Đề tài Tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế trong Thi hành án Dân sự Năm học 2015 2016 Mục lục A. Phần mở đầu 5 1. Tính cấp thiết của đề tài 5 2. Mục đích nghiên cứu đề tài 5 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài 5 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5 B. Phần nội dung 6 Chương I. Một số vấn đề luận về Các biện pháp cưỡng chế trong THADS 6 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về các biện pháp cưỡng chế thi hành án : 6 1.1 Khái niệm 6 1.2 Đặc điểm 6 1.3 Ý nghĩa BPCC THADS 7 2. Điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự : 7 2.1. Người phải THÁ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định 7 2.2 Người phải THÁ không tự nguyện THÁ 8 2.3 Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án . 8 3. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự 8 3.1 Chấp hành viên mới có quyền áp dung các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. 9 3.2 Chấp hành viên áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do pháp luật quy định. 9 3.3 Trường hợp không được tô chức cưỡng chế thi hành án dân sự trong thời gian pháp luật uy định không được cưỡng chế thi hành án dân sự. 9 3.4 Chấp hành viên có quyền áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng phải tương ứng với nghĩa vụ thi hành án mà ngừoi phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án. 10 4. Căn cứ cưỡng chế thi hành án. 10 4.1 Đối với biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án căn cứ được xác định là: 10 4.2 Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. 11 4.3 Khai thác tài sản của người phải thi hành án 11 4.4 Buộc trả vật, giấy tờ, chuyển giao quyền sử dụng đất. 11 4.5 Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định. 11 5. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 11 5.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án. 11 5.2 Khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 13 5.3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 14 5.4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án 15 5.5 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định 16 5.6 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ 17 Chương II. Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS 17 1 Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự 17 2. Khó khăn trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế 20 2.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án. 20 2.2 Khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Error Bookmark not defined. 2.3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 22 2.4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án 26 2.5 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định 26 2.6 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ 27 3. Nguyên nhân vướng mắc trong việc thi hành các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự. 27 3.1 Nguyên nhân khách quan 27 3.2 Nguyên nhân chủ quan 28 4. Những bất cập đến từ quy định của pháp luật về các biện pháp cưỡng chế THADS 28 4.1 Thiếu cơ sở pháp lý 28 4.2 Mâu thuẫn pháp luật 29 Chương III. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS 29 1. Về cơ chế quản lý công tácTHA 29 2 Một số ý kiến khác 30 C. Phần kết luận 32 LỜI NÓI ĐẦU Bài viết của nhóm xoay quanh câu hỏi định hướng nghiên cứu : “Tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế trong THADS” Tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta sử dụng những cơ sở phân chia khác nhau để “Tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế trong THADS” Bài viết trình bày theo kết cấu bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó, phần nội dung có 3 chương: Chương I. Một số vấn đề luận về Các biện pháp cưỡng chế trong THADS Chương II. Thực trạng áp dụng Các biện pháp cưỡng chế trong THADS Chương III. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng Các biện pháp cưỡng chế trong THADS Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng những phương pháp như phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh dựa trên những số liệu thu thập được… Từ đó có thể thấy được sự cần thiết của việc tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế trong THADS. Bài viết dưới đây sẽ cụ thể hóa sự cần thiết đó. A. Phần mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Thi hành án dân sự là việc đưa bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án áp dụng vào thực tế nhằm bảo đảm một cách tối ưu nhất quyền và lợi ích của các bên đương sự cũng như đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế không phải quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật nào cũng được các bên đương sự tự nguyện thực hiện. Chính vì vậy những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là rất quan trọng và việc nghiên cứu về các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự là thực sự cần thiết tạo cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế trên thực tế. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài Với tính cấp thiết được đặt vấn đề nêu ra, bài nghiên cứu của nhóm với mục đích trả lời câu hỏi định hướng nghiên cứu: “Tìm hiểu về biện pháp cưỡng chế trong THÁDS?” Để trả lời được câu hỏi lớn cho cả bài, nhóm nghiên cứu tiến hành trả lời những câu hỏi nghiên cứu nhỏ sau đây: Biện pháp cưỡng chế trong THADS là gì? (Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, điều kiện áp dụng, nguyên tắc các dụng, căn cứ áp dụng…) Có những biện pháp cưỡng chế nào? Thực trạng thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong THADS. Từ đó, đề ra một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Nhóm muốn tìm hiểu một cách rõ ràng, cụ thể nhất về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự , vấn đề áp dụng các biện pháp này trên thực tiễn có những bất cập hạn chế như nào từ đó đề ra những biện pháp để giải quyết những tồn tại đó 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài • Phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, và phép biện chứng MacLênin. • Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài nhóm đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: • Phương pháp tổng hợp, thống kê nhằm tổng hợp và thống kê những số liệu từ nhiều nguồn; • Phương pháp phân tích, đánh giá nhằm phân tích số liệu, báo cáo tổng kết hằng năm nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết trong việc nắm bắt tình hình thực tế; • Phương pháp so sánh dùng cho việc so sánh đối chiếu số liệu, thông tin thu thập, từ đó rút ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được để kịp thời bổ bổ sung, đồng thời xem xét những vướng mắc tìm cách giải quyết. B. Phần nội dung Chương I. Một số vấn đề luận về Các biện pháp cưỡng chế trong THADS
Trang 1
- -
Đề tài
Tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế
trong Thi hành án Dân sự
Năm học 2015 - 2016
Trang 2Mục lục
A Phần mở đầu 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 5
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 5
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
B Phần nội dung 6
Chương I Một số vấn đề luận về Các biện pháp cưỡng chế trong THADS 6
1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về các biện pháp cưỡng chế thi hành án : 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Đặc điểm 6
1.3 Ý nghĩa BPCC THADS 7
2 Điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự : 7
2.1 Người phải THÁ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định 7
2.2 Người phải THÁ không tự nguyện THÁ 8
2.3 Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án 8
3 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự 8
3.1 Chấp hành viên mới có quyền áp dung các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 9
3.2 Chấp hành viên áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do pháp luật quy định 9
3.3 Trường hợp không được tô chức cưỡng chế thi hành án dân sự trong thời gian pháp luật uy định không được cưỡng chế thi hành án dân sự 9
3.4 Chấp hành viên có quyền áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng phải tương ứng với nghĩa vụ thi hành án mà ngừoi phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án 10
4 Căn cứ cưỡng chế thi hành án 10
4.1 Đối với biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án căn cứ được xác định là: 10
4.2 Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 11
4.3 Khai thác tài sản của người phải thi hành án 11
4.4 Buộc trả vật, giấy tờ, chuyển giao quyền sử dụng đất 11
4.5 Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định 11
5 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 11
5.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án 11
5.2 Khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 13
Trang 35.4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án 15
5.5 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định 16
5.6 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ 17
Chương II Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS 17
1 Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự 17
2 Khó khăn trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế 20
2.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án 20
2.2 Khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Error! Bookmark not defined 2.3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ 22 2.4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án 26
2.5 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định 26
2.6 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ 27
3 Nguyên nhân vướng mắc trong việc thi hành các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự 27
3.1 Nguyên nhân khách quan 27
3.2 Nguyên nhân chủ quan 28
4 Những bất cập đến từ quy định của pháp luật về các biện pháp cưỡng chế THADS 28
4.1 Thiếu cơ sở pháp lý 28
4.2 Mâu thuẫn pháp luật 29
Chương III Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS 29
1 Về cơ chế quản lý công tácTHA 29
2 Một số ý kiến khác 30
C Phần kết luận 32
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Bài viết của nhóm xoay quanh câu hỏi định hướng nghiên cứu1: “Tìm hiểu về các
biện pháp cưỡng chế trong THADS”
Tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta sử dụng những cơ sở phân
chia khác nhau để “Tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế trong THADS” Bài viết trình
bày theo kết cấu bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong
đó, phần nội dung có 3 chương:
Chương I Một số vấn đề luận về Các biện pháp cưỡng chế trong THADS
Chương II Thực trạng áp dụng Các biện pháp cưỡng chế trong THADS
Chương III Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng Các biện pháp cưỡng chế trong THADS
Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng những phương pháp như phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh dựa trên những số liệu thu thập được…
Từ đó có thể thấy được sự cần thiết của việc tìm hiểu về các biện pháp cưỡng chế trong THADS Bài viết dưới đây sẽ cụ thể hóa sự cần thiết đó
1 “Câu hỏi định hướng nghiên cứu là câu hỏi mà người nghiên cứu phải trả lời được (giải quyết được) trong công
trình nghiên cứu mình định tiến hành Câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu chính là luận điểm khoa học của tác giả”
Trang 5A Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Với tính cấp thiết được đặt vấn đề nêu ra, bài nghiên cứu của nhóm với mục đích trả
lời câu hỏi định hướng nghiên cứu: “Tìm hiểu về biện pháp cưỡng chế trong THÁDS?”
Để trả lời được câu hỏi lớn cho cả bài, nhóm nghiên cứu tiến hành trả lời những câu hỏi nghiên cứu nhỏ sau đây:
Biện pháp cưỡng chế trong THADS là gì? (Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, điều kiện
áp dụng, nguyên tắc các dụng, căn cứ áp dụng…)
Có những biện pháp cưỡng chế nào?
Thực trạng thực hiện các biện pháp cưỡng chế trong THADS
Từ đó, đề ra một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nhóm muốn tìm hiểu một cách rõ ràng, cụ thể nhất về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự , vấn đề áp dụng các biện pháp này trên thực tiễn có những bất cập hạn chế như nào từ đó đề ra những biện pháp để giải quyết những tồn tại đó
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
• Phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
• Phương pháp so sánh dùng cho việc so sánh đối chiếu số liệu, thông tin thu thập,
từ đó rút ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được để kịp thời bổ bổ sung, đồng thời xem xét những vướng mắc tìm cách giải quyết
Thi hành án dân sự là việc đưa bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án áp dụng vào thực tế nhằm bảo đảm một cách tối ưu nhất quyền và lợi ích của các bên đương sự cũng như đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên trên thực tế không phải quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật nào cũng được các bên đương sự tự nguyện thực hiện Chính vì vậy những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là rất quan trọng và việc nghiên cứu về các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự là thực sự cần thiết tạo cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế trên thực
tế
Trang 6B Phần nội dung
Chương I Một số vấn đề luận về Các biện pháp cưỡng chế trong THADS
1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về các biện pháp cưỡng chế thi hành án :
1.1 Khái niệm
Để hiểu được khái niệm “ Cưỡng chế thi hành án” thì cần làm rõ một số khái niệm liên quan sau:
“Cưỡng chế” là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc một cá nhân, tổ chức phải thực
hiện trái với ý muốn của họ.2 Như vậy, về bản chất khái niệm cưỡng chế có 2 vấn đề: một
là, phải có sử dụng quyền lực nhà nước; Hai là bắt buộc cá nhân, tổ chức thực hiện trái với ý muốn của họ
“Cưỡng chế thi hành án dân sự” là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện
pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do chấp hành viên dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án3
Cưỡng chế THÁDS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của Cơ quan THÁ do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải THÁ) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải THÁ có điều kiện THÁ mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THÁ tẩu tán, hủy hoại tài sản.4
Cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động thường xuyên được thực hiện trong công tác thi hành án dân sự Áp dụng khi các bản án , quyết định không được tự nguyện thi hành Hiệu quả hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác thi hành án”
Cưỡng chế thi hành án dân sự đây là một biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành án , thể hiện việc Cơ quan thi hành án sử dụng trong quá trình tổ chức thi hành án , thể hiện việc việc Cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên
1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, Cưỡng chế THÁ thể hiện quyền năng của Nhà nước (đại diện là cơ quan
THÁDS), bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm bản án, quyết định được thi hành nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.Phải do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện Không chủ thể nào được sử dụng sức mạnh để cưỡng chế Chỉ có Chấp hành viên (Thừa phát lại) - đại diện cho cơ quan THÁDS là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPCC THÁDS
2 Giáo trinh “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012, tr 194
Trang 7Thứ hai, Cưỡng chế THADS được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người
phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của tòa án Phải do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện Không chủ thể nào được sử dụng sức mạnh để cưỡng chế Chỉ có Chấp hành viên (Thừa phát lại) - đại diện cho cơ quan THÁDS là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPCC THÁDS
Thứ ba, đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành
vi của người phải thi hành án.Mục đích của BPCC THÁDS không nhằm trừng trị người phải THÁ mà chỉ nhằm buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự của họ
Thứ tư, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người bị áp dụng
ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ như trong bản án, quyết định do tòa án tuyên họ con phỉa chịu chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự Do người phải THÁ không tự nguyện THÁDS nên họ mới phải chịu các BPCC áp dụng và đây đều là lỗi của họ
Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được chấp hành viên quyết định áp dụng không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự mà còn có hiệu lực cả đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan
1.3 Ý nghĩa BPCC THADS
Mục đích của BPCC trong THÁDS là để buộc người phải THÁ thực hiện nghĩa vụ THÁ của họ để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THÁ Bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh thể hiện quyền lực, sức mạnh của nhà nước Đây là giải pháp có hiệu quả nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải THÁ, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Cũng như là các công cụ quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THÁ Việc kết thúc quá trình THÁ kéo dài và tránh cho người phải THÁ không phải chịu thêm những tổn thất về vật chất của người được THA cũng như người phải THA Đặc biệt, cũng góp phần giúp cho cơ quan THÁDS nhanh chóng hoàn thành nhiệm
vụ, giải quyết xong yêu cầu THÁ của đương sự
2 Điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự :
Để áp đụng được biện pháp cưỡng chế thi hành án, cần phải hội tụ các điều kiện sau đây:
Một là, Người phải THÁ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện
hành vi theo bản án, quyết định
Hai là, Người phải THÁ không tự nguyện THÁ
Ba là, Người phải THÁ có điều kiện THÁ
Cụ thể những điều kiện của thi hành án được thể hiện như sau:
2.1 Người phải THÁ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định
Người thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án , quyết định của tòa án , quyết định của Tòa án , quyết định trọng tài , quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý cạnh tranh ;
Trang 82.2 Người phải THÁ không tự nguyện THÁ
Cho thấy, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ được áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ và hành vi phải thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, nhất là phải có thái độ và hành vi không tự nguyện thi hành án khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án.Theo khoản 6, Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm
2008, có điều kiện thi hành là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản, tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án
Khoản 2, Điều 9 Luật thi hành án dân sự quy định: “Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của luật này” Khoản 1 Điều 45 Luật thi hành án dân sự quy định: “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày , kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”
Như vậy, qua các quy định ở trên rút ra điều kiện bắt buộc phải thỏa mãn đủ thì chấp hành viên mới có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án là :
2.3 Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
Khái niệm “có điều kiện thi hành án “đã được giải thích ở khoản 6 Điều 3 Luật thi hành án dân sự, theo đó các trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản, tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành
án
Để xác định là người phải thi hành án có điều kiện chấp hành án có điều kiện thi hành , chấp hành viên phải tiến hành xác minh một cách đầy đủ và toàn diện , các nguồn cung cấp thông tin phải đáng tin cậy
Đã hết thời gian tự nguyện thi hành án
So với pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 , Luật thi hành án dân sự đã có quy định khác về thời gian tự nguyện thi hành án
Theo pháp lệnh trước đây thì thời gian tự nguyện thi hành án do chấp hành viên ấn định nhưng tối đa không quá 30 ngày Đến nay , theo Luật thi hành án dân sự thì đối với mọi trường hợp người phải thi hnahf án đều có thời gian tự nguyện thi hành án là 15 ngày, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán , hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có thể áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế thi hành án mà không cần phải đợi hết thời gian tự nguyện thi hành án
3 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp nghiêm khắc nhất, do đó, Chấp
hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án không được áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Theo quy định tại Điều 45, Điều 46 và Điều 47 LTHADS thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trang 93.1 Chấp hành viên mới có quyền áp dung các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Theo pháp luật hiện hành thì chấp hành viên được Nhà nước giao trọng trách
trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự và là chủ thể có quyền quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để thi hành án Ngoài chấp hành viên được Nhà nước trao quyền thi việc các chủ thể khác tự tổ chức việc cưỡng bức thi hành án bằng sức mạnh để “xiết nợ”, “bắt nợ” đều được coi là trái pháp luật Vì xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn thì Chấp hành viên là chủ thể được quyền quyết định áp dụng các BPCC để THÁDS
3.2 Chấp hành viên áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do pháp luật quy định
Ý nghĩa của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nhằm đảm bảo thi hành
nghĩa vụ của người phải thi hành án, tuy nhiên các biện pháp này cũng rất dễ xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của họ và những liên quan đến những tài sản bị cưỡng chế thi hành án Do vậy, để tránh sự lạm quyền của những chủ thể đượ ctrao quyền trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự, pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế cụ thể chấp hành viên có quyền áp dụng, điều kiện, thủ tục áp dụng Do vậy, khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định Theo quy định tại Điều 71 LTHADS thì chấp hành viên có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự sau:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản, thi hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi
hành án
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ
ba giữ
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất
định
Ngoài ra khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án chấp hành viên phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật về điều kiện, thủ tục cưỡng chế
3.3 Trường hợp không được tô chức cưỡng chế thi hành án dân sự trong thời gian pháp
luật uy định không được cưỡng chế thi hành án dân sự
Để việc thi hành án dân sự không ảnh hưởng đến xac hội, cộng đồng, vì mục đích
nhân đạo và tôn trọng phong tục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau trong Điều 46 LTHADS và Điều 8 Nghị định của Chính phủ số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 như sau:
- Không được cưỡng chế thi hành án trong khoảng thời gian từ 22h đến 6h sáng hôm sau
Trang 10- Không được cưỡng chế thi hành án trong các ngày nghỉ theo quy định của pháp luật lao động, 15 ngày trước và sau tết nguyên đán, các ngày truyền thống đối với cá đối tượng chính sách là người phải thi hành án
3.4 Chấp hành viên có quyền áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng phải tương ứng với nghĩa vụ thi hành án mà ngừoi phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự không những là buộc người phải thi hành
án thực hiện nghĩa vụ thi hành án để đảm bảo quyền lợi của người thi hành án mà còn phải bảo đảm cả quyền và lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án Do vậy, trách nghiệm của chấp hành viên khi áp dụng biệp pháp cưỡng chế thi hành án phải xác định được biện pháp cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ mà người phải thi hành án pahri thi hành để không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngừoi phải thi hành án
4 Căn cứ cưỡng chế thi hành án
Theo Điều 70 Luật THADS năm 2014, căn cứ chung tổ chức cưỡng chế gồm có:
4.1 Đối với biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án căn cứ được xác định là:
- Theo bản án, quyết định của tòa án thì người phải thi hành án phải thi hành nghĩa
vụ trả tiền
- Có căn cứ để xác định người phải thi hành án có tài khoản, có tiền hoặc giấy tờ có giá để thi hành án
- Hết thời hạn tự nguyện đã được chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành haowjc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huy hoại tài sản hoặc trốn tránnh việ cthi hành
án
Trang 114.2 Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
- Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
- Theo thỏa thuận của đương sự
- Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án
không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án
c Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lí tài sản của người pahri thi hành án
- Theo bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án
- Ngừoi phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa vụ tar tiền cho người được thi hành án
- Đã hết thời hạn tự nguyện do chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi ành án không tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần nagưn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản
4.3 Khai thác tài sản của người phải thi hành án
- Tài dản của người phải thi hành án có giá trị quá lợm so với nghĩa vụ phải thi hành
và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án
- Người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba
4.4 Buộc trả vật, giấy tờ, chuyển giao quyền sử dụng đất
- Người phải thi hành án có nghĩa vụ trả lại tài sản cho người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó tho bản án, quyết định của tòa án
- Đối tượng cưỡng chế của biện pháp cưỡng chế này là tài sản thuộc quyền sở hữu,
sử dụng của người được thi hành án chứ không phải là tài ản thuộc quyền sở hữu của người pahri thi hành án
- Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án
4.5 Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
- Theo bản án, quyết định của tòa án
5 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
5.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án
Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, được
Trang 12áp dụng trong trường hợp người thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án có đang có tiền trong tài khoản hoặc đang sở hữu tài sản có giá
Nếu người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, mà họ đang giữ tiền, giấy tờ có giá hoặc gửi tại kho bạc, tổ chức tín dụng thì biện pháp cưỡng chế này sẽ là biện pháp cưỡng chế đầu tiên được áp dụng
Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người thi hành án được quy định tại các Điều 76, 79, 80, 81, 82 và 83 Luật Thi hành án Dân sự
2014 có những nguyên tắc và điều kiện sau: Chấp hành viên có quyền quyết định áp dụng BPCC khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THÁ Theo bản án, quyết định của Tòa án thì người phải THÁ phải thi hành nghĩa vụ trả tiền Áp dụng BPCC này phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải THÁ Có căn cứ để xác định người phải THÁ có tài khoản, có tiền hoặc giấy tờ có giá để THÁ BPCC này có thể được áp dụng trong trường hợp người phải THÁ có tiền, giấy tờ có giá và bản thân họ đang giữ các tài sản này hoặc đang do người thứ ba giữ Chỉ sau khi xác minh người phải THÁ có tiền, tài khoản, giấy tờ có giá thì Chấp hành viên mới áp dụng BPCC này
Đối tượng của biện pháp này là tiền và giấy tờ có giá Tiền bị cưỡng chế có thể là tiền trong ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tiền mà họ đang giữ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh hàng ngày và tiền do người thứ ba giữ Nhóm BPCC này bao gồm:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản để THÁ: Áp dụng khi người phải THÁ có tài khoản (dựa trên thông tin từ người được THÁ cung cấp hoặc do Chấp hành viên xác minh) tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước… Khi đã xác định người phải THÁ có tiền gửi hoặc có tiền trong tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng thì Chấp hành viên lập biên bản về tình trạng tiền trong tài khoản và ra quyết định khấu trừ tương ứng với nghĩa vụ của người phải THÁ
- Thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THÁ: Có thể xảy ra hai trường hợp: Thứ nhất, người phải THÁ đang nắm giữ tiền, giấy tờ có giá: Chấp hành viên ra quyết định thu tiền tương ứng với nghĩa vụ THÁ của người phải THÁ.Nếu người phải THÁ có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh để THÁ Nếu người không THÁ không chịu giao giấy tờ có giá thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ
đó để THÁ.Thứ hai, người phải THÁ có tiền hoặc giấy tờ có giá nhưng đang do người thứ ba giữ: Chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó và người thứ ba đang giữ tiền phải có nghĩa vụ giao nộp số tiền đang giữ cho Chấp hành viên Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang giữ giấy tờ có giá của người phải THÁ mà khi Chấp hành viên yêu cầu nhưng không giao nộp thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ có giá đó để THÁ
Trang 13Nhìn chung những quy định này đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 về vấn đề khấu trừ, thu hồi xử tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án Tuy nhiên còn một số điểm mà pháp luật quy định chưa được phù hợp
Ví dụ: Nếu người phải Thi hành án có tài khoản từ ngân hàng nhưng nguồn lợi thu được
từ việc tài sản đó là nguồn sống duy nhất của họ và gia đình, ngoài ra họ không có tài sản nào khác mà người có thẩm quyền thi hành án khấu trừ hết nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế thì người phải thi hành án không đảm bảo được cuộc sống
Như vậy, để phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta thì pháp luật thi hành
án dân sự phải quy định theo hướng người có thẩm quyền thi hành án không được khấu trừ hết số tiền trong tài khoản của người thi hành án để thực hiện nghĩa vụ mà nguồn lợi thu được từ việc gửi tài sản đó là nguồn sống duy nhất của người phải thi hành án và gia đình họ
5.2 Khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải THA là một trong các BPCC THA dân
sự được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định Người THA có thu nhập thực tế và không tự nguyện thi hành
Biện pháp trừ vào thu nhập được quy định tại Điều 78 luật THA dân sự 2008 Giống với đối tượng của biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, đối tượng của biện pháp này cũng là tiền Nhưng thu nhập theo quy định của BPCC biện pháp trừ vào thu nhập khác với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của biện pháp khấu khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá Theo quy định của pháp luật, tiền bị cưỡng chế
là thu nhập của người phải THA gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác
Việc trừ vào thu nhập của người phải THA được thực hiện theo thỏa thuận của đương sự; Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải THA; THA cấp dưỡng, THA theo định kỳ, khoản tiền phải THA không lớn hoặc tài sản khác của người phải THA không đủ để THA
Nguyên tắc áp dụng BPCC trừ vào thu nhập: Chỉ áp dụng BPCC sau khi đã hết thời hạn tự nguyện THÁ; Sau khi hết thời hạn tự nguyện THÁ, nếu xác định được người phải THÁ có thu nhập tương đối ổn định mà không tự nguyện THÁ thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế THÁ Áp dụng trong trường hợp người phải THÁ có thu nhập nhưng không tự nguyện THÁ Chỉ được áp dụng khi có đủ 3 điều kiện:Người phải THÁ phải thi hành nghĩa vụ trả tiền; Bản án, quyết định được thi hành quyết định người phải THÁ có nghĩa vụ trả tiền thì Chấp hành viên mới áp dụng; Số tiền mà người phải THÁ phải trả cho người được THÁ thường không lớn hoặc phải trả theo định kỳ.Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải THÁ nếu có căn cứ xác định người phải THÁ có thu nhập (tương đối ổn định) để khấu trừ: Nhằm để bảo đảm cả
Trang 14quyền lợi của những người liên quan đến việc THÁ thì Chấp hành viên chỉ ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải THÁ sau khi đã xác định người phải THÁ có thu nhập Mức trừ cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải THA, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật Đối với lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính thì mức đối với tiền lương, bảo hiểm xã hội tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng
số tiền lương, bảo hiểm xã hội được hưởng Đối với những khoản thu nhập khác, tỷ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 50% tổng số thu nhập
5.3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải THA là một trong các BPCC THA dân sự, được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định Người THA chỉ có tài sản và không tự nguyện THA
Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người THA được quy định tại các Điều 74, Điều 75, Điều 84, từ Điều 89 đến Điều 98 và Điều 111 luật THA dân sự 2008 Theo đó, đối tượng của biện pháp này là tài sản bao gồm: tài sản là vật, vốn gốp, nhà ở, tài 12 sản gắn liền với đất, phương tiện giao thông, hoa lợi, quyền sở hữu trí tuệ và quyền sử dụng đất
Theo Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 quy định “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Từ đó có thể thấy, hai đối tượng là tiền và giấy tờ có giá không được pháp luật THA quy định được kê biên, xử lý Như vậy, có thể hiểu tài sản bị kê biên không bao gồm tiền, giấy tờ có giá
Những tài sản của người THA không được kê biên: Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải THA và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới; Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải THA và gia đình; Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải THA và gia đình; Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải THA và gia đình
Khi tiến hành kê biên tài sản của người phải THA, người có thẩm quyền THA phải phân biệt tài sản thuộc sở hữu chung hoặc đang có tranh chấp hay không
- Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung
Trang 15Tại Điều 74 luật THA dân sự 2008 quy định trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, người
có thẩm quyền THA phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế để họ thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án để xác định phần sở hữu của mình Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được THA hoặc người có thẩm quyền THA có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để bảo đảm THA
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì người có thẩm quyền THA xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được người có thẩm quyền THA xác định Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì người có thẩm quyền THA tiến hành xử lý tài sản và 13 thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải THA giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của
họ
- Trường hợp xử lý tài sản đang có tranh chấp
Người có thẩm quyền THA tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết Người có thẩm quyền THA xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người có thẩm quyền THA yêu cầu mà đương
sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để THA theo quy định của luật này
Sau khi đã xác định được, phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
Đối với tài sản chung có thể chia được thì người có thẩm quyền THA áp dụng BPCC phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải THA;
Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng
kể giá trị của tài sản thì người có thẩm quyền THA có thể áp dụng BPCC đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ
5.4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án
Biện pháp khai thác tài sản của người phải THA là một trong các BPCC THA dân
sự được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định mà tài sản của người phải THA có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản của người phải THA có thể khai thác để THA và không tự nguyện thi
Trang 16giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để THÁ; Người được THÁ đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để THÁ nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba
Biện pháp khai thác tài sản của người phải THA được quy định tại Điều 107 luật THA dân sự 2008 Theo đó, đối tượng của BPCC này là tài sản có thể khai thác.Tài sản
mà người phải THÁ đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác Tài sản chưa khai thác, Chấp hành viên yêu cầu người phải THÁ ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản Nếu không thực hiện, Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để THÁ Nếu việc khai thác không hiệu quả hoặc cản trở đến việc THÁ thì Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản kê biên, và xử lý tài sản đó để THÁ
Người có thẩm quyền THA cưỡng chế khai thác tài sản của người phải THA trong các trường hợp: Tài sản của người phải THA có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để THA; Người được THA đồng ý cưỡng chế khai 14 thác tài sản để THA nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba
Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp: việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc THA; Người phải THA, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của người có thẩm quyền THA về việc khai thác tài sản; Người phải THA đã thực hiện xong nghĩa vụ THA và các chi phí về THA; Có quyết định đình chỉ THA
5.5 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
Biện pháp buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định là một trong các BPCC THA dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ nhất định theo bản án, quyết định.Nhóm BPCC này có đặc điểm chung là tuyên bố và chấm dứt trên thực tế quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người này, đồng thời với việc xác lập quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người khác.Đối tượng cưỡng chế của biện pháp này là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải THÁ như trong trường hợp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Các trường hợp áp dụng: người phải THÁ phải thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản cho người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó theo bản án, quyết định hoặc trong trường hợp pháp luật có quy định Biện pháp buộc người phải THA thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định được quy định từ các Điều 118 đến Điều 121 luật THA dân sự 2008 Theo đó, đối tượng của biện pháp này là công việc nhất định phải thực hiện theo bản án, quyết định, chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện, giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định,
Trang 17buộc nhận người lao động trở lại làm việc Biện pháp kết thúc khi công việc được thực hiện
5.6 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
Biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản , giấy tờ là một trong các BPCC THA dân sự, được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ trả tài sản, vật và giấy tờ theo bản án, quyết định
Biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ được quy định tại các Điều 114, Điều 115, Điều 116 luật THA dân sự 2008 Theo đó, đối tượng của biện pháp này là việc chuyển giao, trả vật, tài sản, giấy tờ Xét về bản chất thì việc buộc chuyển giao vật, tài sản, giấy tờ cũng là nghĩa vụ thực hiện một công việc theo bản án của Tòa án Tuy nhiên, biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ có điểm khác so với biện pháp buộc người phải THA thực hiện công việc 9 Khoản 1 Điều
107 luật THA dân sự 2008 15 nhất định ở điểm đối tượng hướng đến một bên là vật đặt định, vật cùng loại, nhà ở, giấy tờ còn một bên là hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức như giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định, nhận người lao động trở lại làm việc
Tóm lại, các BPCC THA dân sự sẽ áp dụng trong những trường hợp khác nhau, đối tượng của những BPCC cũng khác nhau mà tựu chung lại đã bao hàm hết các đối tượng
có thể đảm bảo cho người được THA khôi phục lại tình trạng ban đầu của quan hệ xã hội
bị xâm hại Thứ tự của các BPCC THA cũng được người có thẩm quyền THA xem xét lựa chọn để áp dụng cho phù hợp với thực tế THA
Chương II Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS
1 Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Việc thi hành dứt điểm các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc
chưa có hiệu lực pháp luật mà được thi hành ngay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội5, giúp củng cố niềm tin của nhân dân
đối với pháp luật và chủ trương, chính sách của Nhànước
Để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ cho công
tác THA dân sự Cơ quan THA dân sự và văn phòng thừa phát lại cùng các cán
bộ công chức trong ngành cũng nỗ lực phấn đấu nâng cao kết quả công tác THA
dân sự Nhờ sự cố gắng đó mà nhiều bản án thi hành dứt điểm đảm bảo quyền
và lợi ích cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức Để rõ hơn, có thể tham khảo qua
bảng thống kê kết quả công tác THA dân sự trên toàn quốc từ năm2010-2014:
Bảng thống kê tình hình THA về việc qua các năm:
5 Trần Công Thịnh (2008), “Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự và một số