tính chất của vận động là tự thân vận động, bởi vì:
+ Các trạng thái của vật chất đều có cấu trúc
+ Các bộ phận của vật chất đều tác động làm biến đổi dẫn đến vận động
+ Vận động vừa có hướng vừa vô hướng
+ Vận động vĩnh viễn, vô điều kiện
* Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm thời.Bởi vì :
Thứ nhất, hiện tượng đứng im của sự vật chỉ diễn ra trong một quan hệ nhất định, chứkhông phải trong mọi quan hệ cùng một lúc
Trang 19Thứ hai, đứng im chỉ xẩy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứkhông phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc.
Thứ ba, đứng im là một trạng thái vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổnđịnh tương đối khi sự vật còn là nó mà chưa biến thành cái khác
Thứ tư, đứng im im chỉ là tạm thời, thoáng qua và có điều kiện nhất định Nhờ có đứng
im và sự vật tồn tại, còn vận động làm cho sự vật chuyển hóa
- Ph Ăngghen cho rằng:‘‘Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt’’ và ‘‘mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạmthời’’
c Không gian và thời gian
- Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm: Không thừa nhận không gian và thời gian tồn tạikhách quan mà là những ý niệm chủ quan mang tính quy ước
- Quan niệm siêu hình: Tách rời không gian và thời gian khỏi vật chất Họ cho rằng,không gian là khoảng chứa đầy vật chất, nếu lấy vật chất ra khỏi không gian thì không gianvẫn tồn tại
- Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Không gian chỉ trật tự cùng tồn tại, thờigian là chỉ quá trình của vật chất
* Không gian và thời gian có những tính chất cơ bản sau đây:
- Tính khách quan, Không gian và thời gian là những phương thức tồn tại của vật chất.Không gian và thời gian tồn tại khách quan Vật chất tồn tại trong không gian và thời gian,không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian, cũng như không có không gian vàthời gian tồn tại ngoài vật chất
- Tính vĩnh cửu, vô tận và vô hạn, nghĩa là không gian và thời gian không có tận cùng về
một phía nào, từ quá khứ lẫn tương lai, cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về bên phải lẫn bêntrái, cả về phía trên lẫn phía dưới
- Không gian luôn có ba chiều: chiều dài, chiều rộng và chiều cao; vô cùng, vô tận, cả vĩ
mô lẫn vi mô Còn thời gian chỉ có một chiều: từ quá khứ đến tương lai không có chiều
ngược lại; vĩnh viễn cả về quá khứ và tương lai
1 5 Tính thống nhất vật chất của thế giới
- Triết học duy tâm không thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới Thế giới vật thể
là sự thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác của tư duy, của ý thức, của ‘‘ý niệmtuyệt đối’’
- Các nhà triết học duy vật thời cổ đại đều quan tâm và bàn đến sự tồn tại của thế giớinhưng chưa rõ ràng và chưa có cơ sở khoa học; tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới ngaytrong bản thân nó
Trang 20- Quan niệm của CNDV biện chứng: thừa nhận thế giới tồn tại khách quan, là tiền đềcủa sự thống nhất của thế giới.
- Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Điều đó đượcthể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất,chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới thống nhất ở tính vậtchất Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người
Thứ hai, Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, vìchúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốcvật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biếncủa thế giới vật chất
Thứ ba, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra vàkhông bị mất đi Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biếnđổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau
- Tính thống nhất vật chất của thế giới đã được các thành tựu của khoa học và cuộc sốngcủa con người chứng minh như sau:
+ Các phát minh của khoa học tự nhiên như thuyết tế bào, định luật bảo toàn và chuyểnhóa năng lượng, thuyết tiến hóa
+ Những thành tựu mới của khoa học trong vật lý học, hóa học, sinh vật học, trong khoahọc sự sống, khoa học vũ trụ, v.v
- Khoa học hiện đại đã đi sâu nghiên cứu cấu tạo của vật chất và đã phân chia ra cácdạng vật chất khác nhau như:
+ Trong giới tự nhiên vô sinh có hai dạng vật chất cơ bản làchấtvà trường. Chất là cáidán đoạn, được tạo ra từ các hạt, có khối lượng, có cấu trúc thứ bậc từ nguyên tử cho đến cácthiên thể cực kỳ lớn
+ Trường là môi trường vật chất liên tục, không có khối lượng tĩnh Trường làm cho cáchạt của nguyên tử liên kết với nhau, tác động với nhau và nhờ đó mà tồn tại được
+ Ranh giới giữa chất và trường là tương đối, có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự phát hiện
ra dạng chất và trường của vật chất và chuyển hóa của chúng càng chứng tỏ không có khônggian trống rỗng phi vật chất
- Trong giới tự nhiên hữu sinh có các trình độ tổ chức vật chất là sinh quyển, các axít
nucleic (AND và ARN) và chất đản bạch Sự phát triển của sinh học hiện đại đã tìm ra được
nhiều mắt khâu trung gian chuyển hóa giữa các trình độ tổ chức vật chất, cho phép nối liền vô
cơ, hữu cơ và sự sống Vật chất sống bắt nguồn từ vật chất không sống Thực vật, động vật và
cơ thể con người có sự giống nhau về thành phần vô cơ, cấu trúc và phân hóa tế bào, cơ chế
di truyền sự sống…
- Sự hình thành con người và xã hội loài người là cấp độ cao nhất của cấu tạo vật chất, làcấp độ đặc biệt của tổ chức vật chất, và là kết quả hoạt động thực tiễn của con người
Trang 21- Sự phát triển của khoa học đã bác bỏ quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo vềnguồn gốc của vật chất và chứng minh tính chân lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Như vậy, bản chất của thế giới là vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất Thế giới
vật chất có nguyên nhân tự nó, vĩnh hằng và vô tận với vô số những biểu hiện muôn hìnhmuôn vẻ của nó
2 Ý thức
2.1 Nguồn gốc của ý thức
a Nguồn gốc tự nhiên của ý thức:
- Bộ óc người và thế giới khách quan là nguồn gốc khách quan của ý thức.
+ Chủ nghĩa duy tâm: ý thức là sự tự ý thức
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình: ý thức là chức năng của bộ óc người
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng: ý thức là quá trình tâm lý tích cực, phản ánh hiện thựckhách quan thông qua các giác quan di chuyển đến bộ não người để xử lý, khái quát thành trithức
- Quá trình phản ánh của vật chất:
+ Phản ánh là một trong những thuộc tính cơ bản của vật chất, là khả năng lưu giữ và táihiện sự tác động của trạng thái vật chất này lên trạng thái vật chất khác trong quá trình tồn tại,vận động và biến đổi của chúng
+ Sự phát triển của quá trình phản ánh của vật chất là cơ sở để hình thành ý thức, hìnhthành tri thức: phản ánh cơ học, phản ánh kích thích, phản ánh cảm ứng, phản ánh tâm lý,phản ánh ý thức
- Bộ óc của con người:
+ Bộ óc của con người là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của sinh vật bậc cao, cơquan trung ương của hệ thần kinh ở con người Nó có nhiệm vụ thu thập, phân tích, xử lý vàđiều khiển hoạt động của con người
+ Bộ óc con người thu nhận những phản ánh từ các giác quan để phân tích, lọc bỏ, kháiquát thành ý thức, thành tri thức
Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần nhưng chưa đủ để hình thành ý thức
b Nguồn gốc xã hội của ý thức:
Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức.
* Lao động:Lao động là quá trình con người tác động vào tự nhiên để tạo ra sản phẩmnhằm thoả mãn nhu cầu của con người
- Lao động không chỉ là phương thức tồn tại của con người mà còn là phương thức sángtạo và hoàn thiện con người, hoàn thiện các giác quan để tăng khả năng phản ánh
- Lao động còn là phương thức để nắm bắt cấu trúc, hiểu các mối quan hệ của các trạngthái vật chất Trên cơ sở đó để hình thành tri thức
Trang 22- Lao động còn tạo ra những phương tiện để tăng khả năng phản ánh của con người, nhờ
đó mà tri thức ngày càng đầy đủ và phong phú hơn
* Ngôn ngữ
- Ngôn ngữ là hệ thống những ký hiệu do con người sáng tạo ra để giao tiếp và trao đổithông tin Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ tự nhiên như: tiếng nói, và ngôn ngữ nhân tạo như:chữ viết, các bôn môn khoa học và một số ký hiệu khác…
- Chức năng của ngôn ngữ: giao tiếp, trao đổi thông tin, công cụ của tư duy; mọi thànhtựu của tư duy đều được thể hiện bằng ngôn ngữ
- Nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để hình thành ý thức Nguồn gốc tự nhiên của ý thứcmang tính tự nó Để hình thành ý thức phải có nguồn gốc tự nhiên, nhưng chỉ có nguồn gốc tựnhiên thì ý thức cũng không được hình thành, nhất thiết phải có nguồn gốc xã hội
- Vì vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và thực tiễn xã hội Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con
người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức lẩn phẩm xã hội, là mộthiện tượng xã hội Cho nên, hoạt động thực tiễn của con người càng phong phú, đa dạng,phức tạp; ngôn ngữ càng hoàn thiện thì ý thức càng đầy đủ và sâu sắc
2.2 Bản chất của ý thức
- Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan, chủ nghĩa duy vật biện
chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh: về bản chất, coi ý thức làvsự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Để hiểu bản chất của ý thức, chúng ta cần lưu ý:
Trước hết, chúng ta thừa nhận cả vật chất và ý thức đều tồn tại, nhưng giữa chúng có sựkhác nhau mang tính đối lập:
+ Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được phản ánh, nó tồn tạikhách quan, ở bên ngoài và độc lập với cái phản ánh tức là ý thức
+ Cái phản ánh – tức là ý thức, là hiện thực chủ quan, là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, nó không có tính vậtchất
Thứ hai, khi nói cái phản ánh – tức ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan, thì đó không phải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật Ý thức làcủa con người, nó có tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội
- Theo C Mác, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”.
* Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này mang tínhchất hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết
Trang 23Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Đây là quátrình sáng tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hóa các đối tượng vật chất thành các ýtưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là,chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực hóa
tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ýtưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực
- Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh dựa trên những tư liệu, nhữngquy luật vận động, phát triển của các trạng thái vật chất để dự báo sự tồn tại của chúng trongnhững điều kiện không gian và thời gian nhất định Tính sáng tạo này được thực tiễn chứngminh
- Ý thức còn chủ động tác động vào hiện thực khách quan, tìm phương pháp thích hợp
để phản ánh hiện thực khách quan
* Tính xã hội của ý thức:
- Ý thức phản ánh hiện thực khách quan trên cơ sở kế thừa thành tựu ý thức của các thế
hệ trước, sử dụng các phương tiện, phương pháp, ngôn ngữ xã hội để phản ánh, là sự nỗ lựccủa một số thành viên của cộng đồng, vì vậy kết quả phản ánh mang tính xã hội sâu sắc
- Nhu cầu hoạt động của xã hội là động lực cho quá trình phản ánh, cho ý thức hìnhthành
- Mọi thành tựu của ý thức (dưới dạng tri thức khoa học, công nghệ) là sản phẩm của xãhội, phải được xã hội kiểm nghiệm và sử dụng
* Tính trừu tượng của ý thức:
- Phương tiện phản ánh của ý thức là ngôn ngữ mang tính trừu tượng
- Kết quả phản ánh của ý thức mang tính khuynh hướng, không hoàn toàn trùng khít vớihiện thực khách quan, khi nhận thức phải có tính trừu tượng hoá cao
- Phản ánh hiện thực khách quan của ý thức phải bằng tư duy trừu tượng
2.3 Kết cấu của ý thức
a Theo các yếu tố hợp thành (có 5 bộ phận)
- Tri thức, là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới, nó được tái hiệntrong tư tưởng dưới dạng quy luật, những mối quan hệ bản chất của thế giới thông qua ngônngữ
- Tình cảm, là sự cảm động (rung động) của cá nhân hay cộng đồng với hiện thực kháchquan hay chính bản thân cá nhân hay cộng đồng
- Niềm tin, lòng tin đã được củng cố bởi tri thức
- Lý trí, là sự kiên định theo ý thức mà cá nhân hay cộng đồng tin tưởng
- Ý chí, là quyết tâm của cá nhân hay cộng đồng trong quá trình hoạt động
b Theo chiều sâu của nội tâm (có 3 bộ phận)
Trang 24- Tự ý thức, là ý thức về vị trí và vai trò của bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức
về thế giới bên ngoài
- Tiềm thức, là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã gần như trởthành bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạngtiềm tàng, để khi có điều kiện sẽ xuất hiện mà không cần có sự kiểm soát chúng một cách trựctiếp
- Vô thức, là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái
độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bêntrong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí
+ Vô thức biểu hiện dưới nhiều hiện tượng khác nhau như: bản năng ham muốn, giấc
mơ, bị thôi miên, mặc cảm, sự lỡ lời, trực giác…Chúng có chức năng giải tỏa những ức chếtrong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng, nhất là những ham muốn bản năng không được phépbộc lộ ra và thực hiện trong quy tắc của đời sống cộng đồng Nó góp phần lập lại thế cânbằng trong hoạt động tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức,
ấm ức như: “libiđô”
+ Nhờ vô thức mà con người tránh được tình trạng căng thẳng khi làm việc quá tải.+ Vô thức nằm trong con người có ý thức, nó giữ vai trò chủ đạo trong con người là ýthức chứ không phải vô thức Nhờ có ý thức mới điều khiển được các hiện tượng vô thứchướng tới chân, thiện, mỹ Vô thức chỉ là một mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của conngười
III MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Vai trò của vật chất đối với ý thức
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức; nội dung của ý thức là sự phản ánh đối vớivật chất
- Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ý thức là sự phảnánh đối với sự biến đổi của vật chất
- Vật chất quyết định khả năng phản ánh sáng tạo của ý thức
- Vật chất là nhân tố quyết định phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức trong hoạtđộng thực tiễn
2 Vai trò của ý thức đối với vật chất
- Tác dụng phản ánh thế giới khách quan
- Tác dụng cải biến sáng tạo thế giới khách quan
- Giới hạn và điều kiện tác dụng năng động sáng tạo của ý thức
- Ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao, vật chất là nguồn gốc của ý thức,nhưng ý thức có tính độc lập tương đối nên có khả năng tác động để cải tạo hiện thực kháchquan
- Trong hoạt động thực tiễn, con người phải ý thức về mục đích, phương pháp, kết quả
để huy động những lực lượng vật chất phù hợp nhằm đạt đến kết quả
Trang 25- Kiên trì thực hiện mục tiêu đề ra, nhạy bén ứng xử trước mọi tình huống.
3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Xuất phát từ khách quan: tôn trọng hiện thực khách quan, quy luật khách quan Cácnhân tố khách quan tác động quyết định nhưng các yếu tố này luôn vận động, biến đổi, phảibám sát diễn biến của hiện thực khách quan Vì vậy, “mọi đường lối, chủ trương của Đảng
phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.
- Phát huy tính năng động chủ quan: nhờ đó mà biến khả năng của các yếu tố kháchquan thành hiện thực Nhân tố chủ quan chính là con người nên khi con người nắm chắc quyluật và các yếu tố khách quan, nhạy bén xử lý tình huống trong quá trình hoạt động thì sẽmang lại thành công trong hoạt động thực tiễn
- Chống chủ quan duy ý chí, nghĩa là không được tuyệt đối hóa ý chí của con người,không tin tưởng một cách mù quáng, luôn gắn lý luận với thực tiễn, coi thực tiễn – nhất làthực tiễn của từng địa phương, và của nước ta là cơ sở, là nguồn gốc và động lực của nhậnthức./
Trang 26Vấn đề 3 CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
TS Nguyễn Trọng Thóc
I PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
1.2 Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
- Lịch sử hình thành phép biện chứng đã trải qua ba hình thức cơ bản: Phép biện chứngchất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, phép biện chứng duy vật
a Phép biện chứng chất phác thời cổ đại:
- Thuyết Âm - Dương trong triết học phương Đông cổ, trung đại
- Hai thế lực Âm-Dương không tồn tại biệt lập mà quan hệ với nhau theo các nguyên lý:+ Âm - Dương thống nhất thành Thái cực: Tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa
và cái duy nhất Tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi
+ Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm: Khả năng biến đổi của Âm-Dương đã baohàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực
- Tư tưởng biện chứng của Lão Tử cho rằng, toàn bộ thế giới bị chi phối bởi hai luật
phổ biến là luật quân bình và luật phản phản phục, trong đó luật quân bình luôn giữ cho sự
vận động của các sự vật, hiện tượng được cân bằng theo một trật tự điều hoà trong tự nhiên,không có gì thái quá, không có gì bất cập
- Luật phản phục nói rằng, cái gì phát triển tột độ thì sẽ trở thành cái đối lập với nó.Luật phản phục còn có nghĩa là trở về với đạo tự nhiên - Vô vi, tức là trở về với cái gốc củamình Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa xungkhắc nhau, vừa nương tựa và bao hàm lẫn nhau
- Các tư tưởng biện chứng trong triết học phương Tây cổ, trung đại
- Thuật ngữ “phép biện chứng”- dialectika có nguyên gốc là dialektike - được Xôcrát(469 - 399 tr CN) sáng tạo ra và sử dụng theo nghĩa là nghệ thuật dẫn dắt đàm thoại, đối
Trang 27thoại, nghệ thuật tranh luận các vấn đề hai bên cùng quan tâm với mục đích đạt được chân lýbằng con đường đối lập các ý kiến của họ với nhau.
- Platôn cho rằng phép biện chứng chính là đối thoại, đối thoại là "mổ xẻ" lôgíc chia vàkết hợp các khái niệm đang tồn tại trực tiếp trong các câu hỏi và các câu trả lời (hỏi - đáp) vàdẫn các khái niệm đó tới chân lý
- Hêraclít (540 - 480 tr CN) đã thể hiện tương đối rõ quan niệm của mình về phép biệnchứng, ông cho rằng, phép biện chứng là môn khoa học nghiên cứu về sự vận động và pháttriển: “chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trênsông”, “ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới”
Nói cách khác, phép biện chứng - theo cách hiểu của các triết gia Hy Lạp lúc bấy giờ, lànghệ thuật phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận giữa những người đối thoại Họ cho rằng, đã
là tri thức đúng, đã là chân lý thì không thể có mâu thuẫn trong chân lý đó và quá trình để chotri thức trở thành chân lý là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong lập luận
Các quan niệm trên của các triết gia Hy Lạp cổ đại về phép biện chứng dần dần đem lạicho phép biện chứng những quan niệm về sự vận động và phát triển của những mâu thuẫn để
đi tới những tri thức đúng - tức đi tới chân lý
Tóm lại, phép biện chứng cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ với những hìnhthức điển hình trong triết học Hy Lạp, Trung Quốc cổ đại…
* Đó chỉ là những tư tưởng biện chứng tự phát, bởi vì các nhà triết học chỉ nghiên cứunguồn gốc nhằm mục đích chỉ ra bức tranh tổng thể về thế giới chứ chưa có mục đích đưa ramột hệ thống các quy luật, phạm trù của phép biện chứng, chính vì vậy mà các tư tưởng biệnchứng này chưa thể trở thành một hệ thống lý luận của nhận thức, chưa thể trở thành công cụ
để nhận thức và cải tạo thế giới
* Đó cũng là những tư tưởng biện chứng ngây thơ, bởi vì các triết gia đó cho rằng, vậtchất được tạo nên bởi một hay một vài các dạng cụ thể của vật chất và mọi sự vận động củavật chất đều bắt nguồn từ sự biến đổi của các dạng cụ thể đó Các dạng cụ thể của vật chất thìvận động vĩnh viễn, còn thế giới vật chất thì tồn tại trong dạng tĩnh, đứng im
Như vậy, phép biện chứng cổ đại là hình thức đầu tiên, là cơ sở để phép biện chứng duyvật xuất hiện Do tính tự phát, ngây thơ mà nó không có giá trị khoa học cao Tuy vậy, các tưtưởng biện chứng cổ đại cũng đóng góp vai trò của mình trong việc chống lại những tư tưởngsiêu hình và tôn giáo thời đó
b Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức:
- Phép biện chứng duy tâm xuất hiện vào thời cổ đại và cùng với sự phát triển của cuộcsống, của khoa học, phép biện chứng ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới,phong phú hơn, phát triển thành hệ thống vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX trong triếthọc cổ điển Đức Là duy tâm, nhưng phép biện chứng với những hạt nhân hợp lý của nó đã cónhững đóng góp to lớn trong lịch sử triết học và cho cả sự phát triển của phép biện chứng
Trang 28I Cantơ (1724 1804) là người sáng lập, được Phíchtơ (1762 1814), Selinh (1775 1854), Hêghen (1770 - 1831) kế thừa, sáng tạo.
Sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập là sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhaucủa các mặt đối lập, là động lực của sự vận động và phát triển của vật chất Động lực là sựthống nhất và thâm nhập lẫn nhau của sức hút và sức đẩy, nó có trước vật chất và sự vận độngcủa động lực đó tách rời vật chất (Cantơ)
- Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập của các sự vật, hiện tượng, mối liên hệphổ biến, sự thống nhất, sự phát triển của tự nhiên (Selinh)
- Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển nhưng chúng chỉ tồn tại trong ý thức conngười Mâu thuẫn thể hiện sự vận động đi lên của tư duy trong quá trình nhận thức (Phíchtơ)
* Phép biện chứng duy tâm của Hegel
- Ph Hegel (1770-1834, duy tâm khách quan, triết học cổ điển Đức) là nhà triết học lầnđầu tiên sử dụng thuật ngữ "phép biện chứng" gần với khái niệm phép biện chứng ngày nay.Ông đã khái quát những quy luật cơ bản của phép biện chứng Tuy mới chỉ trong lĩnh vựctinh thần, nhưng cũng đã nêu lên được những quan niệm về vận động và phát triển
- Phép biện chứng của Hêghen đã bao quát cả ba lĩnh vực, bắt đầu từ các phạm trù lôgícthuần tuý cho đến lĩnh vực tự nhiên, tinh thần và kết thúc bằng biện chứng của toàn bộ quátrình lịch sử Trong phép biện chứng của mình, Hêghen đã thể hiện được những hình thứcchung của sự vận động Ông cũng là nhà triết học đầu tiên khái quát lên những quy luật cơbản của phép biện chứng, mà trước hết là quy luật về lượng - chất, quy luật phủ định của phủđịnh
- Sai lầm có tính nguyên tắc của Hêghen nằm ở chỗ, theo ông, biện chứng của ý niệm (ýthức) sản sinh ra biện chứng của sự vật (vật chất) Tuy vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác đánh giá rất cao phép biện chứng của Hêghen
- Trong Tư Bản, quyển I, tập 1, Lời tựa cho bản tiếng Đức, in lần thứ hai, C.Mác viết vềphép biện chứng của Hêghen:“Tính chất thần bí mà phép biện chứng mắc phải khi nằm trong tay Hêghen không ngăn cản ông trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có
ý thức những hình thức vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng đi ngược đầu xuống đất; chỉ cần đảo xuôi lại lên hai chân thì sẽ phát hiện ra các hạt nhân hợp
lý ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”.
2 Phép biện chứng duy vật
- Kế thừa có phê phán và phát triển CNDV và phép biện chứng trong lịch sử triết học,
đồng thời, dựa vào các thành tựu của khoa học, C.Mác và Ph Ăngghen đã sáng tạo, V.I Lêninbảo vệ và phát triển CNDV biện chứng và CNDV lịch sử, đem lại cho phép biện chứng mộthình thức mới về chất, đó là phép biện chứng duy vật Vì vậy, phép biện chứng duy vật khôngnhững chỉ là thế giới quan mà còn là phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thếgiới
Trang 29- Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen định nghĩa: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tất nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
- Phép biện chứng duy vật có nội dung rất phong phú, bởi đối tượng phản ánh của nó làthế giới vật chất vô cùng vô tận, là khoa học phản ánh những quy luật chung nhất, phổ biếnnhất về sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có ý nghĩa khái quátnhất Đây là hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật V.I.Lênin đã gọi phép biện chứng duy vật là "linh hồn sống" của chủ nghĩa Mác, là cái quyết định trong chủ nghĩa Mác
và là phương pháp chung nhất để nhận thức và cải tạo hiện thực, cải tạo thế giới khách quan
- Các phạm trù và quy luật của phép biện chứng duy vật vừa là quy luật của thế giớikhách quan, vừa là quy luật của nhận thức Đó cũng là sự thống nhất giữa phép biện chứng, lýluận nhận thức với lôgíc biện chứng
II CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.1 Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
a Những quan điểm khác nhau trong lịch sử triết học
- Quan điểm siêu hình về sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, được phổbiến rộng rãi, trước hết trong khoa học tự nhiên, rồi sau đó trong triết học thế kỷ XVII -XVIII, khi trình độ khoa học tự nhiên còn bị hạn chế, mới chỉ dừng lại ở phương pháp sưu tậptài liệu bằng cách các ngành khoa học nghiên cứu thế giới trong sự tách rời từng bộ phậnriêng lẻ, vì vậy, quan niệm của phương pháp siêu hình về sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng
và các quá trình của thế giới là những cái tồn tại tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, hếtcái này đến cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và chuyển hoá lẫnnhau, nếu có thì đó chỉ là những mối liên hệ ngẫu nhiên, hời hợt bên ngoài Giới vô cơ không
có mối liên hệ gì với giới hữu cơ, xã hội con người chỉ là tổng số đơn giản của những cá thểriêng lẻ, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính tách rời nhau…
- Quan điểm siêu hình đã sai lầm khi dựng lên “ranh giới giả tạo" giữa các sự vật, hiệntượng; đối lập các ngành nghiên cứu khoa học với nhau Vì vậy, phương pháp siêu hìnhkhông có khả năng phát hiện ra cái chung, cái bản chất và quy luật của sự vận động, pháttriển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
- Quan điểm biện chứng duy vậtvề sự tồn tại của sự vật, hiện tượng là khoa học về mốiliên hệ phổ biến
+ Câu hỏi: Các sự vật, hiện tượng của thế giới thế giới tồn tại như thế nào?
Trả lời: Các sự vật, hiện tượng đó tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy địnhlẫn nhau, thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau và tách biệt nhau
Trang 30+ Câu hỏi: Cơ sở của sự tồn tại đó là gì?
Trả lời: Là tính thống nhất vật chất của thế giới - các sự vật, hiện tượng đa dạng trongthế giới chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.Ngay cả nội dung của ý thức cũng chỉ là kết quả của sự phản ánh các sự vật, hiện tượng củathế giới vật chất vào bộ não con người và được chuyển hoá đi ở trong đó
+ Như vậy, khi khẳng định rằng, thế giới thống nhất ở tính vật chất được tạo thành từnhững sự vật, hiện tượng cụ thể khác nhau, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: thế giới làmột chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành nên thế giới đótồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau
và tách biệt nhau
b Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
"Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến"
- Các sự vật, hiện tượng trong thế giới không tồn tại một cách biệt lập mà chúng là mộtthể thống nhất tác động, ràng buộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến nói lên rằng, mọi mối liên hệ hay tác động qua lại giữacác sự vật, hiện tượng, giữa các mặt đối lập trong một thể thống nhất chính là sự vận động, lànguyên nhân tạo ra sự vận động, chuyển hoá của thế giới vật chất
1.2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến
a Tính khách quan của mối liên hệ
- Phép biện chứng duy vật khảng định tính khách quan của các mối liên hệ, tác động củabản thân thế giới vật chất: Có mối liên hệ, tác động giữa các sự vật, hiện tượng vật chất vớinhau Có mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với cái tinh thần Có cái liên hệ giữa những hiệntượng tinh thần với nhau, như mối liên hệ và tác động giữa các hình thức của quá trình nhậnthức Các mối liên hệ, tác động đó, xét đến cùng, đều là sự phản ánh mối liên hệ và sự quyđịnh lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan
b Tính phổ biến của mối liên
- Các mối liên hệ tác động qua lại, quy định, chuyển hoá và tách biệt nhau không nhữngdiễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, mà còn diễn ra trong cácmặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
- Trong tự nhiên có mối liên hệ giữa thực vật và động vật, giữa cơ thể sống và môitrường Trong xã hội có mối liên hệ giữa các cá nhân, giữa các tập đoàn người, giữa các quốcgia Trong lĩnh vực nhận thức có mối liên hệ giữa các hình thức và các giai đoạn của quátrình nhận thức với nhau
c Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ phổ biến
- Giữa các giai đoạn, các quá trình khác nhau trong sự phát triển của bản thân một sựvật, hiện tượng cũng có mối liên hệ với nhau Có mối liên hệ về mặt không gian và cũng cómối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ chungtác động lêntoàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác độngtrong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự
Trang 31vật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượngtác động lẫn nhau thông qua nhiều khâu trung gian Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mốiliên hệngẫu nhiên. Có mối liên hệbản chất đóng vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của
sự vật và cũng có mối liên hệkhông bản chất chỉ đóng vai trò phụ thuộc Có mối liên hệ chủ yếu và có mối liên hệthứ yếu, v.v…
- Để phân biệt được các dạng của các mối liên hệ đã kể trên, chúng ta phải tuỳ thuộc vàotính chất và vai trò của từng mối liên hệ Tuy vậy, các dạng của các mối liên hệ chỉ có ý nghĩatương đối, không thể tuyệt đối hoá một dạng liên hệ nào, bởi vì các mối liên hệ của các sựvật, hiện tượng là rất phức tạp, không thể xem xét chúng trong sự tách rời với tất cả các mốiliên hệ khác Tất cả các dạng của các mối liên hệ cần phải được nghiên cứu cụ thể trong sựbiến đổi và phát triển của chúng
d Một số mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
- Trong hiện thực khách quan tồn tại các mối liên hệ cơ bản có tính quy luật giữa nhữngphạm trù trong từng cặp như: Liên hệ cái riêng, cái chung và cái đơn nhất; liên hệ nguyên nhân và kết quả; liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên; liên hệ nội dung và hình thức; liên hệ bản chất và hiện tượng; liên hệ trực tiếp và liên hệ gián tiếp; liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài,
- Khi nghiên cứu các cặp phạm trù của các mối liên hệ, chúng ta cần liên hệ chúng vớinhau, bởi vì thế giới khách quan là muôn hình, muôn vẻ, cho nên, dù quan trọng đến mấy, chỉriêng các cặp phạm trù sẽ không phản ánh được mối liên hệ bản chất của thế giới một cáchđầy đủ Đồng thời phải xem xét các mối liên hệ cụ thể xác định mới hiểu được vị trí của cácmối liên hệ
2 Nguyên lý về sự phát triển
2.1 Những quan điểm khác nhau về sự phát triển
a Quan điểm siêu hình
- Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình, nói chung, phủ nhận sự pháttriển, tuyệt đối hoá mặt ổn định của các sự vật, hiện tượng Phát triển chỉ là sự tăng lên hoặcgiảm đi về mặt lượng, chỉ là sự tuần hoàn, lặp đi, lặp lại mà không có sự thay đổi về chất,không có sự ra đời của cái mới và nguồn gốc của sự "phát triển" đó nằm ngoài sự vật, hiệntượng
b Quan điểm biện chứng
- Phát triển là sự vận động đi lên, cái mới thay thế cái cũ
- Sự vận động đó có thể xẩy ra theo ba hướng: vận động từ thấp lên cao; vận động từđơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
- Tuỳ theo các lĩnh vực khác nhau mà sự phát triển thể hiện ra khác nhau Thực vật pháttriển từ thấp đến cao, sinh vật phát triển từ đơn giản đến phức tạp, văn minh xã hội phát triển
từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Trang 32- Đặc điểm của sự phát triển là sự phát triển có tính tiến lên theo đường xoáy ốc, có tính
kế thừa giữa cái cũ và cái mới, phát triển dường như lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn
- Theo V.I.Lênin, sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng và phép siêu hình về sựphát triển: "Hai quan điểm cơ bản về sự phát triển (sự biến hoá): Sự phát triển coi như là giảm
đi và tăng lên, như là lặp lại và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập (sựphân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ lẫn nhaugiữa các mặt đối lập ấy) Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệmthứ hai là sinh động, cho ta chìa khoá của sự "tự vận động" của tất cả mọi cái đang tồn tại, chỉ
có nó mới cho ta chìa khóa của những "bước nhảy vọt" của sự "gián đoạn của tính tiệm tiến",của sự "chuyển hoá thành mặt đối lập", của sự "tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới"
- Như vậy, quan điểm biện chứng đối lập với quan điểm siêu hình về sự phát triển ở chỗ:
Nó coi sự phát triển như là một quá trình tiến lên thông qua những bước nhảy vọt, cái cũ mất
đi, cái mới ra đời, vạch ra nguồn gốc bên trong của sự vận động và phát triển, đó là sự đấutranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng Vì thế, V.I.Lênin cho rằng, họcthuyết về sự phát triển của phép biện chứng duy vật là "hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và khôngphiến diện"
d Phân biệt vận động và phát triển
- Sự phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung, mà chỉ khái quát xuhướng vận động đi lên của sự vật, hiện tượng mới thay thế sự vật, hiện tượng cũ Do đó, pháttriển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động
- Sự phát triển khác nhau, tuỳ thuộc vào các hình thức tồn tại của các dạng vật chất cụthể
- Tính kế thừa của sự phát triển được thể hiện ở chỗ mọi sự vật, hiện tượng mới ra đời
từ cái cũ, chứ không phải ra đời từ hư vô Vì vậy, trong sự vật, hiện tượng mới giữ lại, cóchọn lọc và cải tạo những mặt còn thích hợp của sự vật, hiện tượng cũ để chuyển sang cái
Trang 33mới, gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản trởcho sự phát triển.
+ Sự tự thân phát triển là sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt
đối, phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với cái cũ, mà là sự phủ định có
tính kế thừa
- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển:
+ Tuy sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy, nhưng mỗi sựvật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau
+ Tính đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thờigian, vào các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó
3 Nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và về
sự phát triển
3.1 Quan điểm toàn diện
- Mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhauchứ không tách rời, cô lập nhau Do vậy, khi xem xét sự vật, hiện tượng cụ thể chúng ta phải
có quan điểm toàn diện
- Quan điểm toàn diện là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của phương phápbiện chứng Mácxít Quan điểm toàn diện yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu tất cả các mối liên
hệ, mọi sự tác động qua lại của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu với các sự vật, hiện tượngkhác Phải nghiên cứu các mối liên hệ của các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượngđó
3.2 Quan điểm phát triển
- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức được rằng, muốn nắmđược bản chất của sự vật, hiện tượng, nắm được khuynh hướng phát triển của chúng thì phải
có quan điểm phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ
- Quan điểm phát triển yêu cầu khi phân tích sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vậnđộng, phải phát hiện được các xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng V.I.Lênin cho rằng,
"Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự "tự vận động" "trong
sự biến đổi của nó".
3.3 Quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu phải đặt sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu vàotrong không gian và thời gian nhất định, nghĩa là phải nghiên cứu quá trình vận động của sựvật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai của nó./
Trang 34Vấn đề 4 CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.2 Phạm trù triết học và các phạm trù của các khoa học cụ thể
- Mỗi bộ môn khoa học đều có hệ thống phạm trù riêng Các phạm trù rộng nhất phản
ánh các mối liên hệ phổ biến ở cả ba lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy gọi là phạm trù triếthọc
- Giữa các phạm trù của triết học và của các khoa học cụ thể có mối liên hệ với nhau Đó
là quan hệ giữa cái chung với cái riêng
2 Cái chung và cái riêng
2.1 Khái niệm cái riêng và cái chung
Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quátrình riêng lẻ nhất định
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chungkhông những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà nó còn được lặp lại trong nhiều sự vật,hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác
Cần phân biệt “cái riêng” với “cái đơn nhất” Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để
chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính v.v chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chấtnhất định mà không lặp lại ở sự vật hay kết cấu vật chất khác
2.2 Quan hệ giữa “cái riêng”, “cái chung”
Trong lịch sử triết học đã từng có các quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa cáiriêng, cái chung
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cả cái chung, cái riêng đều tồn tại khách quan,giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau, thể hiện ở chỗ:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại củamình
Trang 35- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung Nghĩa là không có cái riêngtồn tại độc lập không liên hệ với cái chung.
- Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, còn cái chung là cái bộ phận, nhưngsâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung nócòn bao hàm cái riêng
2.3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu hiện sự tồn tại của
mình, nên chỉ có thể tìm ra cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật
và hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoàicái riêng
- Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất, chi phối cái riêng, nên trong nhận thức phải tìm
ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng
- Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, “cái đơn nhất”
có thể biến thành “cái chung” và ngược lại, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phảitạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung”, và “cáichung” bất lợi cho con người trở thành “cái đơn nhất”
3 Bản chất và hiện tượng
3.1 Khái niệm bản chất và hiện tượng
Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng hợp của tất cả những mặt, những mốiliên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của
sự vật
Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất Cần lưu ý:
- Bản chất chính là mặt bên trong, tương đối ổn định của hiện thực khách quan Nó ẩnđằng sau cái vẻ bề ngoài của hiện tượng và biểu lộ qua những hiện tượng ấy Còn hiện tượng
là mặt bên ngoài, mặt di động và biến đổi của hiện thực khách quan Nó là hình thức biểuhiện của bản chất
- Phạm trù bản chất gắn bó chặt chẽ với phạm trù cái chung, nhưng không đồng nhất vớiphạm trù cái chung Cái chung là cái bản chất, song cũng có cái chung không phải là bảnchất
- Phạm trù bản chất cũng đồng thời là cái có tính quy luật Tuy nhiên, chúng không đồngnhất với nhau Phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn phạm trù quy luật
3 2 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
- Quan điểm duy tâm không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa bản chất và hiện
tượng vì họ không thừa nhận hoặc không hiểu sự tồn tại khách quan giữa bản chất và hiện
Trang 36- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách
quan, là cái vốn có của sự vật, không do ai sáng tạo ra Giữa bản chất và hiện tượng có mốiquan hệ biện chứng, vừa thống nhất gắn bó chặt chẽ với nhau, vừa mâu thuẫn đối lập nhau
Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ở chỗ:
+ Bản chất luôn bộc lộ ra thông qua hiện tượng, còn hiện tượng là biểu hiện của bảnchất
+ Bản chất và hiện tượng về căn bản là phù hợp với nhau Bản chất được bộc lộ ra thôngqua những hiện tượng tương ứng Bản chất nào thì hiện tượng ấy, bản chất khác nhau thì sẽbộc lộ những hiện tượng khác nhau Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũngthay đổi theo Khi bản chất biến mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng biến mất theo
- Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất của bản chất và hiện tượng: Không phải bảnchất và hiện tượng phù hợp với nhau hoàn toàn mà luôn bao hàm sự mâu thuẫn nhau:
+ Mâu thuẫn thuẫn này thể hiện ở chỗ, bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, quyếtđịnh sự tồn tại phát triển của sự vật, còn hiện tượng phản ánh cái riêng, cái cá biệt Cùng mộtbản chất biểu hiện ra nhiều hiện tượng khác nhau tuỳ theo sự thay đổi của điều kiện hoàncảnh Vì vậy, hiện tượng thường phong phú hơn bản chất, còn bản chất sâu sắc hơn hiệntượng Bản chất là cái tương đối ổn định, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi
+ Mâu thuẫn này còn thể hiện ở chỗ, bản chất là mặt bên trong là cái sâu xa của hiệnthực khách quan, còn hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan đó Bản chấtkhông bộc lộ ra hoàn toàn ở một hiện tượng mà biểu hiện ở nhiều hiện tượng khác nhau Hiệntượng không biểu hiện ra hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện ra một khía cạnh của bản chất,biểu hiện dưới một hình thức của bản chất đã biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất
3.3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Bản chất không tồn tại thuần tuý mà tồn tại trong sự vật và biểu hiện ra thông qua hiện
tượng Vì vậy, muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ sự vật, hiện tượng,
từ quá trình thực tế Hơn nữa, bản chất của sự vật thường không biểu hiện đầy đủ trong mộthiện tượng nhất định nào đó, và cũng biến đổi trong quá trình phát triển của sự vật
- Do vậy, cần phải phân tích, tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là nhữnghiện tượng điển hình mới có thể hiểu rõ được bản chất của sự vật Có thể nói, nhận thức bảnchất của sự vật là một quá trình phức tạp, đi “từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâusắc đến bản chất sâu sắc hơn, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai, đến vô tận“(V.I.Lênin)
- Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong của sự vật, hiện tượng, quy
định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Vì vậy, nhận thức sự vật không nên chỉdừng lại ở hiện tượng mà cần phải đi sâu vào bản chất của sự vật Còn trong hoạt động thựctiễn, phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật,không dựa vào hiện tượng
Trang 374 Tất nhiên và ngẫu nhiên
4.1 Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên
- Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bêntrong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúngnhư thế chứ không thể khác
- Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái không do bản thân kết cấu của sự vật,
mà do nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của hoàn cảnh bên ngoài quyết định; do đó, nó
có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, có thể xuất hiện như
thế khác Cần lưu ý:
- Một số tác giả đồng nhất phạm trù tất nhiên với phạm trù cái chung Có người lại đồngnhất cái tất nhiên với tính nhân – quả, và tưởng rằng chỉ có cái tất nhiên mới có nguyên nhân.Một số tác giả lại gắn tính tất nhiên với tính quy luật, gắn tính ngẫu nhiên với tính không tuântheo quy luật Đó là những quan điểm không đúng
- Một số nhà duy tâm trong lịch sử đã cho rằng, trong tự nhiên chỉ có cái ngẫu nhiên chứkhông có cái tất nhiên Ngược lại, các nhà duy vật trước Mác tuy thừa nhận sự tồn tại kháchquan của tất nhiên và coi đó là một trong những thuộc tính cơ bản của giới tự nhiên, nhưng họlại không thống nhất với nhau trong việc thừa nhận tính khách quan của ngẫu nhiên Hoặcmột số nhà duy vật khác thừa nhận sự tồn tại khách quan của cả tất nhiên và ngẫu nhiên,nhưng lại không thừa nhận sự liên hệ lẫn nhau giữa chúng, thậm chí, coi chúng là những nhân
tố loại trừ lẫn nhau
Tất cả các quan điểm trên đều không phản ánh đúng bản chất của cả tất nhiên và ngẫunhiên cũng như mỗi quan hệ giữa chúng với các yếu tố khác trong hiện thực
4.2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và
đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật
- Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng đều không tồn tại biệt lập dưới
dạng thuần tuý
- Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất
hữu cơ ấy thể hiện ở chỗ, cái tất nhiên bao giờ cũng cũng thể hiện sự tồn tại của mình thôngqua vô số cái ngẫu nhiên Còn cái ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên
- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể thay thế lẫn nhau, theo nghĩa thay đổi theo thời gian,
hoặc trong các điều kiện khác nhau có thể thay thế vị trí cho nhau
4 3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Vì tất nhiên gắn liền với bản chất của sự vật, là cái nhất định xảy ra theo quy luật nội
tại của sự vật, còn ngẫu nhiên là cái không gắn với bản chất nội tại của sự vật, nó có thể xảy
Trang 38ra, có thể không xảy ra Do vậy, trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải dựa vào tấtnhiên.
- Vì ngẫu nhiên tuy không chi phối sự phát triển của sự vật, nhưng nó lại có ảnh hưởngtới sự phát triển của sự vật, đôi khi có sự ảnh hưởng khá sâu sắc Vì vậy, trong hoạt động thựctiễn, ngoài các phương án chính, người ta còn cần chủ động đặt ra các phương án dự phòng
để chủ động đáp ứng những sự biến ngẫu nhiên có thể xảy ra
- Vì tất nhiên không tồn tại thuần tuý mà bộc lộ ra thông qua vô vàn cái ngẫu nhiên, do
vậy muốn nhận thức tất nhiên phải thông qua việc thực hiện nghiên cứu, phân tích, so sánhvới rất nhiều ngẫu nhiên Vì không phải cái chung nào cũng là cái tất yếu, nên khi nghiên cứungẫu nhiên không chỉ dừng lại ở việc tìm ra cái chung, mà cần phải tiến sâu hơn nữa trongviệc tìm ra cái chung tất yếu
- Ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển thành tất nhiên, do vậy trong nhận
thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không được xem nhẹ bỏ qua ngẫu nhiên,mặc dù trong những trường hợp cụ thể nó không quyết định sự phát triển của sự vật
5 Nguyên nhân và kết quả
5.1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là phạm trù triết học chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sựvật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định
- Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫnnhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra
Lưu ý: Không nên hiểu nguyên nhân và kết quả nằm ở hai sự vật hoàn toàn khác nhau.Cũng cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, nguyên nhân với điều kiện Nguyên cớ làdấu hiệu trực tiếp làm cho nguyên nhân chuyển thành kết quả Điều kiện là yếu tố, môitrường cần có để nguyên nhân chuyển hoá thành kết quả
5.2 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn
kết quả bao giờ cũng chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện
Lưu ý: Không phải hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là thể hiện mốiquan hệ Nhân - Quả; nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vàonhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau
- Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân: khách quan do nguyên nhân sinh
ra, nhưng sau khi xuất hiện kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnhhưởng đó diễn ra theo hai chiều hướng: thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (tích cực),hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (theo hướng tiêu cực)
Trang 39- Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau, nghĩa là một sự vật hiện tượng
nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả vàngược lại
5.3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Mối liên hệ Nhân - Quả có tính khách quan và phổ biến, nghĩa là không có sự tồn tại
của sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Cần phải tìmhiểu nguyên nhân từ trong bản thân thế giới hiện thực chứ không phải từ trong thế giới tinhthần chủ quan
- Vì nguyên nhân có trước kết quả, nên muốn biết nguyên nhân của một hiện tượng nào
đó cần tìm trong các sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện
-Vì kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, những nguyên nhân này lại có vai trò
khác nhau trong việc hình thành kết quả, nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải biếtphân loại các nguyên nhân Phải biết phân biệt đâu là nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủyếu, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, v.v Đồng thời, phải nắm được chiềuhướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có các biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho cácnguyên nhân tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của các nguyên nhân
có tính chất tiêu cực
- Kết quả tác động trở lại đối với nguyên nhân, vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta
cần phải biết tận dụng khai thác các kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân phát huytác dụng để đạt được các mục đích đề ra
6 Nội dung và hình thức
6.1 Khái niệm nội dung và hình thức
- Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả những mặt, những yếu tố, những quátrình tạo nên sự vật
- Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ những phương thức tồn tại và phát triểncủa sự vật, là hệ thống trong các mối liên hệ tơng đối bền vững giữa các yếu tố của các sự vậtđó
Lưu ý: Trong cặp phạm trù nội dung và hình thức, phép biện chứng duy vật chủ yếumuốn nói đến hình thức bên trong gắn liền với nội dung, là cơ cấu của nội dung chứ khôngphải là hình thức bên ngoài của sự vật
6.2 Mối quan hệ của nội dung và hình thức
a Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức
- Nội dung và hiện tượng luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất.Không có hình thức nào tồn tại thuần tuý không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không
có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định nội dung nào hình thức đó
- Nội dung và hình thức tồn tại không tách rời nhau, nhưng không phải vì thế mà lúc nào
Trang 40- Không phải một nội dung bao giờ cũng được thể hiện ra trong một hình thức nhất định
và không phải một hình thức bao giờ cũng chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung cóthể có nhiều hình thức thể hiện, một hình thức có thể được thể hiện nhiều nội dung khácnhau
b Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức
- Trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, khuynh hướng chủ đạo chung của nộidung là luôn biến đổi, còn khuynh hướng chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậmbiến đổi hơn so với nội dung Trong quá trình phát triển của sự vật thì nội dung biến đổi trướcđến một độ nhất định sẽ làm cho hình thức biến đổi theo cho phù hợp
c Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung.
- Vì hình thức phong đa dạng, phú hơn nội dung, do đó khi hình thức phù hợp với nộidung sẽ làm cho nội dung phát triển sâu sắc hơn,
6.3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Vì nội dung và hình thức luôn gắn bó với nhau trong quá trình vận động, phát triển của
sự vật, do vậy trong nhận thức không được tách rời tuyệt đối giữa nội dung và hình thức Đặcbiệt, cần chống chủ nghĩa hình thức
- Cùng một nội dung trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức, ngược lại một
hình thức có thể có nhiều nội dung khác nhau Do đó, trong hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội,cần chủ động sử dụng nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng mọi yêu cầu của thực tiễn xã hộitrong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau
- Nội dung quyết định hình thức, do vậy để nhận thức và cải tạo sự vật, trước hết cần
phải căn cứ vào nội dung
- Do hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với nội dung, do vậytrong hoạt động thực tiễn phải thường xuyên đối chiếu giữa nội dung và hình thức, làm chohình thức luôn phù hợp với nội dung để thúc đẩy nội dung phát triển
7 Khả năng và hiện thực
7.1 Khái niệm khả năng và hiện thực
Khả năng và hiện thực là hai phạm trù triết học dùng để phản ánh mối quan hệ biệnchứng giữa những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự (hiện thực) với những gì hiện chưa có,
nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiện tương ứng (khả năng) Lưu ý:
+ Dấu hiệu để phân biệt khả năng và hiện thực là ở chỗ, khả năng là cái hiện chưa có,chưa tới, còn hiện thực là cái hiện đã có, đã tới Nếu không phân biệt được dấu hiệu này cóthể dẫn tới việc đồng nhất giữa khả năng với hiện thực, hoặc đồng nhất giữa khả năng với tiền
đề, khả năng với các điều kiện của một cái gì đó