1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

90 208 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền do CHV áp dụng trong trường hợp n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THANH MAI

CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH

NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực Những kiến nghị, đề xuất trong Luận văn không sao chép của bất kỳ tác giả nào

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thanh Mai

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy giáo, cô giáo đang công tác và giảng dạy tại Trường Đại học Luật Hà Nội, những người đã giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và quá trình thực hiện luận văn

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo, TS Trần Anh Tuấn đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, các anh chị, bạn bè đã tạo quan tâm, giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập nghiên cứu!

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI

HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN……… 1

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 1

1.1.1 Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 1

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 4

1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 7

1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 8

1.3 Lược sử pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 12

1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 12

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 13

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1989 14

1.3.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay 17

1.4 Kinh nghiệm lập pháp một số nước về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 19

1.4.1 Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật Đức 19

1.4.2 Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật Pháp 20

1.4.3 Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật Nhật Bản 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN THEO PHÁP LUẬT THADS HIỆN HÀNH……… 26

2.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá của người phải thi hành án 26

2.1.1 Về điều kiện áp dụng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá 26

2.1.2 Về trình tự, thủ tục tiến hành biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá 28

2.1.3 Về mức khấu trừ tài khoản, thu tiền, giấy tờ có giá 31

2.2 Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 31

2.2.1 Về điều kiện áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 31

2.2.2 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án 33

Trang 6

2.3 Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án 37

2.3.1 Về điều kiện áp dụng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án 37

2.3.2 Các quy định về nguyên tắc kê biên tài sản 38

2.3.3 Tài sản không được kê biên 40

2.3.4 Thủ tục kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án 42

2.3.5 Kê biên tài sản trong một số trường hợp cụ thể 44

2.4 Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án 48

2.4.1 Về điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án 48

2.4.2 Thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN VÀ KIẾN NGHỊ………52

3.1 Thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 52

3.1.1 Một số kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 52

3.1.2 Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 54

3.1.3 Nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 66

3.2 Một số kiến nghị về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 67

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 67

3.2.2 Một số kiến nghị về thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75 KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thi hành án dân sự là hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền về tài sản và quyền về nhân thân của các bên đương sự và những người có liên quan Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa

án sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ về tài sản của các bên đương sự nên người phải thi hành án thường không tự nguyện thi hành án, tìm cách trốn tránh, thậm chí chống đối quyết liệt nhằm trì hoãn việc thi hành án Do vậy, để bảo đảm hiệu quả của công tác thi hành án thì bên cạnh việc giáo dục, thuyết phục đương sự tự giác thi hành án, trong nhiều trường hợp cần phải sử dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để buộc họ thi hành các bản án, quyết định mà Tòa án

đã tuyên

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án được nhà lập pháp quy định tương đối đa dạng, phù hợp với tính chất của từng nghĩa vụ phải thi hành Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền là một nhóm biện pháp chủ yếu trong số các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân

sự (THADS) Nghiên cứu số liệu thống kê cho thấy, số vụ án dân sự liên quan đến cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền chiếm tới 80% các vụ án được tuyên Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế Trước đây, trong các Pháp lệnh Thi hành án dân sự (PLTHADS) năm 1993, PLTHADS năm 2004 đều có qui định về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Tuy nhiên, qui định tại các pháp lệnh này còn chưa đầy đủ, thiếu tính cụ thể và hệ thống

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong các văn bản pháp luật trước đây, Luật Thi hành án dân sự Việt Nam năm 2008 (LTHADS) đã có những quy định khá chi tiết, cụ thể và có nhiều điểm mới tiến bộ về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện các quy định của Luật này về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cho thấy đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc nhất định, hạn chế của pháp luật và việc áp dụng pháp luật dẫn tới tình trạng án tồn đọng, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ một cách kịp thời và có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và quyền lợi hợp pháp của các đương sự khác trong thi hành án dân sự

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả

tiền” nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực

hiện nhằm đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của

Trang 8

là cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về THADS, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đề cập đến các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS chưa nhiều Cụ thể là về luận văn có Luận văn Thạc

sỹ Luật học của Nguyễn Công Long năm 2000, đề tài “Các biện pháp cưỡng chế thi

hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”, Luận văn Thạc sỹ Luật học của

Nguyễn Thanh Phong năm 2011, đề tài “Biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản trong thi

hành án dân sự”

Về giáo trình, sách chuyên ngành tham khảo, chuyên khảo đã xuất bản gồm cũng

đã có một số tài liệu đề cập đến vấn đề này như cuốn Luật Thi hành án dân sự Việt Nam –

Những vấn đề lý luận và thực tiễn do TS Nguyễn Công Bình (chủ biên) do Nhà xuất bản

CAND xuất bản năm 2007; Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự (phần nghiệp vụ) của Học viện tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp ban hành năm 2012; Một số vấn đề hoàn thiện

pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam của TS Lê Thu Hà do Nhà xuất bản CTQG xuất

bản năm 2011.v.v Bên cạnh đó, vấn đề cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng được

đề cập ở những khía cạnh nhất định thể hiện trong các đề tài nghiên cứu khoa học cấp

trường như đề tài Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự của Trường Đại học Luật do

TS Nguyễn Công Bình làm chủ nhiệm năm 2004; Những điểm mới của Luật Thi hành án

dân sự năm 2008 của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Bùi Thị Huyền làm chủ nhiệm

năm 2011

Ngoài ra, một số bài viết đăng trên các tạp chí cũng có đề cập tới vấn đề này như

bài viết “Các biện pháp cưỡng chế Thi hành án dân sự”, Tạp chí luật học, số 07/2007 của tác giả Trần Phương Thảo; bài viết “Quy định về cưỡng chế thi hành án – Những vấn đề

vướng mắc trong thực hiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 04/2008 của tác

giả Trần Danh Ẩn; “Những trường hợp đặc thù trong thi hành biện pháp cưỡng chế thi

hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 09/2011.v.v Các công trình trên

đã đề cập ở những khía cạnh nhất định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách có

hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS từ quy định của LTHADS năm 2008 tới những hướng dẫn chi tiết trong Nghị định số 58/2009/NĐ-CP

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 9

cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, nội dung các quy định của pháp luật THADS Việt Nam về nhóm các biện pháp cưỡng chế này và thực tiễn thực hiện chúng

Tuy vậy, do thời gian nghiên cứu của đề tài có hạn nên việc nghiên cứu đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi sau đây:

- Khái niệm, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS; nguyên tắc áp dụng và sự hình thành và phát triển của các quy phạm

về nhóm các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền từ trước năm 1945 đến nay Ngoài ra, luận văn còn tìm hiểu quy định của pháp luật một số nước về vấn đề này nhằm

so sánh, tham khảo

- Nội dung cụ thể của các quy định hiện hành về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện Từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật THADS và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trên thực tế

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp và so sánh.v.v

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm làm rõ các vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật THADS hiện hành và thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Từ đó, tìm ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật THADS về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền và nâng cao hiệu quả thực hiện chúng trên thực tế

Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS;

- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật THADS Việt Nam hiện hành về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền;

Trang 10

vụ trả tiền và từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trên thực tế

6 Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu một cách toàn diện và có hệ thống về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS và đạt được những kết quả sau đây:

biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS; từ đó, đưa ra các đặc điểm của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền để thấy được tính chất đặc biệt của nó

so với các biện pháp cưỡng chế THADS khác cũng như so với các biện pháp bảo đảm trong THADS Những vấn đề lý luận đó là cơ sở cho việc đánh giá, nghiên cứu qui định của pháp luật THADS hiện hành về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền và định hướng cho những đề xuất, kiến nghị của luận văn

Thứ hai: Luận văn đã phân tích, đánh giá một cách khoa học những qui định của

pháp luật THADS Việt Nam hiện hành về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Thứ ba: Luận văn đã đi vào nghiên cứu thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng

chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong thời gian gần đây Từ đó, chỉ ra một số kết quả đạt được cũng như phân tích được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đã đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền và một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận Trong

đó, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Chương 2: Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật THADS hiện hành

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền và kiến nghị

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ

THI HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

1.1.1 Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Theo cuốn Từ điển tiếng Việt thì khái niệm cưỡng chế được hiểu như sau: “Cưỡng

chế là dùng quyền lực Nhà nước để bắt phải tuân theo” [41, tr.302] Còn theo cuốn Từ điển

bách khoa Việt Nam thì giải thích: cưỡng chế là “Dùng quyền lực Nhà nước để bắt buộc

người khác thực hiện những việc làm trái với ý muốn của họ Cưỡng chế là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý Nhà nước” Theo giải thích ở Từ điển Luật học

thì “cưỡng chế là buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một

nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

[10, tr.204]

Như vậy, cưỡng chế là một khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước, là hiện tượng gắn liền với Nhà nước và là một phương thức sử dụng bảo đảm cho quyền lực Nhà nước Tại mỗi nước, tùy theo từng chế độ chính trị, tùy từng trình độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau mà

sử dụng các phương pháp cưỡng chế theo phương thức và mức độ khác nhau Trong hoạt động tư pháp, để đảm bảo tính hiệu lực của các bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên, Nhà nước đã phải định ra các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc khi các chủ thể có nghĩa vụ thi hành không tự nguyện thi hành Ở nước ta, thi hành án được chia làm hai lĩnh vực: THADS

và thi hành án hình sự Các quy định của pháp luật đối với các biện pháp cưỡng chế trong hai lĩnh vực này là khác nhau

Theo Điều 26 Bộ luật hình sự thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc

nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội” Có thể

phạt cũng đồng nghĩa với việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị kết án thi hành hình phạt và cưỡng chế thi hành án hình sự mang tính tuyệt đối, đối tượng của hình phạt đó là tài sản, quyền tự do thân thể và có thể là cả tính mạng

Ngược lại, cưỡng chế THADS lại có những điểm khác Đặc trưng của THADS là việc

tổ chức thi hành phần quyết định của Tòa án về tài sản hoặc một công việc nhất định khi các đương sự không tự nguyện thi hành Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản hoặc một công việc

pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án

Trang 12

Trong cuốn Luật thi hành án dân sự Việt Nam – Những vấn đề lí luận và thực tiễn

năm 2007 do TS Nguyễn Công Bình chủ biên thì biện pháp cưỡng chế THADS được coi là biện pháp bảo đảm thi hành án do pháp luật quy định [4, tr.199] Vấn đề này đã được tiếp tục

kế thừa và phát triển trong Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam năm 2011 của

Trường Đại học Luật Hà Nội với sự nhấn mạnh tính chất cưỡng bức khi người phải thi hành

án không tự nguyện thi hành án Theo đó, “biện pháp cưỡng chế THADS là biện pháp thi

hành án dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ THADS của họ, do CHV áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án” [36, tr.195]

Giáo trình Kỹ năng thi hành án dân sự (phần nghiệp vụ) do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành năm 2012 đưa ra khái niệm cưỡng chế THADS là “biện pháp cưỡng bức bắt buộc

của cơ quan THADS, do CHV quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định Cưỡng chế thi hành án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

mà không tự nguyện thi hành, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án

có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án” [17, tr.215] Khái niệm

này đã mô tả được bản chất và đặc điểm cơ bản của biện pháp cưỡng chế THADS đồng thời

mở rộng việc áp dụng đối với cả trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án

Xét theo luật thực định thì LTHADS năm 2008 được xây dựng dựa trên tính chất của loại biện pháp cưỡng chế thi hành để xác định 6 biện pháp cưỡng chế THADS tương ứng tại Điều 71 LTHADS Đó là, các biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án; Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định Mặc dù LTHADS không phân chia các biện pháp cưỡng chế THADS theo các nhóm nhưng căn cứ vào tính chất của loại nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án có thể phân chia các biện pháp cưỡng chế THADS thành ba nhóm như sau:

- Nhóm các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, bao gồm: biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án

- Nhóm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao tài sản gồm có các biện pháp cưỡng chế buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

Trang 13

- Nhóm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc phải làm hoặc không được làm công việc nhất định, gồm có các biện pháp cưỡng chế buộc phải làm công việc nhất định, cưỡng chế không được làm công việc nhất định

Kết quả nghiên cứu trên là tiền đề cần thiết để có thể tìm hiểu sâu hơn về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do NXB Giáo

dục phát hành năm 1996 thì “nghĩa vụ” là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc một người phải làm đối với xã hội, đối với người khác [41, tr.707]; “trả” là đưa lại cho người khác cái

đã vay, đã mượn của người ấy [41, tr.1160] Còn “tiền” là vật đúc bằng kim loại hay in bằng

giấy do ngân hàng phát hành, dùng chi tiêu, trao đổi hàng hóa [41, tr.1126] Như vậy, nếu lắp

ghép một cách cơ học thì “nghĩa vụ trả tiền” là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc một

người phải đưa lại cho người khác vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy do ngân hàng phát

hành mà đã vay, đã mượn của người ấy “Nghĩa vụ trả tiền” được giải thích trong Từ điển

Luật học là nghĩa vụ có đối tượng là một khoản tiền nhất định mà người có nghĩa vụ phải chuyển giao cho người có quyền đầy đủ số tiền, đúng thời hạn, địa điểm và theo phương thức

do các bên thỏa thuận hoặc theo qui định của pháp luật [10, tr.562] Theo logic hình thức, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì có thể hiểu nghĩa vụ trả tiền không chỉ bó hẹp trong phạm vi của đối tượng là tiền đúc bằng kim loại hay in bằng giấy mà được mở rộng gồm cả tài khoản, giấy tờ

có giá, quyền sở hữu trí tuệ và nghĩa vụ trả tiền cũng không chỉ phát sinh từ việc vay, mượn

mà còn phát sinh từ bồi thường thiệt hại, phân chia di sản thừa kế, thanh toán tiền chênh lệch giá trị tài sản, án phí

Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền là nhóm các biện pháp thuộc các biện pháp cưỡng chế thi hành án Cho nên, cũng giống như các biện pháp cưỡng chế thi hành

án khác, để áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, CHV căn cứ theo bản án, quyết định của Tòa án và xác định người phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa

vụ trả tiền đó Do đó, trước khi áp dụng biện pháp này cần phải xác minh điều kiện thi hành

án, tài sản có thể là tài sản riêng hoặc tài sản chung với người khác

Điểm khác biệt cơ bản giữa nhóm các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền với các nhóm biện pháp cưỡng chế khác là đối tượng để thi hành nghĩa vụ trả tiền chỉ có thể

là tài sản mà không bao gồm cả hành vi dân sự của người phải thi hành án như nhóm các biện pháp cưỡng chế khác

Ngoài ra, theo cách hiểu về cưỡng chế thi hành án như đã phân tích ở trên thì việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền được tiến hành khi người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền không tự nguyện thi hành trong thời gian tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện thi hành mà xét thấy cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành nghĩa vụ trả tiền

Trang 14

Nếu xét theo các biện pháp cần phải áp dụng để thi hành nghĩa vụ trả tiền thì biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bao gồm các biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang

do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án Theo đó, khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền do CHV áp dụng trong trường hợp người phải thi hành

án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án có tài khoản, tiền hoặc giấy tờ có giá nhưng không tự nguyện thi hành án hoặc cần ngăn chặn người phải thi hành án

có hành vi tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền do CHV áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án

có thu nhập để thi hành nhưng không tự nguyện thi hành án hoặc cần ngăn chặn người phải thi hành án trốn tránh việc thi hành án Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, được CHV áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng không tự nguyện thi hành án mặc dù có điều kiện thi hành án hoặc cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành

vi tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án Cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền do CHV áp dụng trong trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án không tự nguyện thi hành án mặc dù có tài sản có thể khai thác để thi hành án

Như vậy, về phương diện lý luận có thể khái quát như sau: Biện pháp cưỡng chế thi

hành nghĩa vụ trả tiền là tổng hợp các biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết đối với người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định của Trọng tài thương mại, được CHV áp dụng nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền của mình trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do CHV ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn các hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền là một nhóm biện pháp trong các biện pháp cưỡng chế THADS nên chúng có đầy đủ các đặc điểm của các biện pháp cưỡng chế THADS nói chung Bên cạnh đó, các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng mang những điểm đặc trưng riêng biệt để phân biệt với các nhóm biện pháp cưỡng chế THADS khác, như sau:

Trang 15

- Thứ nhất, người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định về dân

sự, có điều kiện thi hành án mà hết thời gian tự nguyện thi hành án vẫn không tự nguyện thi hành án

Nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án là nghĩa vụ mà theo bản án, quyết định của Tòa án thì người phải thi hành án phải trả, phải thanh toán, phải bồi thường, thanh toán tiền chênh lệch giá trị tài sản, án phí cho người được thi hành án Như vậy, người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền thì CHV mới có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành

phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên tài sản của người phải thi hành án; cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án Nghĩa vụ này chủ yếu được xác định trong các bản án hay quyết định của Tòa án

Thời gian tự nguyện THADS do pháp luật quy định, được tính từ khi người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Trong trường hợp xét

việc thi hành án thì CHV không cần xem xét đến điều kiện đã hết thời gian tự nguyện hay chưa

mà khi phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành nghĩa vụ trả tiền có thể áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

- Thứ hai, đối tượng của cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền chỉ là tài sản của người

phải thi hành án

Khác với thi hành án hình sự, các quy định và việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS nói chung và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng không nhằm mục đích trừng trị người phải thi hành nghĩa vụ Việc tước bỏ các lợi ích vật chất của bản thân người phải thi hành án là nhằm khôi phục những lợi ích về tài sản và các quyền dân sự của người khác đã bị người phải thi hành án gây tổn hại Người phải thi hành án trong cưỡng chế THADS nói chung phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hoặc hành vi dân sự của bản thân họ,

do đó, đối tượng cưỡng chế cũng chính là đối tượng nghĩa vụ dân sự Tài sản theo quy định

tại Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005, bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”

Tuy nhiên, đối với nhóm các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền thì đối tượng cưỡng chế thi hành án phải là tài sản Cụ thể, đối tượng của biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án được xác định là tiền trong tài khoản của người phải thi hành án có thể có ở ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước; có thể là tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (người đó là một cá nhân hoặc một tổ chức nào đó mà người phải thi hành

án đã xác lập quan hệ pháp luật gửi, giữ, cho thuê, cho mượn tài sản của mình) hoặc đang do người phải thi hành án giữ Còn đối với cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thì đối tượng của cưỡng chế là tiền lương, tiền

Trang 16

công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác của người phải thi hành án Đối tượng của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án là động sản, bất động sản hoặc quyền sở hữu trí tuệ Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án cũng có đối tượng là tài sản Như vậy, có thể thấy, đối tượng của các biện pháp thuộc nhóm cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền chung qui lại đều là tài sản

Ngược lại, các biện pháp cưỡng chế THADS trong nhóm biện pháp thực hiện một hành vi nhất định luôn có đối tượng là hành vi dân sự của người phải thi hành án Theo đó, người phải thi hành án phải thực hiện một số hành vi nhất định như cải chính tin tức sai sự thật; công khai xin lỗi người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm; người phải thi hành án không được tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật

Do vậy, đặc điểm về đối tượng của cưỡng chế chính là điểm khác biệt để phân biệt giữa nhóm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền với nhóm các biện pháp cưỡng chế nhằm thực hiện nghĩa vụ buộc phải làm hoặc không được làm một công việc nhất định của người phải thi hành án

- Thứ ba, tài sản là đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án

Tài sản là đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền thuộc quyền

sở hữu của người phải thi hành án như tài khoản ở ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước; tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác của người phải thi hành án Tài sản đó thuộc quyền sử dụng của người phải thi hành án là quyền sử dụng đất của người phải thi hành án

Đây chính là đặc điểm để phân biệt nhóm biện pháp này với nhóm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao tài sản bao gồm buộc phải trả vật, giấy tờ, chuyển giao quyền sử dụng đất có đối tượng cưỡng chế tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người được thi hành án nhưng tài sản đó lại đang do người phải thi hành án hoặc người thứ ba giữ Mục đích của việc áp dụng nhóm biện pháp đó nhằm buộc người phải thi hành án hoặc người thứ ba đang nắm giữ tài sản của người phải thi hành án trả lại tài sản cho người được thi hành án

Do vậy, việc xác minh tài sản là đối tượng cưỡng chế thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hay của người được thi hành án để lựa chọn biện pháp cưỡng chế phù hợp là rất cần thiết

- Thứ tư, biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền thường được áp dụng sau biện pháp bảo đảm thi hành án với mục đích chủ yếu là buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ trả tiền đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án

Trang 17

Đây là dấu hiệu đặc thù để phân biệt biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

với biện pháp bảo đảm THADS Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền thường được

áp dụng sau khi đã áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án mà người phải thi nghĩa vụ trả tiền không tự nguyện thi hành mặc dù có điều kiện thi hành Còn biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ trả tiền là tiền đề, cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa

vụ trả tiền, thường được tiến hành trước biện pháp cưỡng chế nếu người phải thi hành án có dấu hiệu tẩu tán, định đoạt tài sản, trốn tránh việc thi hành án nhằm đảm bảo hiệu quả của việc THADS Chẳng hạn, phong tỏa tài khoản là tiền đề cho việc thực hiện biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; tạm giữ giấy tờ, tài sản là tiền đề cho việc thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản; tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản là

cơ sở cho việc thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên, cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án

Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nhằm thực thi bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành

án của người phải thi hành án Bên cạnh đó, có thể coi mục đích thứ yếu của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng là nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản Trong khi đó, biện pháp bảo đảm thi hành án được áp dụng chủ yếu nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, định đoạt tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án; bảo toàn tình trạng tài sản, đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thi hành nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án

1.1.3 Ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Cưỡng chế THADS nói chung, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng với mục

đích làm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế nên có nhiều ý nghĩa:

Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án, đảm bảo công tác thi hành án đạt hiệu quả cao Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ

hiệu lực của bản án, quyết định Mặt khác, cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của người phải thi hành án

Việc cơ quan thi hành án tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng song song với tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục đã góp phần làm cho mọi người thấy được rõ hơn các quy định của pháp luật, thái độ của Nhà nước đối với việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Từ đó để nâng cao hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân trong xã hội

Trang 18

Bên cạnh đó, việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền đặt ra khi người phải thi hành

án không tự nguyện thi hành án Trên thực tế, có nhiều trường hợp người phải thi hành án chống đối việc thi hành án vì các quyết định dân sự của Tòa án, cơ quan thi hành án giải quyết các vụ án chưa thấu tình đạt lý Do vậy, thông qua việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng có thể kiểm tra, phát hiện được những thiếu sót của cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết vụ án và từ đó tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng giải quyết

vụ án của cơ quan có thẩm quyền

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, cơ quan THADS khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền ngoài việc căn cứ pháp luật THADS còn phải áp dụng nhiều quy phạm pháp luật liên quan mới tổ chức thi hành án được Từ đó, phát hiện được những khiếm khuyết trong các qui định của pháp luật THADS cũng như pháp luật có liên quan để trên cơ sở đó đề nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chúng nhằm kiện toàn hệ thống pháp luật nói chung

Như vậy, việc cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng nhằm góp phần để việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án được nghiêm minh Do đó, sẽ tác động trực tiếp đến việc củng cố lòng tin của nhân dân đối với pháp luật

và Nhà nước, giữ gìn được kỉ cương phép nước, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo

đảm cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế

1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

- Việc xây dựng các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền phải xuất phát từ đường lối của Đảng về cải cách tư pháp

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị khẳng định một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới là: “Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ

trong công tác THADS, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án, giải quyết căn bản tình trạng án tồn đọng” Theo định hướng này, việc xây dựng các qui định của pháp luật THADS

phải đáp ứng yêu cầu cơ bản là nâng cao được hiệu quả thi hành án, khắc phục tình trạng án tồn đọng hiện nay Do vậy, các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền thiếu tính hợp lý, không bảo đảm hiệu quả cần được sửa đổi bổ sung cho phù hợp Ngoài ra, để khắc phục tình trạng án tồn đọng cũng như để cho hoạt động thi hành án được tiến hành hiệu quả

và đảm bảo trên thực tế thì các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền phải có sự linh hoạt, kịp thời, có tính hệ thống và tạo được sự kết hợp giữa các biện pháp, có khả năng hạn chế và loại bỏ sự thiếu trung thực và trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành

án

- Bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự

Trang 19

Các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền được xây dựng dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong THADS Các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền được xây dựng hướng tới việc bảo đảm hiệu lực của bản án, bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án được thực thi trên thực tế Do vậy, các quy định này phải có khả năng hạn chế, khắc phục được tình trạng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, tìm cách trốn tránh việc thi hành

án

Tuy nhiên, không có nghĩa là các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền chỉ hướng tới việc bảo vệ quyền lợi cho người được thi hành án và đưa người phải thi hành án

quyền, tiêu cực từ phía cơ quan thi hành án như sự thiếu chính xác, minh bạch trong kê biên, định giá tài sản hoặc áp dụng vượt quá các biện pháp cần thiết

Bên cạnh đó, các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng cần phải bảo đảm quyền và lợi ích của những người liên quan đến việc thi hành án Chẳng hạn như khi cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, trong trường hợp bán tài sản kê biên của người phải thi hành án thuộc sở hữu chung của họ với người thứ ba thì người thứ ba cần được ưu tiên mua tài sản đó trước Nếu người sở hữu tài sản chung với người phải thi hành án không mua thì việc bán tài sản đó cho người khác cũng phải tiến hành công khai nhằm bảo đảm tối đa quyền lợi của người phải thi hành

án và người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan Như vậy, nhà làm luật khi xây dựng các qui định về cưỡng chế thi hành án nói chung, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng

phải tính đến khả năng đáp ứng của cơ quan Thi hành án, hạn chế tiêu cực hay lạm quyền trong công tác cưỡng chế

- Tôn trọng hợp lý quyền tự định đoạt của đương sự

Việc cưỡng chế THADS nhằm bảo đảm thi hành nghĩa vụ của người phải thi hành án nhưng cũng rất dễ xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của họ và những người liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án Do đó, để tránh sự lạm quyền của các chủ thể được trao quyền trong việc cưỡng chế THADS, khi áp dụng cũng như xây dựng các qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cần thiết phải tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự nhưng trên cơ sở tính toán đến tính hợp lý của sự tự định đoạt đó Quyền đề xuất tài sản kê biên của người phải thi hành án cần được tôn trọng nhưng không gây cản trở hoặc phương hại đến quyền lợi của bên được thi hành án Ngược lại, các quy định cũng phải được xây dựng theo hướng bên được thi hành án có thể đề xuất biện pháp cưỡng chế cần thiết hoặc tài sản cần phải cưỡng chế nhưng đề xuất này chỉ được chấp nhận nếu không thái quá, gây tổn hại tới quyền lợi hợp pháp của người phải thi hành án Ngoài ra, quy định về cưỡng chế

Trang 20

thi hành nghĩa vụ trả tiền cần được xây dựng theo hướng tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên trong lựa chọn biện pháp thi hành nghĩa vụ trả tiền nhưng sự thỏa thuận đó phải trên cơ

sở tự nguyện, không trái pháp luật và gây tổn hại tới quyền lợi của người khác Pháp luật cũng cần có sự dự phòng và điều chỉnh cần thiết trong trường hợp người phải thi hành án không chịu thi hành theo biện pháp mà các bên đã thỏa thuận

- Bảo đảm tính hiệu quả của việc cưỡng chế để bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Việc xây dựng các qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền phải hướng tới việc bảo đảm tính hiệu quả của việc cưỡng chế để bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Quyền tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án được tôn trọng nhưng nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì cần phải bị cưỡng chế thi hành án Tuy nhiên, trong những trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành

án thì pháp luật cần phải cho phép CHV có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế

để bảo đảm tính hiệu quả của việc cưỡng chế, cũng như để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án Khi xây dựng các qui định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng cần chú ý đến cách sắp xếp thứ tự các biện pháp cưỡng chế như thế nào cho hợp lý, biện pháp nào cần thiết áp dụng trước và biện pháp nào áp dụng sau khi đã áp dụng biện pháp trước cũng nhằm mục đích bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

- Việc xây dựng các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản của THADS

Cưỡng chế THADS là biện pháp nghiêm khắc nhất mà Nhà nước sử dụng quyền lực của mình buộc người phải thi hành án thực hiện bản án, quyết định của Tòa án cho nên các quy định về biện pháp cưỡng chế cụ thể phải thống nhất và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản trong THADS

Do đó, việc xây dựng quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án nghĩa vụ trả tiền trong THADS phải tuân thủ theo các nguyên tắc chung trong THADS và các nguyên tắc

áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS nói chung như nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định; bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án; bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự và người liên quan; trách nhiệm bồi thường thiệt hại; kết hợp tự nguyện và cưỡng chế; về thỏa thuận; về tiếng nói chữ viết; về kiểm sát trong thi hành án; nguyên tắc chỉ CHV mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế; nguyên tắc chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định; nguyên tắc không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong những thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế

Trang 21

Tuy nhiên, ngoài việc tuân theo các nguyên tắc chung trên thì các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành án nghĩa vụ trả tiền còn phải tuân thủ các nguyên tắc riêng biệt sau đây:

Thứ nhất, chỉ cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán được quyết định trong bản án, quyết định của Tòa án và chi phí cưỡng chế Mục đích của cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền là buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ trả tiền của họ để bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên, việc cưỡng chế thi hành án phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án Do đó, các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền phải bảo đảm tính tương xứng của biện pháp và nghĩa vụ phải thực hiện theo hướng thì CHV không được cưỡng chế tài sản vượt quá nghĩa vụ trả tiền được qui định trong bản án, quyết định của Tòa án và chi phí cưỡng chế Theo nguyên tắc này các quy định của pháp luật phải thể hiện trách nhiệm của CHV theo hướng xác định được biện pháp cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ mà người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền phải thi hành để tránh xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án

Tuy nhiên, pháp luật cũng cần ghi nhận trong trường hợp người phải thi hành án chỉ

có một tài sản duy nhất lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án mà không thể phân chia được hoặc việc phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì CHV vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đó để đảm bảo thi hành nghĩa vụ trả tiền

Thứ hai, các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cần được xây dựng theo hướng khi cưỡng chế thi hành án, CHV có thể áp dụng kế tiếp các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nếu việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đầu không đủ để thi hành nghĩa vụ thanh toán và chi phí cưỡng chế Trên thực tế, tài sản của người phải thi hành án rất đa dạng, không chỉ là tiền trong tài khoản, tiền mặt, giấy tờ có giá mà tài sản có thể cưỡng chế thi hành còn là tài sản khác như là bất động sản, quyền sở hữu trí tuệ Do vậy, các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cần được xây dựng theo hướng đa dạng hóa các biện pháp

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án là rất lớn Cũng có trường hợp, tài sản của người phải thi hành án là đối tượng cưỡng chế của một biện pháp cưỡng chế không đủ để thi hành nghĩa vụ trả tiền Trong những trường hợp này, nhằm mục đích bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của người được thi hành án thì các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cần được xây dựng theo nguyên tắc có thể áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nếu việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đầu không đủ để thi hành nghĩa vụ thanh toán và chi phí cưỡng chế Điều cần lưu ý khi áp dụng nguyên tắc này trong xây dựng pháp luật là phải xem xét đáp ứng

Trang 22

những điều kiện nhất định như biện pháp cưỡng chế sau chỉ được áp dụng khi số tiền thu được từ biện pháp cưỡng chế trước không đủ để thi hành án

1.3 Lược sử pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước cách mạng tháng Tám (1945) Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến Tìm hiểu các qui định của pháp luật từ năm 1945 trở về trước, các biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung và các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng chưa được quy định một cách trực tiếp và cụ thể Ở giai đoạn này, trước hết phải kể đến Quốc Triều Hình Luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) và Hoàng Việt Luật lệ (Luật Gia Long) Mặc dù cách đây hàng nhiều thế kỷ nhưng trong các văn bản pháp luật của nước ta trước đây để lại cũng đã có những quy định về việc cưỡng bức thực hiện nghĩa vụ Điều 134 Luật Gia Long

luật Hồng Đức có qui định: “không thưa quan mà tự bắt đồ đạc của người mắc nợ quá số tiền trong văn tự thì phải phạt 80 trượng”

Vào thời gian này, triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp bản “Hiệp ước hòa bình”

(25/08/1933), theo đó nước ta được chia làm 3 miền: Nam Kì là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ

và Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp Dựa theo Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp (1804), thực dân Pháp đã cho ban hành ba Bộ luật dân sự, cụ thể, tại Bắc Kỳ (Bộ dân luật năm 1931); tại Trung Kỳ (Bộ dân luật năm 1936) và tại Nam Kỳ (Tập dân luật giản yếu năm 1883) Mặc dù mỗi bộ dân luật được ban hành và áp dụng ở từng miền (vùng) nhưng tựu chung lại trong các bộ luật trên đều có những qui định về việc bảo đảm thi hành nghĩa vụ dân

sự Điều 815 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 qui định: người nào mắc nợ không thể giả được

nợ thì phải nhượng lại tất cả tài sản của mình cho chủ nợ (di nhượng); việc di nhượng có thể

là tự ý của người mắc nợ hay do Tòa án xử định Và tại Điều 818 Bộ dân luật này cũng qui định về phương thức thi hành, theo đó, việc di nhượng do Tòa án xử định, không trao quyền

sở hữu cho các chủ nợ, chỉ cho chủ nợ được bán tài sản của người mắc nợ để lấy nợ và được hưởng hoa lợi cho đến ngày phát mại Cũng như vậy, Bộ dân luật năm 1936 tại Trung Kỳ quy định việc di nhượng do luật pháp xử cho hay bắt buộc chỉ miễn cho người mắc nợ một số tiền ngang với giá các tài sản đã di nhượng, khi các tài sản đó không đủ trả nợ mà sau này người mắc nợ lại có của cải khác thì cũng phải nhượng cho đến khi hết nợ; nếu người mắc nợ tẩu tán tài sản của mình thì sẽ bị phạt theo Điều 365 luật hình hoặc có thể bị câu thúc thân thể Nhìn chung, các biện pháp bảo đảm cho việc thi hành án được ghi nhận trong ba Bộ luật thời này chủ yếu là sai áp bảo toàn (bây giờ gọi là kê biên tài sản) và sai áp một tài sản hoặc

số tiền của con nợ đang do người thứ ba giữ

Trang 23

Như vậy, mặc dù không có các quy phạm được quy định một cách trực tiếp và cụ thể

về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nhưng các văn bản quy phạm pháp luật nói trên đều

đã thừa nhận việc áp dụng các hình thức cưỡng bức thực hiện nghĩa vụ dân sự mà chỉ các cơ quan công quyền mới có quyền áp dụng

Đặc điểm của pháp luật thời kỳ trước năm 1945 là có rất ít các văn bản pháp luật tố tụng riêng biệt, đáng chú ý ở giai đoạn này phải kể đến ba Bộ luật sau: Bộ luật dân sự tố tụng Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1910 áp dụng tại Nam Kỳ; Bộ

hộ sự - thương sự tố tụng Trung Việt (1942) áp dụng tại Trung Kỳ và Bộ luật dân sự - thương

sự - tố tụng thi hành trong các Tòa Nam án Bắc Kỳ được ban hành theo Nghị định ngày 02 tháng 12 năm 1921 và có hiệu lực thi hành tư ngày 1 tháng 1 năm 1923 trong phạm vi Bắc

Kỳ Quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền đã được quy định rải rác trong các văn bản trên Theo đó, các biện pháp bảo đảm thi hành án được ghi nhận trong ba

bộ luật này chủ yếu là sai áp bảo toàn và sai áp chế chỉ Sai áp bảo toàn được hiểu là kê biên tài sản của đương sự theo lệnh của Toà án để bảo đảm số nợ mà đương sự có trách nhiệm thanh toán Còn sai áp chế chỉ (hay còn gọi là sai áp chi phó), tức là sai áp một tài sản hoặc

số tiền của con nợ đang do người thứ ba giữ nhằm ngăn cản người này trao tài sản, số tiền cho con nợ mà phải giữ lại để đảm bảo số nợ mà con nợ sẽ trả chủ nợ về sau này

Các văn bản pháp luật này cũng quy định, ngoài các hành vi tố tụng khác, Thừa phát lại có nhiệm vụ thi hành các bản án Do đó, nếu hai bên không tự giải quyết được với nhau hoặc theo lệnh của Tòa án, Thừa phát lại phải giải trừ các sai áp này Về cách thức thi hành

án, Dụ số 31 ngày 23 tháng 7 năm 1934 qui định: Tòa án nào đã cho phép xử di nhượng thì

cử ra một người thanh toán để quản trị tài sản của người mắc nợ để lấy hoa lợi và phân phát tiền phát mại tài sản Khi phát mại, nếu không có ai trả giá đã đặt thì người thanh toán tùy theo tình hình xin Tòa án cho hạ giá

Có thể thấy, điều đáng chú ý là cách đây hàng nhiều thế kỷ trong các văn bản pháp luật của nước ta trước đây để lại đã có những qui định về việc cưỡng bức thực hiện nghĩa vụ

và có ảnh hưởng không nhỏ trong việc xây dựng các quy phạm về cưỡng chế thi hành nghĩa

vụ trả tiền về sau

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

Sau khi nước ta giành độc lập tháng 8 năm 1945, trong bối cảnh đất nước ta trải qua hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp với một xã hội nửa phong kiến nửa thực dân Để ổn định xã hội trong thời kỳ đầu xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, ngày 10 tháng 10 năm

1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 90/SL giữ tạm thời các luật lệ hiện hành

ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật mới áp dụng cho toàn quốc Phù hợp với quy định của Sắc lệnh này, Bộ luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883, Bộ dân luật Bắc kỳ

Trang 24

ban hành năm 1931, Bộ dân luật Trung kỳ ban hành năm 1936 vẫn có hiệu lực thi hành ở Việt Nam sau ngày thành lập chính quyền nhân dân Cho nên, lúc bấy giờ, ở các thành phố lớn nước ta, việc THADS và thương mại vẫn được giao cho Thừa phát lại giống như trước đây Theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toàn án và các ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/07/1946 về thể thức THADS; Thông tư của Bộ Tư pháp số 24/BK ngày 26/04/1949 về việc thi hành án hình và hộ thì ban tư pháp xã có nhiệm vụ, quyền hạn thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án; ở những nơi nào đã có thừa phát lại thì đương sự có quyền nhờ thừa phát lại thi hành; thẩm phán Tòa án cấp huyện dưới sự kiểm soát của biện lí có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn Việc cưỡng chế thi hành án đã được ghi nhận trên cơ sở có sự phối hợp với lực lượng quân sự khi cần thiết (theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946)

Trong Thiên VI Nghị định ngày 16 tháng 03 năm 1910 áp dụng tại Nam kỳ có quy

định về “phương cách chấp hành” từ Điều 164 đến Điều 220, trong đó có quy định về sai áp,

là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Ngày 22 tháng 05 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 97/SL vẫn cho phép áp dụng các luật lệ cũ nhưng với điều kiện không được trái với các nguyên tắc do chính Sắc lệnh này quy định Cùng thời gian này, Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã quy định việc thi hành án hộ được giao cho Thẩm phán huyện phụ trách Điều thứ 19 Sắc lệnh đã quy định: Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý, có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ mà chính các Tòa án huyện hay Tòa án cấp trên đã tuyên Việc phát mại bất động sản và phân phối tiền bán được cũng do Thẩm phán huyện phụ trách Trong trường hợp có nhiều bất động sản rải rác trong nhiều huyện khác nhau, thì Biện lý sẽ chỉ định một Thẩm phán huyện để việc phát mại vừa có lợi cho chủ nợ lẫn người mắc nợ Như vậy, việc THADS được giao cho Tòa án Có thể nói, cải cách này đã bắt đầu cho một thời kỳ mà việc thi hành án được chuyển cho chính cơ quan tư pháp trong nhiều năm

Việc thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng giai đoạn này chủ yếu vẫn áp dụng các quy phạm trong luật lệ cũ

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1989

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 19 - VHH ngày 30 tháng 06 năm 1955 và Thông tư số 2140-TT- VHH/HS ngày 06 tháng 12 năm 1955; TAND tối cao ra Chỉ thị số 772/CT-TATC ngày 10 tháng 07 năm 1959 đình chỉ việc áp dụng luật lệ cũ của đế quốc, phong kiến mà Sắc lệnh số 97/SL quy định vẫn cho tạm giữ Đồng thời với việc các cơ quan nhà nước ban hành những văn bản pháp luật quy định về tổ chức Tòa án;

Bộ tư pháp, TAND tối cao cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về nguyên tắc,

Trang 25

trình tự và thủ tục THADS như Thông tư của Bộ Tư pháp số 4176/HCTP ngày 28/11/1957 quy định về cưỡng chế thi hành án, Thông tư của Bộ Tư pháp số 4296/DS ngày 09/12/1957 quy định về thứ tự ưu tiên trong chia tiền thi hành án.v.v

Đến năm 1960, quy định về THADS đã có bước thay đổi mới Điều 24 Luật tổ chức TAND năm 1960 tiếp tục khẳng định nhiệm vụ thi hành án thuộc Tòa án Đến năm 1972, các nhân viên chấp hành làm nhiệm vụ thi hành án ở các Tòa án, lần đầu tiên được gọi là CHV Trong Quyết định số 186-TC ngày 13/10/1972 của Chánh án TAND tối cao về tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của CHV có quy định: CHV có nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử phạt tiền, xử về bồi thường hoặc trả lại tài sản trong bản

án và quyết định về hình sự; giúp Chánh án TAND đôn đốc kiểm tra công tác thi hành án tại các TAND cấp dưới Nếu việc thi hành bản án hoặc quyết định có tính chất khó khăn, phức tạp hoặc nếu việc thi hành tại cấp huyện không thuận tiện thì Chánh án TAND cấp tỉnh giao cho CHV tại TAND cấp tỉnh thi hành Ở thời kỳ này không có cơ quan thi hành án riêng mà chỉ đặt ra CHV tại các Tòa án để chuyên trách việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án.[18, tr.13-14]

Điều đáng chú ý là trong giai đoạn này, Ban Tư pháp xã vẫn có trách nhiệm trong việc thi hành án, thể hiện chủ yếu là việc trợ giúp nhân viên chấp hành án ở các Tòa án Thông tư

số 442-TC ngày 04/07/1968 của TAND tối cao về việc đẩy mạnh công tác thi hành án đã chỉ

rõ hơn chức năng của Ủy ban hành chính xã trong thi hành án Ủy ban hành chính xã không

có quyền quyết định những biện pháp cưỡng chế thi hành án Việc thi hành những biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền như kê biên tài sản, định giá phát mại phải do Thẩm phán phụ trách công tác thi hành án cấp huyện trực tiếp làm mà không được ủy nhiệm cho

Ủy ban hành chính xã

Pháp luật thi hành án trong giai đoạn này còn phát triển thêm một bước khi TAND tối cao ban hành Đề án năm 1968 về một số vấn đề cần được chú ý để đẩy mạnh công tác thi hành án Trong Đề án này, các biện pháp cưỡng chế thi hành án nghĩa vụ trả tiền được quy định tương đối chi tiết Thông tư số 4176-HCTP ngày 28/11/1957 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn: cần phải thi hành biện pháp cưỡng chế đối với những người có khả năng nhưng ngang bướng chây ỳ để buộc họ phải xuất một phần tài sản bồi thường cho người bị thiệt hại do họ gây ra Tùy từng trường hợp, có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế thi hành án như: Khấu trừ tài sản của công dân; Khấu trừ lương; Khấu trừ tiền gửi quỹ tiết kiệm, quỹ tín dụng; Buộc người mắc nợ phải dọn nhà đi nơi khác [18, tr.15-21]

Như vậy, thời kỳ này, các quy phạm hướng dẫn về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng được quy định khá rõ Cụ thể, đối với biện pháp cưỡng chế khấu trừ tài sản của công dân thì việc khấu trừ vào tài sản của người mắc nợ có thể được thực hiện đối

Trang 26

với bất cứ việc thi hành án nào Thông tư số 4176-HCTP ngày 28/11/1957 của Bộ Tư pháp

và Thông tư số 04-NCPL ngày 14/04/1966 của TAND tối cao hướng dẫn kê biên và phát mại tài sản Theo đó, trước khi xét xử cần chú ý tạm giữ những tài sản đang bị tranh chấp hoặc có thể bị xử lý trong việc kiện dân sự mà một bên có thể phân tán đi Khi thi hành án, nếu người mắc nợ có tài sản mà trước đó chưa bị giam giữ hoặc kê biên, nên giải thích cho họ tự động bán một số tài sản để thi hành án, nếu họ không tự nguyện thì CHV kê biên một số tài sản nên tránh việc trả dần làm kéo dài việc thi hành án Tòa án chỉ cần kê biên những tài sản đủ

để thi hành án, trong đó nên chú ý kê biên những tài sản có giá trị dễ bán để thi hành án; nếu những tài sản đó không đủ để thi hành án mới kê biên đến nhà cửa Khi kê biên nhà, tùy từng trường hợp có thể giải quyết chỗ ở cho họ bằng cách yêu cầu họ bán nhà để thi hành án, số tiền còn lại họ dùng để mua hoặc làm nhà khác rẻ hơn; nếu họ không chịu thì mới kê biên Bên cạnh đó, cũng quy định những thứ cần thiết để lại cho người mắc nợ và gia đình họ sinh sống (quần áo, chăn, màn, giường, chiếu tối cần thiết cho người mắc nợ và gia đình của họ; Lương thực cần thiết cho người mắc nợ và gia đình sinh sống; Đồ dùng để thờ cúng; Đồ dùng tối thiểu cho nghề nghiệp của người mắc nợ và gia đình của họ để sinh sống), tùy từng trường hợp, cần xét cụ thể rồi mới quyết định kê biên

Căn cứ vào những quy định của Nhà nước lúc bấy giờ, biện pháp khấu trừ tiền lương

để thi hành án có thể thực hiện trong những trường hợp sau:

- Thông tư số 01-TTg ngày 04/01/1966 của Phủ Thủ tướng có quy định khấu trừ lương để thi hành án cấp dưỡng của cán bộ, công nhân, viên chức cơ quan nhà nước và quân nhân

- Khấu trừ tiền lương để thi hành án về bồi thường Nhà nước trong những vụ án hình

sự Theo Điều 12, Điều 13 Điều lệ chế độ trách nhiệm của công nhân, viên chức đối với tài sản của Nhà nước do Nghị định số 49-CP ngày 09/04/1968 của Hội đồng Chính Phủ ban hành và Thông tư số 128-TTLB ngày 24/07/1968 của liên bộ Bộ Tài chính – Lao động – Tổng Công đoàn thì việc khấu trừ lương có thể được thực hiện đối với những trường hợp công nhân, viên chức vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước hoặc họ phạm pháp mà phải bồi thường cho Nhà nước Việc khấu trừ lương được thực hiện cho đến khi thi hành án xong

- Thông tư số 331-TN ngày 11/02/1966 của Phủ Thủ tướng cho phép thu tiền thuê nhà

hàng tháng của Nhà nước bằng cách trừ vào lương của công nhân, viên chức [18, tr.22-23]

Đến năm 1972, với tên gọi CHV, những người làm công tác THADS sau khi đã thỏa thuận với Chánh án Tòa án nơi CHV công tác, khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế (qui định trong Sắc lệnh 85/SL) được được lực lượng bảo vệ trị an giúp sức

Đến năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất các văn bản pháp luật về thi hành án được áp dụng thống nhất trên cả nước Tuy nhiên, sau khi Nhà nước

Trang 27

ban hành Hiến pháp năm 1980, Luật Tổ chức TAND năm 1981 thì công tác quản lý THADS được chuyển giao cho Bộ Tư pháp Trên cơ sở đó, ngày 28 tháng 05 năm 1985 Bộ Tư pháp

đã ban hành Thông tư số 637/TTTHA qui định về trình tự thủ tục thi hành án

Như vậy, trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1989 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật qui định về các vấn đề liên quan đến THADS Các quy phạm pháp luật đó

đã tạo cơ sở pháp lý giúp cho việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bước đầu có những thuận lợi

1.3.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay

Để nâng cao hiệu quả THADS, PLTHADS được Hội đồng nhà nước thông qua ngày 28/08/1989, có hiệu lực từ ngày 01/01/1990 Đây là một văn bản quan trọng, lần đầu tiên những quy định về THADS được pháp điển hóa Pháp lệnh này gồm 43 điều, được chia thành

7 chương, trong đó qui định về các biện pháp cưỡng chế được xếp vào một chương riêng là Chương IV gồm 15 điều (từ Điều 23 đến Điều 37) Theo đó, có 6 biện pháp cưỡng chế thi hành án: kê biên tài sản (Điều 23); trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (Điều 32); trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 34); cưỡng chế giao

đồ vật (Điều 35); cưỡng chế trả nhà (Điều 36); cưỡng chế chấm dứt hành vi trái pháp luật (Điều 37) Trong đó, có 3 biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền: kê biên tài sản; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ Theo Pháp lệnh, Tòa án là cơ quan thực hiện việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Như vậy, có thể thấy, quy định trong Pháp lệnh về các biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng nhằm đảm bảo cho những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành được qui định khá đồng bộ

Tuy nhiên, sau khi PLTHADS năm 1989 được ban hành, tình trạng những bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án không được thi hành hoặc chậm thi hành tồn đọng khá nhiều Nguyên nhân của tình trạng này được các cơ quan có thẩm quyền tổng kết là do vấn đề

tổ chức thi hành án bởi theo PLTHADS năm 1989 thì nhiệm vụ thi hành án thuộc về Tòa án nên việc Tòa án kiêm nhiệm vừa làm chức năng xét xử vừa có chức năng thi hành dẫn đến hiệu quả công việc không cao [18, tr.41] Do vậy, đặt ra vấn đề, cần phải có một cơ quan chuyên trách riêng làm nhiệm vụ THADS

Trước yêu cầu đó, chưa đầy ba năm sau thì PLTHADS năm 1993 được ban hành thay thế PLTHADS năm 1989 PLTHADS năm 1993 chia thành 7 chương bao gồm 50 Điều, trong đó, chương V gồm 15 Điều (từ Điều 29 đến Điều 43) vẫn qui định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án như PLTHADS năm 1989 Khác với PLTHADS năm 1989 thì trong PLTHADS năm 1993 có một điểm khác biệt căn bản nhất là lúc này nhiệm vụ THADS được

Trang 28

chuyển cho một cơ quan nhà nước mới được thành lập và bắt đầu hoạt động từ ngày 01/07/1993 là Cơ quan THADS Theo đó, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền do cơ quan THADS tiến hành

Cho đến PLTHADS năm 2004, các biện pháp cưỡng chế được qui định tại Chương IV gồm 20 điều (từ Điều 37 đến Điều 56) Các biện pháp cưỡng chế THADS được qui định tại Điều 37 được phân chia theo đặc điểm của loại nghĩa vụ mà người phải thi hành án phải thi hành Theo đó, các biện pháp cưỡng chế THADS có thể phân chia thành ba nhóm: cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án; cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao vật, giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất của người phải thi hành án; cưỡng chế nhằm thực hiện nghĩa vụ buộc phải làm hoặc không phải làm một công việc nhất định của người phải thi hành án

Tuy nhiên, có thể nhận thấy các qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong PLTHADS 2004 vẫn còn chung chung, tản mạn và chưa bao quát được đầy đủ các trường hợp cần cưỡng chế phát sinh trên thực tế để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cũng như phù hợp hơn với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay Trước thực tế đó, cần ban hành LTHADS là một yêu cầu khách quan cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng, tạo cơ sở pháp lý xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản

lý, đồng thời góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống tổ chức cơ quan quản lý, góp phần hoàn thiện các thủ tục thi hành án, khắc phục những điểm bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn vướng mắc tồn tại trong THADS Do vậy, ngày 14 tháng 11 năm 2008, tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự năm

2008

Việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật THADS nước ta, tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho việc tổ chức THADS có hiệu quả Qua nghiên cứu các qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong LTHADS cho thấy có nhiều điểm mới, nhiều qui định trước đây về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền đã được cụ thể, chi tiết hơn hoặc được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn Cụ thể là Biện pháp khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án theo PLTHADS 2004 trước đây đã được LTHADS cụ thể hóa thành các biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản (Điều 76), thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án (Điều 79), thu tiền của người phải thi hành

án đang giữ (Điều 80), thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 81) và thu giữ giấy tờ có giá (Điều 82, Điều 83) Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ trước đây

đã được LTHADS cụ thể hóa thành nhiều biện pháp kê biên khác nhau, bao quát được khá

Trang 29

đầy đủ các trường hợp kê biên phát sinh trong thực tiễn như kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 89); kê biên vốn góp (Điều 92); kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói (Điều 93); kê biên tài sản gắn liền với đất (Điều 94); kê biên nhà ở (Điều 95); kê biên phương tiện giao thông (Điều 96); kê biên hoa lợi (Điều 97) Trong nhóm các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo LTHADS đã bổ sung 2 biện pháp mới là biện pháp kê biên quyền sở hữu trí tuệ (Điều 84) và biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án (Điều 107 đến Điều 109) Đây là những bổ sung mới quan trọng trong LTHADS để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay

Như vậy, LTHADS 2008 căn cứ vào tính chất của loại biện pháp cưỡng chế THADS qui định có 6 biện pháp cưỡng chế THADS tại Điều 71 LTHADS Trong đó, nhóm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền chiếm phần lớn các biện pháp cưỡng chế THADS Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng các biện pháp: (1) khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá của người phải thi hành án; (2) trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; (3) kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án; (4) cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án

1.4 Kinh nghiệm lập pháp một số nước về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa

vụ trả tiền

1.4.1 Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật Đức

Pháp luật THADS của Cộng hòa liên bang Đức qui định CHV thực hiện việc cưỡng chế thi hành án đối với 2 trường hợp: Cưỡng chế thi hành việc trả lại tài sản và cưỡng chế thực hiện quyền yêu cầu trả tiền Như vậy, biện pháp cưỡng chế thực hiện quyền yêu cầu trả tiền theo pháp luật THADS Đức được hiểu như biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền Theo đó, ở Đức, về nguyên tắc, việc cưỡng chế thực hiện quyền yêu cầu trả tiền được thực hiện đối với toàn bộ tài sản của con nợ được bắt đầu bằng việc cưỡng chế thi hành bằng bất động sản của con nợ

Theo Điều 803 Bộ luật tố tụng dân sự Đức thì việc cưỡng chế thi hành vào động sản được thực hiện bằng sự tịch biên tài sản Việc tịch biên tài sản hữu hình còn nằm trong sự chiếm giữ của con nợ được thực hiện thông qua việc CHV nắm quyền

Ở Đức, CHV thực hiện việc cưỡng chế thi hành đối với các trường hợp: (1) Cưỡng chế thi hành đòi tiền từ động sản của con nợ; (2) Cưỡng chế thi hành vào giấy tờ có giá của con nợ; (3) Cưỡng chế thi hành đối với hoa màu chưa được thu hoạch Như vậy, CHV chỉ được cưỡng chế vào tài sản của con nợ mà không cưỡng chế vào tài sản của những người thân thích Khi cưỡng chế thi hành án, CHV có nghĩa vụ bảo đảm lợi ích cho chủ nợ cũng như tránh gây thiệt hại cho con nợ

Trang 30

Còn đối với trường hợp không có tài sản là động sản để thi hành án thì có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác như: (1) Khấu trừ thu nhập; (2) Trừ vào quyền yêu cầu của con nợ đối với người khác; (3) Trừ vào quyền tài sản của con nợ; (4) Yêu cầu cưỡng chế, phát mại tài sản của con nợ là bất động sản

Như vậy, có thể thấy pháp luật THADS Đức đã có qui định về chế tài áp dụng đối với người phải thi hành án khi họ không có tài sản nào để thi hành án Theo đó, ở Đức trong trường hợp con nợ không có tài sản gì để thi hành án thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án triệu tập con nợ đến tòa để buộc con nợ tuyên thệ về việc mình không có tài sản để thi hành

án, nếu con nợ không chịu tuyên thệ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án bắt giam đến khi con nợ đồng ý tuyên thệ nếu không sẽ bị giam giữ kéo dài (tối đa là 6 tháng một lần) và mọi chi phí trong thời gian giam giữ do chủ nợ chịu Việc đưa ra lời tuyên thệ về việc không có tài sản thi hành án được ghi vào danh sách con nợ và lưu giữ tại Tòa án Bất kỳ ai cũng có thể xem danh sách con nợ, nhất là những người đang có ý định giao dịch với đối tác để tìm hiểu xem họ có nằm trong danh sách con nợ không Việc qui định như vậy nhằm mục đích buộc con nợ phải cố gắng thi hành án.[3, tr.208] Nghiên cứu pháp luật THADS nước ta chưa có một chế tài nào để áp dụng đối với trường hợp người phải thi hành án khi không còn tài sản nào để thi hành án Do đó, để đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án, cũng như để giảm thiểu tình trạng án tồn đọng, các nhà lập pháp Việt Nam cần thiết tham khảo cách xây dựng qui định về chế tài này nhằm hoàn thiện pháp luật THADS trong tương lai

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án ở Đức vẫn đặt ra vấn đề đảm bảo cho người bị cưỡng chế sau khi thi hành án vẫn đủ khả năng tiếp tục cuộc sống ở mức độ vừa phải và có điều kiện làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình Theo đó, Điều 811 BLTTDS Đức qui định về các loại tài sản không được kê biên, bao gồm: Quần áo, giường nệm, đồ dùng trong nhà bếp; các đồ ăn, chất đốt, phương tiện chiếu sáng cần thiết; những con vật nuôi với số lượng ít; những công cụ cần thiết cho hoạt động kinh tế và gia súc; chân tay giả, kính

và đồ dùng thiết khác hỗ trợ cho khuyết tật cơ thể mà con nợ hoặc gia đình họ sử dụng; v.v [9, tr.6]

Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, CHV được quyền áp dụng các biện pháp như: CHV

có quyền khám nhà và những nơi cất giữ tài sản của con nợ, có quyền cho mở khóa nhà, khóa phòng hoặc ngăn có chứa đồ đạc bị khóa nếu thấy việc đó cần thiết cho việc thi hành án Trong trường hợp con nợ chống đối hoặc phản kháng lại, CHV có quyền dùng vũ lực và yêu cầu cảnh sát hỗ trợ (Điều 758 BLTTDS Đức)

1.4.2 Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật Pháp

Theo Luật số 91-650 ngày 09/07/1991 về cải cách thủ tục THADS của Pháp thì hoạt động thi hành án được coi là chức năng của Nhà nước, nhưng cơ quan công quyền không trực

Trang 31

tiếp tổ chức thi hành án mà ủy quyền cho những người hành nghề thi hành án - Thừa phát lại Căn cứ để Thừa phát lại thi hành là các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định, văn bản khác có giá trị như bản án đã có hiệu lực pháp luật mà đương sự yêu cầu

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án gồm: (1) Kê biên khoản nợ tiền - thanh toán nợ; (2) Kê biên tiền lương; (3) Kê biên - bán các tài sản là động sản của người mắc nợ; (4) Phong tỏa động sản để giao hoặc trả lại cho người chủ nợ; (5) Các biện pháp thi hành án đối với các phương tiện cơ giới đường bộ gồm: báo cho cơ quan quản lý và đăng ký xe cơ giới đường bộ của tỉnh và kê biên các phương tiện cơ giới của người mắc nợ; (6) Kê biên và bán các quyền tài sản vô hình ngoài các khoản nợ bằng tiền của người mắc nợ; (7) Biện pháp cưỡng chế trả nhà; (8) Biện pháp kê biên bảo tồn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ

Theo Luật THADS Pháp thì chủ nợ có quyền lựa chọn các biện pháp cần thiết để đòi

nợ nhưng biện pháp đó không được vượt quá yêu cầu đòi nợ Thẩm phán đặc trách thi hành

án có quyền ra lệnh đình chỉ mọi biện pháp không cần thiết hoặc thái quá và buộc chủ nợ bồi thường thiệt hại khi xảy ra trong trường hợp lạm dụng việc kê biên Chủ nợ khi có lệnh thi hành án xác nhận mọi khoản nợ bằng tiền và có thể đòi được có thể thực hiện cưỡng chế thi hành án đối với tài sản của con nợ Cũng giống như nguyên tắc khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế nói chung và các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng theo pháp luật THADS Việt Nam, thì pháp luật THADS Pháp qui định các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền không được tiến hành trước 6 giờ và sau 21 giờ cũng như trong các ngày lễ, ngày nghỉ trừ khi được thẩm phán cho phép trong những trường hợp cần thiết

Theo Luật THADS Pháp thì mọi tài sản của con nợ đều có thể bị kê biên ngay cả khi tài sản đó do người thứ ba giữ, kể cả các khoản nợ cho người khác vay có điều kiện, có thời hạn cho vay trả dần cũng có thể bị kê biên Điều 14 Luật THADS Pháp qui định khá chi tiết,

cụ thể về những tài sản của con nợ không thể bị kê biên, bao gồm: các tài sản không thể kê biên theo luật định; thực phẩm, tiền trợ cấp nuôi dưỡng, trừ khoản tiền mà bên kê biên trả để cấp dưỡng cho bên bị kê biên; các tài sản có thể định đoạt được nhưng được người viết di

hay dùng để chăm sóc người ốm; động sản cần thiết cho cuộc sống, công việc làm ăn của người

bị kê biên và gia đình họ Các khoản nợ có tính chất không thể bị kê biên nằm trong tài khoản ngân hàng vẫn giữ nguyên tính chất đó trong những điều kiện do Chính phủ qui định bằng Sắc lệnh [9, tr.7]

Như vậy, nhìn chung thì các qui định của pháp luật THADS Việt Nam về cơ bản là kế thừa các qui định trong pháp luật THADS Pháp, tuy nhiên có sửa đổi hợp lý với tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam

Trang 32

1.4.3 Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền theo pháp luật Nhật Bản

Theo qui định của Luật THADS Nhật bản thì cưỡng chế thi hành bao gồm việc cưỡng chế thi hành yêu cầu thanh toán tiền và cưỡng chế thi hành đối với các yêu cầu không liên quan đến tiền

Cưỡng chế yêu cầu thanh toán tiền nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của chủ nợ thông qua việc tịch thu tài sản của con nợ Tiền này được trực tiếp sử dụng để đáp ứng yêu cầu của chủ nợ hoặc đổi thành tiền để đáp ứng yêu cầu của chủ nợ Theo đó, cưỡng chế yêu cầu thanh toán tiền bao gồm:

- Cưỡng chế thi hành bất động sản

- Cưỡng chế thi hành đối với tàu biển, máy bay, ô tô, máy xây dựng

- Cưỡng chế thi hành đối với động sản

- Cưỡng chế thi hành đối với trái quyền và các quyền tài sản khác

Còn cưỡng chế thi hành đối với các yêu cầu không liên quan đến tiền bao gồm:

- Cưỡng chế thi hành về các yêu cầu đối với việc chuyển giao hoặc giao trả tài sản

- Cưỡng chế thi hành về các yêu cầu đối với việc thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi

- Cưỡng chế thi hành về việc tuyên bố ý định

Luật Thi hành án Nhật Bản qui định về thi hành án đối với một khoản tiền có thể chia làm 3 giai đoạn: (1) Kê biên tài sản; (2) Chuyển thành tiền thông qua bán đấu giá; (3) Trả nợ cho người được thi hành án Trong thực tế các biện pháp kê biên cũng được tiến hành khác nhau và thường tùy thuộc vào loại tài sản Đối với việc thanh toán nợ thì Tòa án xem xét thời điểm thuận lợi để lập danh sách các chủ nợ và được thanh toán theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng mặc dù do một chủ nợ khởi kiện Nguyên tắc này hoàn toàn khác với nguyên tắc

ưu tiên trong Thi hành án của Đức mặc dù người Nhật đã du nhập Bộ luật tố tụng dân sự của nước này

Luật THADS Nhật Bản qui định cụ thể trường hợp thi hành án đối với tài sản là bất động sản và tài sản là động sản Khi thi hành án đối với tài sản là bất động sản thì ở Nhật Bản

có 2 phương thức là bán đấu giá và đưa ra các biện pháp quản lý bắt buộc Theo đó, với mục đích chuyển tài sản thành tiền thông qua thủ tục bán đấu giá thì trước hết chủ nợ có đơn yêu cầu đến Tòa thi hành, sau đó, Tòa ra quyết định kê biên bất động sản và cuối cùng là Tống đạt quyết định này và các tài liệu liên quan cho người phải thi hành án; kể từ thời điểm đó, quyết định kê biên có hiệu lực [14, tr.20]

Luật Thi hành án Nhật Bản cũng qui định chi tiết về thủ tục cưỡng chế thi hành án theo các bước sau:

- Bước 1: Kê biên tài sản để đảm bảo giá trị của tài sản

Trang 33

- Bước 2: Điều tra, định giá tài sản

- Bước 3: Chuyển đổi tài sản thành tiền (Tiến hành bán đấu giá tài sản)

- Bước 4: Phân chia tiền bán tài sản

Khi tiến hành kê biên tài sản theo quy định tại Điều 131 Luật THADS Nhật Bản thì những tài sản bị cấm kê biên như quần áo, giường chiếu, công cụ lao động là lưới đánh cá, dụng cụ kĩ sư và không được kê biên tài sản vượt quá giá trị khoản nợ và chi phí cưỡng chế thi hành án

vực, có thẩm phán thi hành án Theo đó, Tòa thi hành án thực hiện các việc sau đây:

+ Thi hành đối với khoản tiền liên quan đến bất động sản, tàu thuyền lớn;

+ Thi hành đối với khoản tiền liên quan đến khoản tín dụng lớn; Thi hành đối với khoản tiền liên quan đến các khoản thi hành thay thế;

+ Thi hành đối với các khoản tiền liên quan cưỡng chế thi hành án;

+ Thi hành đối với khoản tiền liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ được bảo đảm bằng bất động sản;

+ Thi hành đối với khoản tiền liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ được bảo đảm bằng tiền;

+ Thi hành đối với khoản tiền liên quan đến tín dụng và các khoản tiền bảo đảm khác Vấn đề Thi hành án đối với các quyền tài sản, trong đó có quyền sở hữu trí tuệ cũng được qui định khá đầy đủ Theo đó, THADS nói chung được áp dụng cho Thi hành án về

quyền sở hữu trí tuệ Sau khi nhận được đơn yêu cầu thi hành án về quyền sở hữu trí tuệ, Tòa

án bản quyền sẽ tiến hành việc định giá và xem xét mức độ hợp lý của vụ việc Trong thời gian đó người có nghĩa vụ phải thi hành án có quyền khiếu nại [14, tr.26] Việc qui định cho Tòa án bản quyền - là cơ quan chuyên biệt có thẩm quyền về việc liên quan đến quyền sở hữu

chế thi hành án về quyền sở hữu trí tuệ theo hướng qui định một cơ quan thi hành án có chuyên môn về sở hữu trí tuệ tổ chức thực hiện việc thi hành án đối với việc áp dụng thi hành án về quyền sở hữu trí tuệ

Kê biên tài sản thuộc sở hữu chung theo LTHADS Nhật Bản cũng chưa qui định cụ thể Đối với tài sản thuộc sở hữu chung theo phần thì tại khoản 2 Điều 43 LTHADS Nhật Bản qui định khi thi hành án chỉ căn cứ vào giấy đăng ký quyền sở hữu phần quyền của người phải thi hành án chứ không căn cứ vào thực tế phần quyền sở hữu của người phải thi hành án

LTHADS Nhật Bản có qui định trong quá trình thực hiện cưỡng chế thi hành án mà CHV cảm thấy nguy hiểm thì cần có sự hỗ trợ của cảnh sát để thi hành án Khi cần sẽ có chuyên gia

Trang 34

định giá về bất động sản, động sản Riêng đối với những người hỗ trợ không ở trong ngành tư pháp như thợ khóa để phá khóa cửa, công ty được thuê vận chuyển đồ đạc ra khỏi ngôi nhà bị kê biên thì được nhận thù lao Việc pháp luật THADS Nhật Bản qui định như vậy đã cho thấy sự quan tâm của Nhà nước Nhật Bản đến chế độ, chính sách đối với CHV để tạo điều kiện cho đội ngũ CHV yên tâm công tác, tận tụy với nghề Các nhà lập pháp Việt Nam cũng cần nghiên cứu, tham khảo những qui định này để pháp luật THADS Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn

Như vậy, việc nghiên cứu tham khảo pháp luật thi hành án một số nước trên thế giới là điều cần thiết cho việc hoàn thiện pháp luật trong tương lai Trên cơ sở nghiên cứu, xem xét các qui định pháp luật thi hành án của các nước, đơn cử là Đức, Pháp, Nhật, chúng ta có thể học tập kinh nghiệm, tiếp thu những yếu tố hợp lý, vận dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế -

xã hội Việt Nam

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu một số vấn đề lý luận về biện pháp thi hành nghĩa vụ trả tiền Chương

1 của Luận văn đã đạt được một số kết quả cơ bản sau:

Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các khái niệm về biện pháp cưỡng chế THADS, luận văn đã xây dựng một cách đầy đủ và hoàn chỉnh khái niệm về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trong THADS và các đặc điểm cơ bản của biện pháp này về tính chất của nghĩa vụ phải thi hành, về việc không tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ trong thời hạn luật định, về tính chất của đối tượng của cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền; về trình tự thời gian áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền cũng như mục đích của việc áp dụng

Luận văn cũng đã luận giải làm rõ được ý nghĩa cơ bản của việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, các nguyên tắc chung mà việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa

vụ trả tiền phải tuân thủ cũng như các nguyên tắc riêng biệt như nguyên tắc về sự tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán, nguyên tắc về áp dụng kế tiếp các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền

Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống các qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền trừ trước khi LTHADS được ban hành đến nay, luận văn đã làm rõ quá trình hình thành và phát triển của các qui định về biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền nói riêng trong pháp luật THADS Việt Nam Kết quả nghiên cứu này giúp cho tác giả luận văn có góc nhìn xuyên suốt và sâu sắc hơn về vấn

đề nghiên cứu Bên cạnh đó, trong Chương này, luận văn đã tiếp cận nghiên cứu về pháp luật THADS của một số nước trên thế giới nhằm so sánh, tham khảo, phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt cũng như bài học kinh nghiệm lập pháp có giá trị cho việc kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật THADS Việt Nam

Kết quả nghiên cứu lý luận về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền là tiền

đề cần thiết để phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền (Chương 2), đồng thời là cơ sở quan trọng để luận văn đưa ra những đề xuất, kiến nghị sau khi đã tổng kết về thực tiễn về thi hành các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền (Chương 3)

Trang 36

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH

Dựa trên những vấn đề lý luận đã được luận giải tại Chương 1, tại Chương 2 của Luận văn này, các quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền sẽ được trình bày lần lượt theo thứ tự biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá của người phải thi hành án (2.1); Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án – biện pháp có tính độc lập tương đối hoặc áp dụng sau biện pháp kê biên (2.2) và sau đó là hai biện pháp có liên quan đến tài sản là hiện vật của người phải thi hành án là biện pháp kê biên, xử

lý tài sản của người phải thi hành án (2.3) và biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản của người phải thi hành án (2.4)

2.1 Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá của người phải thi hành án

2.1.1 Về điều kiện áp dụng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá

Theo kết quả nghiên cứu lý luận tại Chương 1 thì khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền do CHV áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án có tài khoản, tiền hoặc giấy tờ có giá nhưng không tự nguyện thi hành án sau thời hạn tự nguyện thi hành án hoặc cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án

Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế hoàn toàn độc lập với các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền khác Việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế nào do CHV quyết định nhưng về lý luận thì để bảo đảm hiệu quả của việc thi hành nghĩa vụ trả tiền thì biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là những biện pháp đầu tiên mà CHV cần phải cân nhắc để lựa chọn Chỉ khi nào không đủ điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế này hoặc việc áp dụng biện

biện pháp cưỡng chế khác Việc nghiên cứu pháp luật thực định cho thấy dường như LTHADS hiện nay không có quy định về thứ tự của các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền mà CHV cần phải áp dụng

Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều

76 và các điều từ Điều 79 đến Điều 83 LTHADS Theo đó, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả

Trang 37

tiền bằng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án sẽ được áp dụng khi đáp ứng các điều kiện sau:

- Thứ nhất, người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định của Tòa án

Nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án là nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc của cơ quan có thẩm quyền như Trọng tài thương mại Việt Nam hoặc Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, được thể hiện ở các dạng như: người phải thi hành

án phải trả tiền bồi thường, bồi thường do làm mất, làm hỏng, bồi hoàn chi phí đào tạo, bồi thường tính mạng sức khỏe hoặc là việc trả tiền nợ, tiền thanh toán theo hợp đồng, tiền công lao động, tiền chênh lệch giá trị tài sản khi phân chia tài sản và cũng có thể là nghĩa vụ nộp phí thi hành án khi người được thi hành án đã nhận được tài sản nhưng không tự nguyện nộp phí thi hành án CHV chỉ được tiến hành cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành

án khi nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án là nghĩa vụ trả tiền Nghĩa vụ này chủ yếu được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án

Còn các trường hợp mà nghĩa vụ của người phải thi hành án không phải là nghĩa vụ trả tiền thì CHV lựa chọn tiến hành cưỡng chế bằng các biện pháp khác Trên thực tế, mặc dù nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án không phải là nghĩa

vụ trả tiền mà có thể là nghĩa vụ giao vật, nghĩa vụ trả nhà hoặc quyền sử dụng đất nhưng trong quá trình tổ chức thi hành thì nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án mới phát sinh thì trong những trường hợp này nghĩa vụ của người thi hành án vẫn được áp dụng như nghĩa

vụ trả tiền

- Thứ hai, có căn cứ để xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

Đối với biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ

có giá của người phải thi hành án thì người phải thi hành án có điều kiện thi hành án được hiểu là có căn cứ để xác định người phải thi hành án có tài khoản, có tiền hoặc giấy tờ có giá

để thi hành án Tài sản của người phải thi hành án là tiền của người phải thi hành án trong tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước Người phải thi hành án có tiền cũng có thể là tiền mặt hoặc tiền trong tài khoản Còn giấy tờ có giá có thể là giấy tờ có giá ngắn hạn hoặc giấy tờ có giá dài hạn Tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án có thể

do chính người phải thi hành án giữ cũng có thể đang do người thứ ba giữ Do đó, CHV cần phải xác minh để khẳng định người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

Như vậy, trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền thì CHV phải

có căn cứ chứng tỏ được người phải thi hành án có điều kiện thi hành án như: người phải thi

Trang 38

hành án đang có tiền mặt hoặc trong tài khoản mở tại ngân hàng, kho bạc nhà nước hoặc các

tổ chức tín dụng hoặc có giấy tờ có giá thì mới có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế này

- Thứ ba, đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng người phải thi hành án vẫn không tự nguyện thi hành

Việc ấn định thời gian tự nguyện thi hành án cho người phải thi hành án là một quy định bắt buộc trong THADS Thời gian để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án là khoảng thời gian để đương sự sắp xếp, chuẩn bị khoản tiền để thanh toán cho bên được thi hành án theo quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án và cũng là khoảng thời gian để đương sự tự lựa chọn, cân nhắc biện pháp thi hành Việc ấn định thời gian tự nguyện thi hành

án được thực hiện theo khoản 1 Điều 45 LTHADS

Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án, nếu xác định được người phải thi hành án có tài khoản, có tiền hoặc giấy tờ có giá để thi hành nghĩa vụ trả tiền mà không tự nguyện thi hành

án thì CHV ra quyết định cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Tuy nhiên, điều kiện trên có thể được vận dụng một cách linh hoạt nhằm bảo đảm hiệu

quả của việc thi hành án Theo quy định tại khoản 2 Điều 45 LTHADS thì trong “Trường

hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì CHV có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của LTHADS” Như vậy, mặc dù điều kiện đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng

người phải thi hành án vẫn không tự nguyện thi hành là điều kiện bắt buộc nhưng trong trường hợp đặc biệt cần thiết, CHV vẫn có quyền áp dụng ngay biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án để buộc người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền

2.1.2 Về trình tự, thủ tục tiến hành biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá

2.1.2.1 Về xác minh điều kiện thi hành

có giá của người phải thi hành án thì CHV phải tiến hành chứng minh người phải thi hành nghĩa

vụ trả tiền có tiền trong tài khoản hoặc có giấy tờ có giá để thu hồi, xử lý

Theo quy định tại Điều 31, Điều 44 LTHADS thì người được thi hành án phải cung cấp các thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Mọi thông tin về điều kiện thi hành án do người được thi hành án cung cấp đều phải được thể hiện trong hồ sơ thi hành án Nếu họ không thể cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì họ phải có yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành xác minh và phải chịu một khoản phí cho hoạt động xác minh này

Trang 39

- Xác minh tiền trong tài khoản:

CHV tiến hành thu thập thông tin về số tài khoản, nơi mở tài khoản, số dư hiện có trong tài khoản có thể là tài khoản cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội của người phải thi hành án LTHADS đã quy định trách nhiệm của kho bạc nhà nước, ngân

liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu cầu của CHV (Điều 176) Tuy nhiên, trên thực tế quy định này chỉ mang tính hình thức bởi mục đích của ngân hàng, tổ chức tín dụng là lợi ích kinh tế nên họ thường bảo vệ khách hàng của mình trong mọi trường hợp dẫn đến gây khó khăn cho hoạt động của Cơ quan thi hành án

Trường hợp người phải thi hành án là pháp nhân thì để thu thập được số tài khoản thì trước hết, CHV lấy thông tin qua mạng về Giấy phép đăng ký kinh doanh qua cổng thông tin của Sở kế hoạch và Đầu tư cấp Tỉnh hoặc trực tiếp gửi Công văn đến Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp bản sao giấy phép đang ký kinh doanh Qua đó để nắm thông tin về tên doanh nghiệp, mã số thuế, địa chỉ trụ sở, ngành nghề kinh doanh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Từ đó để xác minh tên doanh nghiệp có chính xác không và từ mã số thuế để biết số tài khoản của doanh nghiệp qua Cục thuế cấp tỉnh; cũng có thể qua người được thi hành án và đối tác của công ty để biết được số tài khoản Các hành vi này của CHV không trái pháp luật và được pháp luật cho phép

Khi được yêu cầu, các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp các thông tin cần thiết về tài khoản của người phải thi hành án cho CHV

- Xác minh tiền, giấy tờ có giá đang do người phải thi hành án hoặc người thứ ba giữ:

Khi tiến hành xác minh CHV phải mời đại diện chính quyền địa phương (cấp xã, phường) cùng tham dự Quá trình xác minh phải được thể hiện trong hồ sơ thi hành án và phải thể hiện đầy đủ nội dung xác minh và yêu cầu người phải thi hành án, người thứ ba đang giữ tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án không được chuyển dịch các khoản tiền, giấy tờ có giá đó và kịp thời ra ngay quyết định cưỡng chế nhằm tránh hành vi tẩu tán tài sản

2.1.2.2 Về ra quyết định cưỡng chế

Căn cứ vào nội dung xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, CHV ra quyết định cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp trừ tiền trong tài khoản; thu hồi,

xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án theo quy định của pháp luật

- Đối với trường hợp người phải thi hành án có tiền trong tài khoản Số dư trong tài khoản có thể lớn hơn số tiền phải thi hành án, có thể bằng với số tiền phải thi hành án, có thể

ít hơn số tiền phải thi hành án cũng có thể số dư trong tài khoản chỉ đủ để duy trì tài khoản tùy vào từng ngân hàng, tổ chức tín dụng Nếu số dư trong tài khoản lớn hơn hoặc bằng số tiền phải thi hành án thì việc áp dụng biện pháp khấu trừ theo quy định của pháp luật Nếu số

Trang 40

dư trong tài khoản ít hơn số tiền phải thi hành án thì CHV vẫn có thể ra quyết định khấu trừ một số tiền nhất định để thi hành án và để lại số dư đủ để duy trì tài khoản theo quy định của pháp luật Khi ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, CHV phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP

án đang quản lý, nhưng không tự nguyện thi hành án thì CHV có thể ra quyết định thu hồi, xử lý tiền của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 71 LTHADS

- Trong trường hợp xác minh được người phải thi hành án đang có tiền từ hoạt động kinh doanh thì CHV ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành

hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình, mức tối thiểu này tùy thuộc vào tình chất ngành, nghề kinh doanh, quy mô kinh doanh của người phải thi hành án và mức này cũng sẽ được điều chỉnh trong quá trình thi hành án

- Người phải thi hành án đang có tiền hoặc giấy tờ có giá đang do người thứ ba giữ thì CHV ra quyết định thu tiền, tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ theo Điều 14 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP

Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế phải được gửi cho người được thi hành án, người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ tiền, giấy tờ có giá của người phải

người phải thi hành án có trách nhiệm phải thực hiện quyết định cưỡng chế Bên cạnh đó, khi có căn cứ cho rằng người phải thi hành án có dấu hiệu tẩu tán tiền trong tài khoản thì CHV có quyền

ra quyết định phong tỏa tài khoản (biện pháp bảo đảm)

2.1.2.3 Về xây dựng kế hoạch cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế

Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền bằng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế không phải huy động nhiều cán bộ, CHV của Cơ quan thi hành án, cán bộ của các tổ chức, cơ quan hữu quan và các lực lượng bảo vệ cưỡng chế

Việc tổ chức cưỡng chế quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, CHV mời các thành phần liên quan như đại diện VKSND cùng cấp đến làm việc và giao quyết định khấu trừ cho người đại diện hợp pháp của ngân hàng, kho bạc hoặc tổ chức tín dụng để họ tiến hành việc khấu trừ tiền của người phải thi hành án chuyển vào tài khoản của Cơ quan THADS theo đúng yêu cầu của CHV trong quyết định cưỡng chế

Đối với biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án: LTHADS quy định nếu xác minh phát hiện được người phải thi hành án có các loại giấy tờ

có giá, kể các giấy tờ có giá của người phải thi hành án đang do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giữ thì CHV ra quyết định thu giữ giấy tờ có giá hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm

Ngày đăng: 29/03/2018, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w