Bài tập thuế tiêu thụ
Trang 11 Thuế tiêu thụ là gì?
Thuế tiêu thụ là một loại thuế đánh vào tiêu dùng của hộ gia đình Thuế bán
lẻ là một ví dụ về thuế tiêu thụ Như thuế bán lẻ 6%, nghĩa là người tiêu dùng mua hàng hóa giá 100$ phải trả thuế là 6$ cho chính phủ Một người bị đánh thuế bán
lẻ theo số tiền ông ta đã chi cho hàng tiêu dùng của mình Thuế tiêu thụ quan trọng nhất và phổ biến nhất trên thế giới hiện nay không phải là thuế bán lẻ mà là thuế giá trị gia tăng Nhiều quốc gia tiền thu từ thuế VAT chiếm từ 5% đến 20% đóng góp một phần quan trọng cho doanh thu thuế của họ Khó thấy được sự rõ ràng là thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tiêu thụ, nhưng ta thấy ngay rằng phân tích kinh tế dẫn đến kết luận rằng thuế VAT là thuế tiêu thụ
Mặc dù cả thuế bán lẻ và thuế VAT là thuế tiêu thụ nói chung, thực tế thuế tiêu thụ được miễn cho một số loại dịch vụ hoặc hàng hóa như thức ăn hoặc thuốc uống ngoài ra còn có loại thuế tiêu thụ đặc biệt, chẳng hạn như xăng dầu, rượu và thuốc lá, với lý do đánh thuế là ngăn chặn sự ô nhiễm, trả tiền cho cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hoặc không khuyến khích hàng hóa độc hại Nó có thể đánh thuế hàng năm đối với một hộ gia đình, mỗi hộ gia đình sẽ tính toán mức tiêu thụ của nó bằng cách trừ tiết kiệm từ thu nhập của mình (chẳng hạn như thuế chưa được ban hành và thực hiện) Chương này xem xét và phân tích các loại thuế tiêu thụ khác nhau
Chính phủ mỹ không thu cả tiền thuế bán lẻ và thuế giá trị gia tăng
2 Thuế bán lẻ (RST) và thuế giá trị gia tăng (VAT):
Thuế bán lẻ (RST): Thuế bán lẻ là tỷ lệ phần trăm thuế trên doanh số bán
hàng của các nhà bán lẻ, về nguyên tắc, hàng hóa đầu tư được cho là miễn thuế, do
đó thuế bán lẻ là thuế tiêu thụ trong thực tế, đôi khi khó tránh đánh thuế một số mặt hàng đầu tư Điều này là thích hợp nếu nó được sử dụng bởi một hộ gia đình cho mục đích phi kinh doanh, bởi vì việc sử dụng đó có thể được coi là tiêu dùng nhưng nếu nó được sử dụng bởi một doanh nghiệp, sau đó nó thực sự là một hàng hóa đầu tư đóng góp vào việc sản xuất các đầu ra của doanh nghiệp đó
Trang 2Thuế được đánh vào những doanh nghiệp bán lẻ như chúng ta đã biết ở chương 7 nếu chúng ta giả định nhu cầu đó là co giãn tương đối so với cung cấp, hầu hết các gánh nặng rơi vào người tiêu dùng thông qua giá cả cao hơn Trong thực tế, hầu hết người tiêu dùng có thể giả định rằng họ đang mang toàn bộ gánh nặng, bởi vì thuế sẽ được hiển thị một cách riêng biệt tại máy tính tiền Khi người tiêu dùng mua một món hàng có giá nhãn dán là 100 $ trong một nhà nước có thuế 6% doanh số bán lẻ, 6 $ tiền thuế được ghi nhận thêm vào một hiển thị trên giấy biên nhận, và người tiêu dùng phải trả 106 $ để mua hàng hóa Nhớ lại từ chương
7 mà người tiêu dùng là chịu toàn bộ gánh nặng nếu giá là 100 $ không bao gồm thuế doanh thu bán lẻ, có thể là không có thuế, giá sẽ có được, nói, 101 $ nếu như vậy , sau đó là gánh nặng của người tiêu dùng là 5 $ và gánh nặng của nhà bán lẻ
là 1 $ Khi nhà kinh tế gọi là thuế bán lẻ là thuế tiêu dùng, họ là giả định, khá hợp
lý, mà hầu hết các gánh nặng rơi vào người tiêu dùng chứ không phải về các nhà bán lẻ
Với giả định rằng hầu hết các gánh nặng của thuế doanh thu bán lẻ rơi vào người tiêu dùng, thuế bán lẻ là làm giảm đối với thu nhập: như khi chúng đi từ các
hộ gia đình có thu nhập thấp đến các hộ gia đình có thu nhập cao trong một năm,
tỷ lệ gánh nặng thuế đối với thu nhập thường giảm vì người có thu nhập cao hơn thường tiết kiệm phần lớn thu nhập của họ so với người có thu nhập thấp
Bảng 9.1 minh họa điều này Như chúng ta chuyển từ các hộ gia đình có thu nhập $ 20,000 cho hộ thu nhập 100.000 $, thuế / thu nhập tỷ lệ giảm từ 20% đến 15%, vì việc tiêu thụ / thu nhập tỷ lệ giảm (từ 16.000 $ / 20.000 $ 80% = đến 60.000 $ / 100.000 $ = 60%)
Lưu ý rằng trong ví dụ này, tiêu dùng là số tiền mà các hộ gia đình bỏ ra không bao gồm thuế bán hàng Bao gồm cả thuế bán hàng, hộ gia đình 100000 $ chi ra 75000 $ và hộ gia đình 20.000 $ chi ra 20000 $ Như vậy, thuế bằng 20% của số tiền mỗi người bỏ ra bao gồm thuế (15.000 $ / 75.000 $ = 20% và 4.000 $ / 20.000 $ = 20%) các nhà kinh tế nói rằng 25% là mức thuế suất thuế độc quyền -
Trang 3tỷ lệ phần trăm mà người tiêu dùng thực sự sẽ nhìn thấy trên biên nhận bán hàng,
đó là tỷ lệ được áp dụng cho giá nhãn dán - trong đó 20% đã bao gồm thuế suất
Thuế giá trị gia tăng (VAT): Thuế giá trị gia tăng là tỷ lệ phần trăm thuế
trên giá trị được thêm vào ở mỗi giai đoạn của sản xuất Bảng 9,2 cho thấy cách
mà 10% giá trị thuế được thêm vào mỗi phần hoạt động Khối đầu bảng 9,2 chỉ ra cách thuế GTGT áp dụng đối với việc sản xuất tiêu dùng một hàng hóa - bánh mì Người nông dân trồng lúa mì và bán cho các chủ cối xay, chủ cối xay nghiền thành bột và bán cho thợ làm bánh, người làm bánh sử dụng để nướng bánh mì và bán bánh mì cho khách hàng Với thuế VAT, thuế được thu ở từng giai đoạn của sản xuất ở mỗi giai đoạn, giá trị gia tăng được xác định là doanh thu trừ đi giá mua hàng, vì vậy nông dân phải trả 3 $ thuế (10% của 30%), các chủ cối xay trả 4
$ thuế (10% của 40%), và người làm bánh trả 3 $ thuế (10% của 30%), tổng cộng
là 10% Lưu ý rằng tổng giá trị gia tăng là 100 $, tương đương với giá trị của sản phẩm cuối cùng (bánh mì) đã bán người tiêu dùng
T = t(S-P)
Chủ xưởng bột : 4$ = 1 (70$ - 30$)
Trong đó t là mức thuế suất, S là doanh thu, và P là chi phí mua hàng Đây được gọi là phương pháp trừ
Một cách khác để chủ cối xay tính thuế GTGT của ông ta là có thể lấy 10%
từ 70$ của doanh số bán hàng để có được một khoản thuế dự kiến là 7%, nhưng sau đó trừ đi một khoản tín dụng thuế bằng 10% của 30 $ chi phí ông ta mua hàng
là 3 $ Do đó, thuế cuối cùng của ông là 7 $ - 3 $ = 4 $ Tổng quát hơn:
T = tS – tP
Miller : 4$ = 1(70$) – 1(30$)
Trong đó tS là thuế dự kiến và tP là tín dụng thuế Đây được gọi là phương pháp hoá đơn tín dụng Tất nhiên t (SP) = TS - TP, do đó, trong hai phương pháp cho kết quả tương tự
Tuy nhiên, hai phương pháp khác nhau về cách thể hiện Phương pháp làm phép trừ thuế GTGT thực hiện tương tự như thuế thu nhập doanh nghiệp, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí hàng bán (lao động bồi thường, vv) được trừ
Trang 4vào doanh thu Với thuế GTGT, giá mua từ các công ty khác là được trừ vào doanh thu Nếu một quốc gia đang xem xét thay thế thuế thu nhập doanh nghiệp bằng thuế GTGT, Có thể để nguyên bản chất để tiến hành một phương pháp trừ thuế GTGT
Thuế GTGT khấu trừ:
Một số bước sau sẽ được yêu cầu để chuyển đổi một thuế thu nhập doanh nghiệp thành thuế GTGT khấu trừ Nhớ lại từ chương 8 cách một công ty xác định thuế thu nhập của mình Thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận) bằng doanh thu trừ đi chi phí hàng bán trong năm nay Giá vốn hàng bán trong năm này bao gồm đền bù cho người lao động, chi phí vật liệu (sản phẩm trung gian) được sử dụng lên làm cho các sản phẩm cuối cùng, lãi suất trả cho các chủ nợ và khấu hao (hao mòn tài sản) của hàng hoá đầu tư Tỷ lệ thuế doanh nghiệp sau đó được áp dụng đối với thu nhập này
Tương tự, với thuế GTGT, doanh thu bán hàng được thêm vào và chi phí về nguyên vật liệu được trừ di, nhưng để chuyển đổi thuế thu nhập doanh nghiệp thành thuế GTGT khấu trừ, những thay đổi này phải được thực hiện: không khấu trừ đối với các khoản bồi thường cho người lao động, lãi suất cho các chủ nợ hoặc giảm giá tài sản đầu tư năm nay Thuế suất thuế GTGT là sau đó áp dụng cho cơ
sở tính thuế này
Các phương pháp hoá đơn tín dụng làm cho thuế GTGT thể hiện tương tự như thuế tiêu thụ vì bước đầu tiên của nó là để áp dụng một mức thuế suất thuế doanh thu bán hàng để có được (tS) (sau khi tính toán tS thuế dự kiến của nó, công
ty này được phép giảm thuế của nó bằng cách lấy một khoản tín dụng thuế bằng đến tP) Nếu một quốc gia ban đầu đánh thuế tất cả các công ty (không chỉ các nhà bán lẻ) trên doanh số bán hàng của họ - như một loại thuế bán hàng được gọi là thuế doanh thu - nó có vẻ tự nhiên để lập một hóa đơn GTGT tín dụng Cách đây vài thập kỷ, nhiều nước châu Âu đã có thuế doanh thu, và họ tìm thấy nó tự nhiên
để thay thế thuế doanh thu của họ với một phương pháp hoá đơn tín dụng được sử dụng bởi nhiều quốc gia hơn các phương pháp khấu trừ)
So sánh thuế bán lẻ và thuế giá trị gia tăng: So sánh 10% thuế Vat với 10%
thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với 10% thuế thu nhập doanh nghiệp, người nông dân và người thợ xay sẽ không phải nộp thuê, nhưng người bán bánh sẽ phải trả 10$ thuế trên 100$ doanh thu của họ
Đối với cả 2 cách, 10$ thuế sẽ được tính vào giá mà người tiêu dùng phải trả Đối với thuế VAT, 10$ thuế sẽ được tính như sau: 3$ từ người nông dân, 4$ từ người thợ xay, và 3$ từ người bán bánh Đối với thuế RST, 10$ thuế sẽ được tính vào công đoạn cuối cùng đó là từ người bán bánh
Với cả 2 cách tính thuế trên, 10$ đều được tính vào giá bán của sản phẩm => ảnh hưởng đến người tiêu dùng là như nhau
Trang 5Đối với thuế RST, những thiết bị được bán cho hoạt động kinh doanh sẽ k phải chịu thuế, và thuế VAT cũng vậy Đúng như vậy, thuế VAT sẽ được thu ở những giai đoạn đầu của quá trình sản xuất Tuy nhiên, những hoạt động SX KD mà sử dụng những thiết bị đó sẽ được giảm tổng tiền thuế VAT phải trả ( theo công thức
ở trên) => tăng tP, giảm T
=> bằng cách đó, nó đã làm giảm ảnh hưởng của thuế đối với những thiết bị đó Đối với cả RST và VAT, những hàng hóa nhập khẩu bị tính thuế cùng lãi suất với hàng hóa nội địa để ngăn chặn quá mức từ những nhà nhập khẩu, còn đối với hàng xuất khẩu sẽ không phải chịu thuế RST, chỉ hàng hóa nội địa được bán cho người tiêu dùng nội địa mới bị tính thuế Thu nhập từ việc XK hàng hóa sẽ bị bỏ sót trong doanh thu S ( ở công thức trên) Thuế VAT sẽ được thu ở giai đoạn đầu của công đoạn sản xuất trong quá trình xuất khẩu hàng hóa Tuy nhiên, hợp đồng xuất khẩu sẽ làm giảm tổng VAT vì việc bỏ sót doanh thu bán hàng S
Dựa vào những phân tích trên đây, những chuyên gia kinh tế đã kết luận:
Thuế VAT cũng tương tự như RST, đều là thuế tiêu dùng Với 2 loại thuế trên thì người tiêu dùng đều chịu gánh nặng thuế như nhau, tùy thuộc và mức độ chi tiêu tiêu dùng
Với những phân tích đó thì Thuế VAT là lũy thoái đối với thu nhập, điều đó cũng đúng với thuế RST: Khi chúng ta di chuyển từ nơi có thu nhập thấp đến nơi có thu nhập cao ( tính trong 1 năm), tỷ lệ thuế trên thu nhập nhìn chung là giảm Lý dó là khi di chuyển từ nơi thu nhập thấp sang nơi thu nhập cao, người thu nhập cao thường có tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập thấp hơn người có thu nhập thấp
Sự miễn thuế đối với RST và VAT
Vấn đề chính là phân loại những hàng hóa dịch vụ nào được miễn thuế (hoặc chỉ chịu lãi suất thấp) Có 2 cuộc tranh cãi xoanh quanh vấn đề này Thứ 1 là sự công bằng cho việc miễn thuế đối với những hàng hóa là thực phẩm và thuốc men, bởi
vì chúng là những sản phẩm thiết yếu, không giống những sp khác Thứ 2: sự miễn thuế có thể làm giảm sự lũy thoái của RST và VAT Nếu hộ gia đình thu nhập thấp chi tiêu có tỷ lệ % giữa chi tiêu và thu nhập cao) cao hơn những hộ gđ có thu nhập cao Sự miễn thuế đối với thực phẩm và thuốc sẽ làm giảm sự lũy thoái
Có 3 lý luận đối lập với sự miễn thuế, thứ 1:nếu k có sự miễn thuế, căn cứ tính thuế sẽ rộng nhất có thể, và doanh thu mục tiêu đặt ra sẽ được tăng lên với mức thuế suất thấp nhất có thể, với mức thuế thấp hơn thì hiệu quả thường thấp hơn do phải chịu tổn thất từ việc nộp thuế Thứ 2, Có chi phí quản lý và kiểm toán đối với những hàng hóa chịu thuế được phân loại rõ ràng Thứ 3: sự miễn thuế không phải
là tốt hoàn toàn Vd: sự miễn thuế đối với thực phẩm đối với người giàu cũng giống như người nghèo
Sự miễn thuế đối với những hàng hóa tiêu dùng có thể đạt được với loại thuế VAT Thuế VAT được thu ở giai đoạn đầu của quá trình sản xuất hàng hóa nội địa Tuy nhiên, người bán hàng bán những hàng hóa này tới người tiêu dùng sẽ làm giảm được tổng thuế VAT phải trả, bằng cách đó đã làm giảm ảnh hưởng của thuế đối với hàng tiêu dùng
Chiết khấu với RST hay VAT
Trang 61 cách để làm giảm lũy thoái thuế RST hay VAT là phải có giấy chiết khấu của kho bac Mỹ để giảm gánh nặng 1 phần hay hoàn toàn tùy thuộc vào gánh nặng thuế của người tiêu dùng Vd: mỗi hộ gia đình có thể được chiết khấu 2000$ gánh nặng thuế mỗi năm ( hoặc nhận 4 lần 500$ trong vòng 1 năm) từ kho bạc Mỹ để
bù đắp khoản thuế RST hoặc VAT trị giá 2000$ Để trả cho số thuế này, chính phủ
Mỹ sẽ điều chỉnh thuế suất cao hơn, dẫn đến thu nhập sau thuế không thay đổi bất chấp gánh nặng thuế
1 vấn đề nữa là sự thay đổi số tiền thuế phụ thuộc vào số lượng người lớn và trẻ
em trong gia đình Nếu vậy, sự kiểm tra những con số đó sẽ rất cần để xác định số thuế chính xác phải nộp
1 vấn đề khác là sự thay đổi lượng thuế phải nộp phụ thuộc vào thu nhập hộ gia đình Điều này sẽ không thể thực hiện nếu thuế RST và VAT thay thế thuế thu nhập, bởi vì chính phủ sẽ chấm dứt việc nhận thông tin về từng hộ gia đình Điều
đó hoàn toàn có thể, tuy nhiên, điều đó chỉ được làm khi mà RST và VAT bổ sung cho thuế thu nhập Gánh nặng sẽ được bảo hiểm như 1 khoản tín dụng được hoàn trả vào số tiền thuế thu nhập hàng năm của hộ gia đình, và số tiền bảo hiểm có thể thay đổi tùy thuộc vào thu nhập của hộ gia đình theo báo cáo
Thuế đồng loạt và thuế X
Một cách để giảm sự lũy thoái thuế VAT là thay đổi nó, trở thành thuế đồng loạt hay thuế X Để trở thành thuế đồng loạt, bắt đầu với phương thức tính thuế VAT
và không tính thuế thu nhập của Hộ Gia đình Sau đó, cho phép các công ty khấu trừ thu nhập từ tiền lương, (không theo thuế suất VAT tiêu chuẩn)nhưng đối với thuế thu hộ gia đình thì thu nhập từ tiền lương được miễn thuế Cái tên thuế đồng loạt xuất hiện từ việc thuế thu nhập từ tiền lương được khấu trừ bị tính 1 thuế suất duy nhất và tỷ lệ đó giống như thuế suất VAT Tuy nhiên, sự miễn thuế có nghĩa
là những đồng đôla đầu tiên được áp dụng thuế suất 0% => có 2 mức thuế suất trong thuế đồng loạt : 0% đối với việc miễn thuế và 1 thuế suất duy nhất đối với việc miễn thuế
Thuế X cũng giống như thuế đồng loạt ngoại trừ việc tiền lương k được miễn thuế
mà bị tính với lãi suất gộp như hệ thống thuế hiện hành của Mỹ
Như những cải cách về thuế khác, những người ủng hộ thuế đồng loạt mở rộng để
có thể chỉ chịu 1 mức tỷ lệ thuế thấp, mở rộng ở đây được hiểu là khấu trừ 1 phần hay toàn bộ các khoản chi tiêu Điều quan trọng ở đây là phải hiểu được rằng vấn
đề mở rộng là 1 vấn đề hoàn toàn riêng biệt, nó có thể liên quan hay không liên quan với thuế đồng loạt hay thuế X
Những cư dân thành thị ở đây dặt ra câu hỏi tại sao Là 1 hộ gia đình,bị đánh thuế dựa trên thu nhập của người lao động nhưng không đánh thuế trên vốn ( đầu tư) ? câu trả lời là: thuế đồng loạt cũng như thuế VAT, không cho phép các doanh nghiệp khấu trừ các khoản thu nhập từ vốn, vì vậy, thu nhập từ vốn thực chất bị đánh thuế tùy thuộc vào cấp độ của doanh nghiệp và sẽ không bị đánh thuế đối với cấp độ là hộ gia đình ( thu nhập từ tiền lương của hộ gia đình bị đánh thuế bởi công ty được khấu trừ khoản thu nhập từ tiền lương) Tuy nhiên, khi nghe về thuế đồng loạt hay thuế X được tính toán như thế nào, 1 vài cư dân không hiểu hay gặp
Trang 7phải vấn đề về việc cấp độ hộ gia đình thì thuế đồng loạt hay thuế X sẽ đánh thuế với thu nhập từ tiền lương, nhưng không đánh thuế với thu nhập từ vốn
3 Thuế tiêu thụ hộ gia đình:
3.1 Khái niệm thuế tiêu thụ hộ gia đình:
Có khả năng sẽ thay thế thuế thu nhập gia đình bằng thuế tiêu dùng gia đình Trên tờ kê khai thuế 1040 hàng năm, hộ gia đình sẽ kê khai mức tiêu dùng của gia đình mình thay vì mức thu nhập như trước và trả thuế dựa trên mức tiêu dùng thay vì mức thu nhập Cân nhắc lựa chọn giữa hai loại thuế, sẽ có khả năng
bổ sung thuế thu nhập gia đình bằng thuế tiêu dùng tăng dần (lũy tiến) dựa trên mức tiêu dùng cao; trên tờ khai thuế 1040 hàng năm, thì một gia đình khá giả sẽ kê khai mức tiêu dùng cũng như mức thu nhập của gia đình và trả thuế dựa trên mức tiêu dùng và mức thu nhập của gia đình
Cũng giống như thuế thu nhập, thuế tiêu dùng gia đình cũng có thể tính theo thuế suất lũy tiến Nếu thuế tiêu dùng gia đình dự kiến được thay cho thuế thu nhập và tăng nhanh mức doanh thu (mức thu nhập) từ mỗi tầng lớp mức thu nhập khác nhau (để sự thay thế là một lợi tức trung lập và thuế tiêu dùng có cùng mức tích lũy như thuế thu nhập mà nó thay thế), tức thì tỷ lệ thuế tiêu dùng phải được tích lũy nhiều hơn tỷ lệ thuế thu nhập Có được điều này là bởi khi chúng ta chuyển từ gia đình có mức thu nhập thấp sang mức thu nhập cao thì tỷ lệ của mức tiêu dùng so với thu nhập sẽ giảm (sự giàu có giúp tiết kiệm phần trăm thu nhập lớn hơn) Tỷ lệ cũng có thể cao hơn tỷ lệ thuế thu nhập giúp làm tăng tỷ lệ doanh thu tương tự bởi vì theo cơ sở tính thuế , thì mức tiêu dùng nhỏ hơn thu nhập ( tiền tiết kiệm thuộc về dạng khấu trừ thuế) Do vậy, để tăng mức doanh thu tương tự từ
sự giàu có, tỷ lệ thuế cao nhất sẽ phải thiết lập cao hơn mức đánh thuế thu nhập 35
% hiện tại
3.2 Lịch sử ra đời thuế tiêu thụ hộ gia đình:
Trường hợp chuyển đối từ thuế thu nhập gia đình sang thuế tiêu dùng gia đình được diễn tả vào khoảng nửa thế kỷ trước trong hai quyển sách của hai nhà kinh tế lỗi lạc Irving Fisher của trường đại học Yale và Micholas Kelder đến từ trường đại học Cambridge Sau đó, việc chuyển đối này được phát triển hơn trong……… vào khoảng giữa thập niên 1970 Ba thập kỷ trôi qua đã chứng kiến bài báo và những quyển sách mô tả và phân tích thuế tiêu thụ gia đình (cũng còn được gọi là thuế thu nhập được tiêu thụ hoặc thuế tiêu dùng) Năm 1995, một đạo luật về sự chuyển đổi từ thuế thu nhập gia đình sang thuế tiêu dùng gia đình được đưa ra giới thiệu tại thượng nghị viện của Mỹ, những người ủng hộ thuyết này là thượng nghĩ sĩ Domenici, thuộc đảng cộng hòa, và thượng nghĩ sĩ Nunn, một đảng viên đảng Dân chủ, và đạo luật này được gọi là Thuế Trợ cấp Tiết kiệm không giới hạn
Thực hiện khấu trừ thuế tiết kiệm không phải là một sự khởi đầu căn bản bởi vì khi chúng ta nhìn vào chương 8, tiết kiệm trong các khoản tiền lương hưu nhất định đã thực sự được khấu trừ thuế dưới chính sách thuế thu nhập hiện hành
Trang 8Cái khác nhau ở đây là khi chúng ta sử dụng thuế tiêu dùng gia đình, tất cả các tiền tiết kiệm – dù là có cho việc nghỉ hưu hay không- thì cũng sẽ được khấu trừ thuế
3.3 Ước tính thuế tiêu thụ hộ gia đình:
Ví dụ theo sau sẽ mô tả làm thế nào một hộ gia đình có thể ước tính được mức tiêu thụ của gia đình đó
Giả sử gia đình đó kiếm khoảng 70,000 đô La từ tiền lương và nhận khoảng 6,000 tiền lãi và tiền cổ phần, chứng khoán và phiếu nợ là 4, 000 đô la Vậy tổng
số lượng tiền mặt thu vào là 80,000 Nếu gia đình tăng cân tăng khoản tiết kiệm khoảng 8.000 đô la, mua cổ phiếu và phiếu nợ khoảng 12.000 đô la, và khoảng 10.000 thuế giữ lại cho việc trả séc, như vậy tổng số lượng tiền mặt chi ra không dùng vào mục đích tiêu dùng là 30.000 đô la Vậy nên, mức tiêu dùng của gia đình
đó là 50.000 đô la (80.000 đô la trừ ra 30.000 đô la)
Có một vài vấn đề thực tiễn nảy sinh khi áp dụng thuế tiêu dùng gia đình
đó là không tồn tại thuế thu nhập Ví dụ có thể sẽ có gắng nặng cho một gia đình
vì phải trả thuế cho mức tiêu dùng khổng lồ của toàn gia đình cho việc mua nhà trong năm ngôi nhà được mua đó Phải cần có những biện pháp để giúp rải thuế ra những thời kỳ khác nhau Một trong những lựa chọn để giải quyết chuyện mua nhà
là đầu tư khấu trừ thuế trong năm mua nhà nhưng cũng phải yêu cầu hộ gia đình cộng thêm 5 % trượt giá hàng năm của ngôi nhà của họ đối với mức tiêu dùng dựa trên bản kê khai thuế 1040 (5% giá trị trượt giá của ngôi nhà sẽ là một khoản ước tính vào mức tiêu thụ nhà ở của gia đình đó), lựa chọn này đòi hỏi hộ gia đình phải cung cấp ước tính
3.4 Thuế tiêu thụ lũy tiến đối với người có thu nhập cao:
Có một sự đề nghị đơn giản hơn việc thay thế thuế thu nhập bằng thuế tiêu dùng sẽ được đưa ra giới thiệu về thuế tiêu dùng tích lũy dựa trên mức tiêu dùng cao như một biên bản bổ sung cho thuế thu nhập Tất cả các hộ gia đình sẽ vẫn phải đóng thuế thu nhập Tuy nhiên , các hộ gia đình có thu nhập cao sẽ còn phải đóng thuế tiêu thụ tích lũy, thuế này sẽ được thu thập thông qua tờ khai thuế thường xuyên Các hộ gia đình có mức thu nhập bé hơn 500.000 đô la sẽ được miễn thuế tiêu dùng tích lũy, và các hộ gia đình với mức thu nhập trên 500.000 đô
la sẽ phải trả thuế tiêu dùng chỉ cho khoản tiêu dùng trên 500.000 đô la
Hai lập luận được đưa ra về việc xây dựng thuế tiêu dùng tích lũy dựa trên mức tiêu dùng rất cao: một cái lập luận truyền thống và cái kia thì mới lạ Lập luận truyền thống chỉ ra việc xây dựng chính sách thuế này sẽ có ít ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế hơn là tăng tỷ lệ thuế thu nhập vào sự giàu có Việc tăng tỷ lệ thuế thu nhập làm giảm việc khuyến khích tiết kiệm và đầu tư tài chính bởi vì nó sẽ làm tăng tỷ lệ thuế vào trên lãi suất, tiền lãi cổ phần và việc thu thập vốn Việc tiết kiệm và đầu tư ít có nghĩa là ít tăng trưởng kinh tế Thuế tiêu dùng tích lũy sẽ tránh sự không hứng thú vào việc tiết kiệm và đầu tư
Trang 9Lập luận mới mẻ về việc đánh thuế vào mức tiêu thụ rất cao sẽ phát sinh ra những cái tiêu cực bên ngoài Theo quan điểm này thì khi sự giàu có tăng lên, kích thước của ngôi nhà hoặc sự sang trọng của những vật sở hữu của họ hoặc là những
kỳ nghỉ hè, một cách vô ý họ gia tăng các tiêu chuẩn tuyệt đối dựa trên những cái
mà sự giàu có đơn thuần vô thức đó đạc sự tiêu dùng của họ; sự giàu có đơn thuần trở nên ít thõa mãn sự tiêu dùng của họ hơn và cảm thấy một áp lực huyền ảo về việc tiêu dùng nhiều chỉ để duy trì sự có ích Trong bản kê khai thuế, khi sự giàu
có đơn thuần tăng sự tiêu dùng của họ sẽ tăng tiêu chuẩn tuyệt đối của họ một cách vô thức về những cái mà sự giàu có tuyệt đối vô thức làm thước đo sự tiêu dùng của họ
Vì vậy nó tiếp tục giảm xuống khi mỗi tầng lớp vô ý đặt áp lực vào tầng lớp dưới nó Sự ảnh hưởng theo tầng lớp bắt đầu tại tầng lớp cao và truyền xuống các tầng lớp trong xã hội Từ viễn cảnh này, đánh thuế vào sự tiêu dùng rất cao chính xác là những gì cần thiết cho việc tiếp thu những cái bên ngoài- để giảm mức tiêu dùng rất cao tại tầng lớp cao trước khi phát sinh một làn sóng phản tác dụng
Hãy để chúng ta phân tích sự ảnh hưởng của việc thay thế thuế thu nhập bằng thuế tiêu dùng
1 Phân tích tác động của việc thay thế thuế tiêu thụ bằng thuế thu nhập:
1.1 Thuế thu nhập là gì?
1.2 Tác động của thuế thu nhập lên tiết kiệm:
Bảng 9.3 chỉ ra sự ảnh hưởng vào việc tiết kiệm khi thuế tiêu dùng thay thế cho thuế thu nhập Chúng ta hãy xem xét một nền kinh tế với chỉ 2 người C và S Mỗi người có 100.000 đô la thu nhập và vậy thì họ sẽ đóng thuế thu nhập 10%, suy ra mỗi người trả 10 nghìn đô la, hai người là 20 nghìn đô C và S là người có quan điểm cực đoan quá khích về tiêu dùng và tiết kiệm Như đã được chỉ ra trong phần đầu, sau khi trả thuế thu nhập, C tiêu dùng phần còn lại ( tức 90 nghìn đô la) trong khi S tiết kiệm phần còn lại (90 nghìn đô la) Như vậy tổng số tiền tiết kiệm
là 90 nghìn đô la từ số tiền của S
Giả sử thuế tiêu dùng thay thế cho thuế thu nhập thì điều đó sẽ làm tăng tỷ
lệ lợi nhuận tương tự (20 nghìn đô la) Bởi vì S không tiêu gì cả và tất cả 20 nghìn
đô của lợi nhuận thuế phải suất phát từ C Trong phần giữa, chúng ta giả sử rằng C tiếp tục không tiết kiệm khoản tiền nào, vì thế C trả 20 nghìn thuế và dùng 80 nghìn đô Vậy thì, chính phủ sẽ phải thiết lập tỷ lệ thuế tiêu dùng khoảng 25% (20/80 nghìn = 25%) Tổng tiết kiệm tăng từ 90 nghìn lên 100 nghìn đô bởi vì S tăng tiết kiệm từ 90 nghìn lên 100 nghìn đô
Phần giữa chỉ ra rằng thậm chí C tiếp tục không tiết kiệm khoản tiền nào thì tổng tiết kiệm cũng sẽ tăng (từ 90 lên 100 nghìn đô) Lý do ở đây là bởi sự thay thế làm cho S người tiết kiệm sẽ trả ít thuế (0 đô la thay cho 10 nghìn đô la) và người C vẫn tiếp tục tiêu tiền sẽ phải trả nhiều thuế (20 nghìn đô thay cho 10 nghìn đô) Vì thế 10 nghìn đô sẽ được chuyển từ C người tiếp tục tiêu tiền sang S người tiết kiệm tiền Sự ảnh hưởng phân phối qua lại theo chiều ngang này làm
Trang 10tăng tổng tiền tiết kiệm (đó là chiều ngang bởi vì nó là một sự chuyển dich giữa hai người có cùng chung thu nhập chứ không phải là sự chuyển dịch tiền từ người giàu sang người nghèo)
Phần cuối cùng của bảng chỉ ra rằng việc tăng lên trong tổng tiền tiết kiệm
sẽ lớn hơn nếu C hưởng ứng sự khích lệ thuế mới bằng cách tiết kiệm tiền Bởi vì
S không tiêu gì nên C phải trả 20 nghìn tiền thuế Tuy nhiên nếu C giờ trả 20 nghìn tiền thuế thì giả sư rằng C sẽ tiêu hết 60 nghìn và chỉ tiết kiệm 20 nghìn Thì chính phủ sẽ phải thiết lập tỷ lệ thuế là 33% (20 nghìn/ 60 nghìn= 33%) Tổng tiết kiệm tăng từ 90 nghìn lên 120 nghìn bởi vì S tăng tiền tiết kiệm từ 90 nghìn lên
100 nghìn (sự ảnh hưởng phân phối theo chiều ngang), và C tăng tiết kiệm từ 0 nghìn lên 20 nghìn (sự ảnh hưởng hưởng ứng)
Cuối cùng thì sự thay thế thuế thu nhập bằng thuế tiêu dùng sẽ làm tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế thông qua ảnh hưởng trì hoãn Hãy xem xét cuộc đời của một cá nhân nào đó Mức thu nhập của một người tăng lên thông qua công việc của họ cho đến khi về hưu khi mà thu nhập nhờ vào lao động giảm dần và chỉ
có phần thu nhập nhờ vào vốn vẫn tiếp tục thu được, vì thế đã có một sự giảm sút nghiêm trọng trong thu nhập lúc về hưu Vì vậy, thông qua cuộc đời của một ai đó, thuế thu nhập của người đó tăng lên cho đến khi về hưu thì mức thu nhập giảm nhanh chóng, một người sẽ phải trả thuế thu nhập nhiều hơn trong một năm tiêu biểu khi mà họ làm việc nhiều hơn khi họ về hưu Với thuế tiêu dùng thì một cá nhân tiết kiệm đủ tiền trong suốt những năm làm việc thì họ có thể tránh được những tình huống phải cắt giảm tiêu dùng trong những năm về hưu sau này Vì thế thông qua cuộc sống của mình, một người có thể vạch ra kế hoặc phía trước để có thể chi tiều dù là trong những năm làm việc sung sức nhất hay khi đã về hưu
Vì thế nếu thuế thu nhập được thay bằng thuế tiêu dùng thì một người sẽ trả
ít thuế hơn trong thời kỳ chưa về hưu và có thể di chuyển thuế trong suốt những năm đã về hưu, thuế sẽ được hoãn lại đến những năm cuối cuộc đời Sự giảm trong việc nộp thuế trong những năm làm việc của cuộc đời có thể cho phép một người tiết kiệm nhiều hơn trong thời kỳ này Vì thế một người có thể tích lũy nhiều tiền hơn trong cuộc sống của họ và vì lẽ đó mà nền kinh tế sẽ tích lũy được nhiều vốn hơn nhờ vào hiệu quả trì hoãn
1.3 Tác động của thuế thu nhập lên tổn thất xã hội:
Thuế thu nhập bao gồm thuế đánh trên thu nhập từ vốn và thuế đánh trên thu nhập từ lao động Nếu thuế trên thu nhập từ vốn gây ra tổn thất xã hội trong
sự lựa chọn giữa tiết kiệm và tiêu dùng thì thuế tiêu thụ gây ra tổn thất xã hội trong sự lựa chọn giữa làm việc và nghỉ ngơi Việc thay thế thuế tiêu thụ bằng thuế thu nhập sẽ làm giảm bớt tổn thất xã hội trong việc chọn lựa giữa tiết kiệm và tiêu thụ nhưng sẽ làm tăng tổn thất xã hội trong việc chọn lựa giữa làm việc hay nghỉ ngơi Vì thế, chúng ra sẽ xem xét tác động của thuế nào sẽ gây ra tổn thất xã hội lớn hơn