-Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN, khắc phục tình trạng nước
Trang 11 Bằng những lý luận đã học và những hiểu biết thực tiễn anh, chị hãy cho biết trong xã hội nước ta hiện nay có những giai cấp, tầng lớp nào và hiện tượng người bóc lột người có tồn tại hay không? Vì sao?
Nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong thời kỳ này có nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, có nhiều loại hình kinh tế (hay thành phần kinh tế) khác nhau cùng tồn tại Do đó trong xã hội cũng tồn tại nhiều giai cấp
và tầng lớp khác nhau
Trong xã hội nước ta hiện nay có giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, tầng lớp doanh nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác
Ở nước ta chế độ người bóc lột người đã bị xóa bỏ, về cơ bản giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác đã trở thành những người làm chủ đất nước (trên tất cả các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…) Nhưng hiện tượng có một bộ phận người này bóc lột một bộ phận người khác vẫn còn tồn tại (chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ) Trong đó một bộ phận người lao động hiện nay đang làm việc trong các cơ sở kinh tế tư nhân (của người Việt và người nước ngoài) còn bị bóc lột sức lao động ở các mức độ khác nhau Vì những cơ sở kinh tế đó, tư liệu sản xuất chủ yếu và quyền điều hành sản xuất còn nằm trong tay các chủ sử dụng lao động là các nhà tư bản
2 Liên hệ đấu tranh giai cấp hiện nay ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, đấu tranh giai cấp trong giai đoạn quá độ hiện nay cũng là một tất yếu Bởi lẽ, vẫn còn những lực lượng đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc và nhà nước ta Hơn nữa chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH cho nên cuộc đấu tranh giai cấp vẫn là tất yếu Tuy nhiên việc xác định cơ cấu giai cấp và đặc điểm của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay đang là vấn đề phải tiếp tục giải quyết trên cơ sở giữ vững định hướng và có tư duy mới Chúng ta đang thực hiện sự quá độ lên CHNX bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Trong quá trình
đó, nhất thiết phải phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân Từ đó nảy sinh mâu thuẫn khách quan giữa 2 khuynh hướng phát triển kinh tế, một là sự phát triển theo khuynh hướng XHCN, hai
là khuynh hướng phát triển tự phát TBCN Vì vậy thực chất của đấu tranh giai cấp ở đây vẫn là đấu tranh chống khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa và các thế lực thù địch đi ngược lại Độc lập dân tộc và CNXH Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay là phức tạp Bởi lẽ đối tượng của cuộc đấu tranh không trực tiếp, rõ ràng như
Trang 2trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Kẻ thù của cách mạng ẩn dấu đằng sau các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội Đã vậy hiện thực hệ thống XHCN ở Liên Xô cũ và Đông Âu tạm thời suy thoái Một bộ phận cán bộ Đảng viên thái hóa biến chất Kẻ thù dùng mọi thủ đoạn đặc biệt là diễn biến hòa bình chống phá cách mạng
-Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN, khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh, ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc Giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, dân tộc, xây dựng thành công nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời Đảng ta cũng khẳng định: Động lực chủ yếu đề phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đản lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội
3 Biện chứng của cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng (KTTT)
A.Khái niệm CSHT và KTTT
a, Khái niệm CSHT
Khái niệm CSHT dùng để chỉ toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, CSHT của một xã hội, trong toàn bộ sự vận động của nó, được tạo nên bởi các Quan hệ sản xuất thống trị, Quan hệ sản xuất tàn dư, và Quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thái mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó QHSX Thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các QHSX khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của 1
xã hội nhất định
b, Khái niệm KTTT
Khái niệm KTTT dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị -xã hội tương ứng được hình thành trên 1 CSHT nhất định Từ giác độ chung nhất có thể thấy KTTT của một xã hội bao gồm: hệ thống các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo…) và các thiết chế chính trị-xã hội tương ứng của chúng như (nhà nước chính đảng, giáo hội…) Trong xã hội có giai cấp, hình thái ý thức chính trị và pháp quyền cùng hệ thống thiết
Trang 3chế, tổ chức chính đảng và nhà nước là 2 thiết chế, tổ chức quan trọng nhất trong KTTT của xã hội Nhà nước là hệ thống tổ chức đại biểu cho quyền lực chung của xã hội để quản lý, điều khiển mọi hoạt của xã hội, thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại Về thực chất bất cứ nhà nước nào cũng là công cụ quyền lực thực hiện chuyên chính giai cấp của giai cấp thống trị, tức giai cấp nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
B Quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
CSHT và KTTT là 2 phương diện cơ bản của đời sống xã hội-đó là phương diện kinh
tế và phương diện chính trị xã hội Chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau trong đó CSHT đóng vai trò quyết định đối với KTTT, đồng thời KTTT thường xuyên có sự tác động trở lại CSHT
a, Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT được thể hiện trên nhiều phương diện:
- Tương ứng với một CSHT nhất định sẽ sản sinh ra một KTTT phù hợp, có tác dụng bảo vệ CSHT đó
- Những biến đổi trong CSHT tạo ra sự biến đổi tương ứng trong KTTT
- Mâu thuẫn trong CSHT được phản ánh thành mâu thuẫn trong hệ thống KTTT
- Sự đấu tranh trong lĩnh vực ý thức xã hội và những xung đột chính trị-xã hội có nguyên nhân sâu xa từ mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi ích trong cơ sở kinh tế của xã hội
- Giai cấp nắm giữ quyền sở hữu TLSX của xã hội, đồng thời cũng là giai cấp nắm được quyền lực nhà nước trong KTTT
- Các đường lối chính sách và pháp luật của nhà nước suy đến cùng chỉ là phản ánh
sự thồng trị về kinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu nhưng TLSX chủ yếu của
xã hội… Như vậy, CSHT quyết định KTTT, còn KTTT là sự phản ánh đối với CSHT, phụ thuộc vào CSHT
b, Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT
Các yếu tố thuộc KTTT có vị trí độc lập tương đối của nó và thường xuyên có vai trò tác động trở lại CSHT của xã hội Sự tác động của KTTT đối với CSHT có thể thông qua nhiều phương thức và hiệu lực khác nhau Tuy nhiên trong điều kiện KTTT có yếu tố nhà nước thì nhà nước là yếu tố có tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất tới CSHT của xã hội
Sự tác động của KTTT đối với CSHT có thể diễn rag theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố thuộc KTTT đối với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, nếu phù hợp nó sẽ có tác
Trang 4dụng tích cực, ngược lại sẽ có tác dụng tiêu cực, kìm hãm và phá hoại sự phát triển kinh tế trong 1 phạm vi và mức độ nhất định Tuy nhiên, sự tác động của KTTT đối với CSHT dù diễn ra với những xu hướng khác nhau, mức độ khác nhau, nhưng rốt cuộc nó không thể giữ vai trò quyết định đối với CSHT của xã hội; CSHT của xã hội vẫn tự mở đường đi cho nó theo tính tất yếu kinh tế của nó
4 Giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự vận động, phát triển của
xã hội có đối kháng giai cấp.
a,Khái niệm giai cấp
Định nghĩa của V.I.Leenin về giai cấp: Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lê-nin đã định nghĩa giai cấp như sau: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn, to lớn, gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng”
Từ khái niệm trên cho thấy:
- Giai cấp là kết quả của sự phân hóa xã hội do có sự đối lập giữa họ về địa vị trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định (thực chất của sự phân hóa những con người trong một cộng đồng xã hội thành các giai cấp khác nhau, đối lập nhau là do có sự khác nhau, đối lập nhau về địa vị của họ trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định)
- Thực tiễn lịch sử cũng đã chứng minh: Giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì cũng đồng thời có được khả năng chiếm được địa vị làm chủ quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước và có khả năng trở thành giai cấp thống trị xã hội
b, Nguồn gốc giai cấp
Sự tồn tại giai cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp khồn phải là bản tính của nhân loại, là tiền định mà chỉ là hiện tượng có tính lịch sử, gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sản xuất, của lịch sử nhân loại
- Nguồn gốc trực tiếp của sự phân hóa giai cấp trong xã hội chính là do sự ra đời và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đặc biệt là đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, bởi vì chỉ có trong điều kiện đó mới có khả năng khách quan để làm phát sinh và tồn tại sự phân biệt địa vị của các tập đoàn người trong quá trình sản xuất xã hội Do đó dẫn đến khả năng tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động thặng dư của tập đoàn người khác Tuy nhiên, nếu chỉ có chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn chưa đủ làm phát sinh giai cấp trong xã hội nếu
Trang 5chưa có sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một mức độ làm cho năng suất lao động tăng lên, dẫn đến xuất hiện của cải dư thừa tương đối
- Vì vậy, nguồn gốc sâu xa của sự phân hóa giai cấp trong xã hội chính là do tình trạng phát triển nhưng chưa đạt tới trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất đã đạt đến trình độ xã hội hóa cao thì chính nó lại là nguyên nhân khách quan của việc xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và do
đó sẽ dẫn đến sự xóa bỏ giai cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp trong xã hội
Con đường hình thành giai cấp có thê diễn ra với những hình thức, mức độ khác nhau trong lịch sử Tuy nhiên có thể khái quát quá trình hình thành, phát triển giai cấp diễn
ra chủ yếu dưới sự tác động của nhân tố bạo lực và dưới tác động của quy luật kinh tế phân hóa những người sản xuất hàng hóa trong nội bộ cộng đồng xã hội Ngoài ra trong thực tế lịch sử còn diễn ra quá trình tác động đồng thời của cả 2 nhân tố trên
c, Đấu tranh giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự vận động, phát triển của xã hội
-Khái niệm đấu tranh giai cấp và các hình thức đấu tranh giai cấp: Theo V.I.Lê-nin, khái niệm đấu tranh giai cấp dùng để chỉ “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”
Tùy theo điều kiện lịch sử khác nhau, các cuộc đấu tranh giai cấp có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những phạm vi và trình độ khác nhau như: Đấu tranh kinh tế đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị….Trong thực tế lịch sử đấu tranh giai cấp còn có thể mang hình thức đấu tranh dân tộc, tôn giáo, văn hóa…
Để khống chế và đàn áp những cuộc đấu tranh giai cấp của những người lao động làm thuê, những người nô lệ, nhằm duy trì và thực hiện sự bóc lột của nó, các giai cấp thống trị tất yếu phải sử dụng đến sức mạnh bạo lực có tổ chức- đó là nhà nước với những đội vũ trang đặc biệt và hệ thống pháp luật nhằm duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị Vì vậy, vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề trung tâm và cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội
Sự ra đời và tồn tại của nhà nước là kết quả tất yếu của đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp Sự ra đời và tồn tại của nhà nước không phải là để giải quyết mâu thuẫn giai cấp mà là để duy trì trật tự xã hội trong điều kiện mâu thuẫn không giải quyết được
Nhà nước là công cụ bạo lực để trấn áp giai cấp, duy trì địa vị của giai cấp thống trị,
nó là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị, bị bóc lột
Trang 6Trong lịch sử đã tồn tại nhiều kiểu nhà nước khác nhau: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản nhưng bản chất của nó là công cụ chuyên chính của giai cấp bóc lột Nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước kiểu mới, là nhà nước không còn nguyên nghĩa đen của nó, tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là công cụ bạo lực có tổ chức và công cụ quản lý kinh tế- xã hội của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động
-Vai trò của đấu tranh giai cấp:
Đấu tranh giai cấp giữ vai trò là phương thức, động lực cơ bản của sự tiến bộ, phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có sự phân hóa thành đối kháng giai cấp
Lịch sử nhân loại từ khi có sự phân hóa đến nay về thực chất chỉ là lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng với những mức
độ khác nhau và mang sắc thái khác nhau Đó là cuộc đấu tranh của những người nô
lệ chống lại ách áp bức, bóc lột của giai cấp chủ nô, cuộc đấu tranh của những người nông dân làm thuê chống lại ách áp bức, bóc lột của địa chủ, chúa đất, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê chống lại sự thống trị của giai cấp tư sản Kết quả của cuộc đấu tranh đó đều dẫn tới sự ra đời của phương thức sản xuất mới thông qua đỉnh cao của nó là những cuộc cách mạng xã hội
Như vậy, trong điều kiện xã hội có giai cấp đối kháng thì sự phát triển của xã hội chỉ
có thể được thực hiện thông qua những cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết
những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Trong trường hợp này đấu tranh giai cấp không chỉ là động lực cơ bản của sự phát triển lịch sử mà còn là phương thức cơ bản của sự tiến bộ và phát triển xã hội
Phương thức và động lực cơ bản của sự tiến bộ, phát triển xã hội là do sự vận động của mâu thuẫn trong phương thức sản xuất, nhưng trong điều kiện xã hội có sự phân hóa giai cấp thì mâu thuẫn đó được bộc lộ ra thành mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp trong đời sống chính trị - xã hội, do vậy mà mâu thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế chỉ có thể được giải quyết thông qua mâu thuẫn đối kháng trên lĩnh vực chính trị- xã hội
5.Quy luật quan hệ sản xuất (QHSX) phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX)
A Khái niệm LLSX, QHSX
-Bất kỳ 1 quá trình sản xuất vật chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc về người lao động (năng lực, kỹ năng, tri thức…của người lao động) cùng các tư liệu sản xuất
Trang 7nhất định (như đối tượng lao động (ĐTLĐ), công cụ lao động (CCLĐ), các tư liệu phụ trợ của quá trình sản xuất (TLPT)…) Toàn bộ các nhân tố đó tạo thành LLSX của các quá trình sản xuất
-LLSX là tổng hợp các yếu tố vật chất, tinh thần tạo thành sức mạnh thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người
-Trình đọ phát triển của LLSX phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người Trong các nhân tố tạo thành LLSX, người lao động là nhân tố giữ vai trò quyết định, công cụ lao động là nhân tố phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của LLSX -LLSX là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất Thế nhưng chỉ có LLSX vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất mà còn cần phải có những QHSX đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất ấy
+QHSX là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, QHSX bao gồm: Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, Quan hệ trong tổ chức-quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó Trong 3 mặt của QHSX quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
B Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX
*Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó LLSX quyết định QHSX và QHSX tác động trở lại LLSX
LLSX và QHSX là 2 mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó LLSX là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn QHSX là “hình thức xã hội” của quá trình đó
-LLSX quyết định QHSX thể hiện:
Tương ứng với trình độ phát triển nhất định của LLSX cũng tất yếu đòi hỏi phải có QHSX phù hợp với trình độ đó trên cả 3 phương diện: sở hữu TLSX, tổ chức-quản lý quá trình sản xuất, và phân phối kết quả của quá trình sản xuất Chỉ có như vậy,
LLSX mới có thể duy trì, khai thác-sử dụng và không ngừng phát triển
-Sự tác động trở lại của QHSX với LLSX:
QHSX, với tư cách là hình thức kinh tế- xã hội của quá trình sản xuất, luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của LLSX Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX Nếu phù hợp sẽ có tác động tích cực và ngược lại, không phù hợp sẽ có tác dụng tiêu cực
*Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất biện chứng có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn
-LLSX và QHSX thống nhất với nhau trong một phương thức sản xuất, tạo nên sự ổn
Trang 8định tương đối, đảm bảo sự tương thích (sự phù hợp) giữa LLSX và QHSX, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển
-Nhưng xu hướng của LLSX là không ngừng biến đổi và phát triển, tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất giữa LLSX và QHSX Những QHSX từ chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của LLSX đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó, nó đã tạo ra mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX, từ đó xuất hiện nhu cầu khách quan phải thiết lập lại mối quan hệ thống nhất giữa chúng theo nguyên tắc QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
-Sự vận động của mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là một quá trình đi từ sự thống nhất đến những khác biệt và đối lập, xung đột gay gắt, mâu thuẫn đòi hỏi phải được giải quyết theo nguyên tắc QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX Sự vận động của mâu thuẫn này cũng theo quy luật “từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại”, “quy luật phủ định của phủ định” khiến cho quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn ra có tính chất tiệm tiến, tuần tự lại vừa có tính nhảy vọt, đột biến, kế thừa, vượt quá ở trình độ ngày càng cao hơn
Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa LLSX và QHSX là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động phát triển của các phương thức sản xuất Nó là cơ sở để giải thích toàn bộ hiện tượng xã hội và sự biến động trong đời sống chính trị, văn hóa của xã hội
Tóm lại: Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại qua các chế độ
xã hội khác nhau từ thấp đến cao (từ phương thức sản xuất nguyên thủy đến phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa) mà nguồn gốc sâu xa của sự thay thế đó là do sự vẫn động của mâu thuẫn biện chứng giữa LLSX và QHSX
6 Vận dụng quy luật lượng – chất
*Nội dung quy luật: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của
lượng mới Qúa trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển, biến đổi
*Từ việc nghiên cứu quy luật chuyến hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đồi về chất và ngược lại có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa phương pháp luận với việc học tập và rèn luyện của sinh viên trong trường Đại học như sau:
- Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần
Trang 9dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất và việc học tập của sinh viên chúng ta cũng sẽ không thể nằm ngoài điều đó Để có một tấm bằng Đại học chúng ta phải tích lũy đủ kiến thức, tri thức trong suốt quá trình học tập từ khi nhập học Chúng ta cần tích lũy đủ số lượng các đơn vị học trình của các môn học Ta coi thời gian thi tốt nghiệp là điểm nút, đến thời điểm này đồng thời diễn ra bước nhảy sinh viên nhận được tấm bằng tốt nghiệp trở thành cử nhân Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn tích lũy tri thức trong quá trình học tập rèn luyện của chúng ta Do đó, trong hoạt động nhận thức, hoạt động học tập sinh viên phải biết từng bước tích lũy về lượng (tri thức) để làm biến đổi về chất (kết quả học tập) theo quy luật Và quá trình tích lũy về lượng kiến thức trong học tập và trong cuộc sống cũng giúp cho nhận thức, suy nghĩ của mỗi chúng ta ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn Quy luật này giúp chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan trong học tập và trong hoạt động thực tiễn hàng ngày
Từ nội dung quy luật lượng-chất (Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất) Hãy rút ra bài học sâu sắc và vận dụng bài hộc đó với mỗi sinh viên
*Bài học sâu sắc:
- Sự phát triển của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi dần dần của lượng, và chỉ khi nào lượng vượt qua giới hạn của độ mới tạo ra sự biến đổi về chất
- Muốn có sự phát triển thì phải có sự tích lũy dần dần về lượng (không coi thường, xem nhẹ) quá trình tích lũy về lượng phải là 1 quá trình, một việc làm thường xuyên liên tục Tránh hành động nóng vội, đốt cháy giai đoạn hành động nửa vời, không triệt để thì không đem lại kết quả
- Nếu không có sự tích lũy về lượng 1 cách thường xuyên, liên tục thì không thể có
đủ lượng cần thiết để tạo nên sự biến đổi về chất của bản thân mỗi sinh viên
*Vận dụng bài học đối với mỗi sinh viên:
- Tích cực tích lũy kiến thức khoa học (nắm vững, hiểu sâu chuyên môn về lịch vực
mà mình theo học), tranh hành động nóng vội, đốt cháy giai đoạn hành động nửa vời, không triệt để thì không đem lại kết quả…
- Rèn luyện kỹ năng thực hành, học hỏi kinh nghiệm (của bạn bè, thầy cô…)
- Rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống để sau này trở thành những sinh viên xuất sắc, có tài năng, cống hiến cho xã hội…
Trang 107 Vận dụng quy luật mâu thuẫn
Trước yêu cầu phát triển của xã hội, của đất nước Anh (chị) hãy cho biết mâu thuẫn của bản thân mình khi còn là sinh viên và hướng giải quyết mâu thuẫn đó
*Khẳng định: Mâu thuẫn của bản thân mỗi sinh viên (khi đang còn là sinh viên) là mâu thuẫn chung tồn tại bên trong mỗi người
- Đó là mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu về trình độ nhận thức và hiểu biết ngày càng cao của nhà trường và xã hội để đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của xã hội, của đất nước –( mặt đối lập thứ nhất)
- Với một bên là khả năng và năng lực nhận thức, điều kiện vật chất có hạn của cá nhân – (mặt đối lập thứ hai)
*Phương hướng giải quyết:
- Tự thân vận động là chính, với những nỗ lực phấn đấu cao trong học tập, rèn
luyện…
- Biết tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, mọi cơ hội của xã hội, của nhà trường để vươn lên…
- Qúa trình phấn đấu của bản thân mỗi người là một quá trình liên tục và lâu dài vì yêu cầu phát triển của xã hội, của đất nước cũng liên tục và không có điểm dừng…
8.Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Bằng những lý luận đã học về CSHT và KTTT, hãy cho biết CSHT ở nước ta hiện nay và các biểu hiện cụ thể của nó
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một
xã hội Cơ sở hạ tầng của một xã hội, trong toàn bộ sự vận động của nó được tạo nên
ởi các QHSX thống trị, QHSX tàn dư, và QHSX mới tồn tại dưới hình thức mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai; trong đó QHSX thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các QHSX khác, định hướng cho sự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một xã hội nhất định
- Kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo ) và các thiết chế chính trị- xã hội tương ứng (nhà nước, chính đảng, giáo hội…) được hình thành trên một CSHT nhất định
Nước ta đang thực hiện 2 QHSX là QHSX XHCN và QHSX CNTB Hai QHSX này hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó