Tài liệu giúp cho các bạn sinh viên nắm vững những kiến thức cơ bản về môn học Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin để giúp các bạn hiểu và đạt điểm cao môn học này....... Hãy tải tài liệu của mình
Trang 1TƯ LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Câu 1: Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
Theo Ăngghen, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tạivà tư duy, hay là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vấn đề này có hai mặt:
- Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước? cái nào
quyết định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà triết học chia thành hai tràolưu chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, nên vật chất có trước,tồn tại độc lập với ý thức và quyết định ý thức; còn ý thức là thuộc tính, là sự phản ánhvật chất Chủ nghĩa duy vật trải qua nhiều giai đoạn phát triển với năm hình thức lịch sử
cơ bản: duy vật cổ đại (mộc mạc, chất phác), duy vật tầm thường thế kỷ V-XV, duy vật
cơ học máy móc thế kỷ XVII-XVIII, duy vật siêu hình thế kỷ XIX và duy vật mác-xít(biện chứng)
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới, nên ý thứclà cái có trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là sự “biểu hiện” của ýthức Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm chủ quan (coi ý thức là bảnchất của thế giới, nhưng đó là ý thức của con người nằm trong con người) và duy tâmkhách quan (cũng coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó là một thực thể tinh thầntồn tại bên ngoài con người và độc lập với con người)
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa học; là lợiích và cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội tiến bộ, cách mạng ở mỗi giaiđoạn phát triển của lich sử Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm: là sự tuyệt đối hóa mộthình thức hay một giai đoạn của quá trình nhận thức dẫn đến tách nhận thức và ý thứckhỏi thế giới hiện thực khách quan; thông thường là lợi ích và sự phản kháng của các giaicấp, các lực lượng bảo thủ trước tiến bộ xã hội
- Mặt thứ hai, là vấn đề về khả năng nhận thức của con người.
Toàn bộ các nhà triết học duy vật và đa số những nhà triết học duy tâm đều thừanhận rằng thế giới có thể nhận thức được Nhưng các nhà duy vật cho rằng, nhận thức là
Trang 2sự phản ánh thế giới vật chất khách quan trong bộ óc con người Còn các nhà duy tâm thìcho rằng, nhận thức chỉ là sự ý thức về bản chất ý thức.
Trả lời vấn đề này còn có những nhà triết học theo nguyên tắc bất khả tri (khôngthể biết) Những người này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa tính tương đối của tri thức dẫnđến phủ nhận khả năng nhận thức của con người
- Bên cạnh những nhà triết học nhất nguyên (duy vật và duy tâm) giải thích thếgiới từ một bản nguyên, hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có những nhà triết học nhịnguyên luận Nhị nguyên luận cho rằng thế giới được sinh ra từ hai bản nguyên độc lậpvới nhau, bản nguyên vật chất sinh ra các hiện tượng vật chất, bản nguyên tinh thần sinh
ra các hiện tượng tinh thần Nhị nguyên luận thể hiện lập trường dung hòa giữa duy vậtvà duy tâm, đó chỉ là khuynh hướng nhỏ trong lịch sử triết học và trong cuộc đấu tranhtriết học nó càng trở nên gần với chủ nghĩa duy tâm
Câu 2: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin và ý nghĩa khoa học của định nghĩa này.
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thànhtựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết họctrên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa rađịnh nghĩa về vật chất như sau:
* Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lạicho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánhvà tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, T.18, NXB Tiến bộ,Matxcơva, 1980, tr.151)
* Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu sau đây:
a “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức + Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phảidưới góc độ của các khoa học cụ thể Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khiđồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trongcác khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày
Trang 3+ Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường Vềmặt nhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ vớiphạm trù đối lập của nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp định nghĩa thông qua cái
đối lập với nó) (Xem thêm chương khái niệm ở giáo trình Lôgic hình thức)
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan,Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật,hiện tượng, mà nêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiệntượng trong thế giới hiện thực khách quan Đó là đặc tính “tồn tại với tư cách là thực tạikhách quan”, tồn tại ở ngoài ý thức con người và độc lập với ý thức Đặc tính này là dấuhiệu cơ bản để phân biệt vật chất với cái không phải là vật chất
- Tính trừu tượng của phạm trù vật chất: Phạm trù vật chất khái quát đặc tínhchung nhất của mọi khách thể vật chất xét trong quan hệ với ý thức nên về hình thức nólà cái trừu tượng Vì thế, không được đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó giốngnhư quan niệm của các nhà duy vật trước Mác
b Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác.
Trong phần này, Lênin đã giải quyết được những điều sau đây:
- Thứ nhất, Lênin đã giải quyết được mối quan hệ giữa tính trừu tượng và tính hiện
thực cụ thể cảm tính của phạm trù vật chất Vật chất không phải tồn tại vô hình, thần bímà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện cụ thể dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụthể mà các giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp
- Thứ hai, Lênin đã giải quyết được mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học trên
lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Thực tại khách quan đưa lại cảm giác chocon người, chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan Điều đó cónghĩa là, vật chất là cái có trước và đóng vai trò quyết định, nội dung khách quan của ýthức
c Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Đến đây, Lênin đã khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thếgiới hiện thực khách quan Tức là Lênin đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bảntriết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
* Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trang 4- Giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường chủnghĩa duy vật và biện chứng.
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất củachủ nghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng của nó trong trào lưu triết học tư sảnhiện đại
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và tạo ra căn cứ vững chắc để nghiêncứu xã hội
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vậnđộng và phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà khoahọc khi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phong phú thêm kho tàngtri thức của nhân loại
Câu 3: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức của con người là sản phẩm của quátrình phát triển tự nhiên và lịch sử-xã hội Do đó, muốn hiểu được nguồn gốc và bản chấtcủa ý thức, cần phải xem xét trên cả mặt tự nhiên và xã hội
I Nguồn gốc ý thức:
1 Nguồn gốc tự nhiên:
a Ý thức là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ nãongười
- Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất Phản ánh đó là năng lực giữ lại, táihiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác và ngượclại Nó được thực hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất
- Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn thiện hơn
+ Phản ánh của giới vô sinh Phản ánh này đơn giản, thụ động, không có chọn lọc.+ Trên cơ sở phản ánh của thế giới vô sinh xuất hiện một hình thức phản ánh mớicao hơn về chất, đó là phản ánh của giới hữu sinh Hình thức phản ánh này gắn liền vớiquá trình chuyển hóa từ giới vô sinh qua giới hữu sinh Hình thức này có quá trình pháttriển lâu dài từ thấp đến cao: kích thích, cảm ứng, tâm lý sơ cấp của động vật và cùng vớiquá trình vượn biến thành người, phản ánh của động vật cấp cao chuyển hóa thành phảnánh ý thức của con người
Trang 5Như vậy, ta thấy rằng các dạng vật chất có trình độ tiến hóa càng cao thì sự phảnánh càng cao; ý thức chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện dạng vật chất có tổ chức cao làbộ não của con người, chứ không phải với mọi dạng vật chất; ý thức chỉ là thuộc tínhphản ánh của vật chất, do đó, không được đồng nhất vật chất với ý thức và cũng khôngđược tách ý thức ra khỏi vật chất.
b Khách thể vật chất bên ngoài
Bộ não con người với tư cách là hệ thống phản ánh Vì vậy, muốn có ý thức thìphải có sự tác động của khách thể vật chất bên ngoài vào bộ não của con người
Thế nhưng, tại sao con vật cũng có sự tác động của khách thể vật chất bên ngoàilên bộ não của nó mà lại không có ý thức? Sở dĩ như vậy là vì khác với tâm lý động vật, ýthức con người ngoài nguồn gốc tự nhiên còn có nguồn gốc xã hội
2 Nguồn gốc xã hội.
Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ não conngười dưới ảnh hưởng của lao động và ngôn ngữ
- Trong quá trình lao động, bộ não con người phát triển và ngày càng hoàn thiện,làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển
- Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hội với nhau, làm nảysinh ở họ nhu cầu giao tiếp Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng phát triển cùng vớilao động
b Ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là “vỏ vật chất” của tư duy, là phươngtiện, là công cụ để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh khái quát sự vật, tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ
Trang 6- Ý thức là một hiện tượng xã hội, do đó, nếu không có ngôn ngữ thì ý thức khôngthể hình thành và phát triển được.
- Chính vì vậy, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Sau lao động, đồng thời với laođộng là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của loài
vật thành bộ não của con người, tâm lý động vật thành ý thức” (Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên, NXB Sự thật, Hà Nội,1974, tr 257)
II Bản chất của ý thức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh thế giớikhách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo, tích cực và chủ độngvề thế giới khách quan Đó chính là sự khác biệt rất cơ bản của ý thức con người so vớitâm lý động vật và sự “suy nghĩ” của máy móc
Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định.Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh, trong khuôn khổ và theo tínhchất của quy luật phản ánh
Con người khác với động vật là thông qua hoạt động thực tiễn có mục đích, cóđịnh hướng, tác động vào sự vật, hiện tượng trong thế giới, buộc chúng phải bộc lộ đặctính, kết cấu, quy luật lao động để phản ánh và nhận thức Khi con người nhận thức đượcquy luật, thì con người vận dụng tri thức đó vào việc cải biến thế giới khách quan nhằmphục vụ cho cuộc sống của mình
Câu 4: Phân tích nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và rút ra ý nghĩa phương pháp luận
- Phép siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến của thế giới Theo quanđiểm này, sự vật hiện tượng trong thế giới về cơ bản không có sự liên hệ, ràng buộc, quyđịnh lẫn nhau Cho nên đối với phép siêu hình, thế giới chỉ là một tập hợp rời rạc các sựvật cô lập nhau Cách nhìn ấy không cho phép chúng ta vạch ra cái chung, cái bản chất vàquy luật của các sự vật hiện tượng
- Trái với quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệphổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới và coi đó là nguyên lý cơ bản của nó.Khái niệm liên hệ nói lên sự quy định, ảnh hưởng, ràng buộc, tác động và chuyển hóa lẫnnhau giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình Phép biện chứng duy vật phát biểu rằng:
Trang 7mọi sự vật, hiện tượng quá trình muôn vẻ trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổbiến với nhau, không có cái gì tồn tại biệt lập với cái khác Điều đó là dễ hiểu, vì vật chấttồn tại thông qua vận động, mà vận động cũng là liên hệ Ăngghen viết: “tất cả thế giớimà chúng ta có thể nghiên cứu được, là một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khítvới nhau… Việc các vật thể có liên hệ qua lại với nhau đã có ý nghĩa là các vật thể nàytác động lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động”.
Như vậy phép biện chứng duy vật thừa nhận liên hệ diễn ra trong mọi lĩnh vực,mọi sự vật và quá trình của hiện thực, nó có tính khách quan, xuất phát từ tính thống nhấtvật chất của thế giới Phép biện chứng duy vật cũng chỉ ra rằng, liên hệ của thế giới rất đadạng, bởi thế giới bao gồm vô số sự vật hiện tượng muôn vẻ khác nhau Tùy theo tínhchất, vai trò, phạm vi của liên hệ mà người ta phân thành nhiều loại: liên hệ bên trong vàliên hệ bên ngoài, liên hệ cơ bản và không cơ bản, liên hệ không gian và thời gian, liên hệtrực tiếp và gián tiếp… Sự phân loại các liên hệ này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì mỗiloại liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến củathế giới xét như một chỉnh thể Tuy nhiên, sự phân loại các liên hệ là cần thiết, vì rằng vịtrí của từng mối liên hệ trong việc quy định sự vận động, phát triển của sự vật và hiệntượng không như nhau
Sự phân loại các liên hệ còn là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu của phépbiện chứng duy vật và của các ngành khoa học cụ thể Những hình thức riêng biệt, cụ thểcủa từng mối liên hệ thuộc phạm vi nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phépbiện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất của thế giới.Vì thế, Ăngghen viết: “phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”
- Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa phương pháp luận tolớn đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Nếu các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến vànhiều vẻ, thì muốn nhận thức và tác động vào chúng, phải có quan điểm toàn diện, khắcphục quan điểm phiến diện, một chiều Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phântích sự vật phải đặt nó trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác; phải xem xét tất cảcác mặt, các yếu tố, kể cả khâu trung gian, gián tiếp của chúng Chỉ có như vậy, chúng tamới nắm bắt được một cách đầy đủ bản chất của sự vật, tránh được những kết luận phiếndiện chủ quan, vội vàng
Trang 8Tuy nhiên quan điểm toàn diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng, tràn lanmà phải thấy được tính chất, vị trí của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố trong tổngthể của chúng Như vậy, quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể Quanđiểm này đòi hỏi, phải xét sự vật trong từng liên hệ cụ thể của nó, gắn với những tínhchất, vị trí cụ thể của mối liên hệ cụ thể đó; phải biết phân loại các liên hệ của sự vật đểnắm lấy cái cơ bản, cái có tính quy luật của nó; đồng thời phải xét cả những điều kiện cụthể của sự vật trong đó xuất hiện từng liên hệ quy định từng tính chất và xu hướng cụ thểcủa nó Từ đó mà tìm ra những phương thức cụ thể để tác động đến sự vật.
Câu 4: Phân tích nội dung của nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý nghĩa phương pháp luận
- Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thống nhấthữu cơ với nguyên lý về sự phát triển, bởi vì liên hệ tức là vận động, mà không có vậnđộng thì không có sự phát triển Nhưng “vận động” và “phát triển” là hai khái niệm khácnhau Khái niệm “vận động” khái quát mọi sự biến đổi nói chung, không tính đến xuhướng và kết quả của những biến đổi ấy như thế nào Sự vận động diễn ra không ngừngtrong thế giới và có nhiều xu hướng
Khái niệm “phát triển” không khái quát mọi sự biến đổi nói chung; nó chỉ là kháiquát những vận động đi lên, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ Tiêu chuẩn để xác định sựphát triển là có xuất hiện “cái mới” trong những biến đổi của sự vật hiện tượng Sự pháttriển trong thế giới theo các chiều hướng cơ bản sau: phát triển về trình độ (từ thấp đếncao), phát triển về cấu trúc (từ đơn giản đến phức tạp), phát triển về bản chất (từ kémhoàn thiện đến hoàn thiện hơn) Sự phân biệt đó về các chiều hướng chỉ là tương đối, mộtsự phát triển thường bao hàm cả các chiều hướng này
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng sự phát triển, đổi mới là hiện tượngdiễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy, mà nguồn gốc của nó làcuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện tượng Nhưng khôngnên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, theo đường thẳng Xéttừng trường hợp cá biệt, thì có những vận động đi lên, tuần hoàn, thậm chí đi xuống,nhưng xét cả quá trình, trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướngthống trị Khái quát tình hình trên đây, phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, pháttriển là khuynh hướng chung của sự vận động của sự vật và hiện tượng
Trang 9- Quan điểm biện chứng xác định nguồn gốc bên trong của mọi sự phát triển Chonên thế giới phát triển là tự thân phát triển, là quá trình bao hàm mâu thuẫn và thườngxuyên giải quyết mâu thuẫn, vừa liên tục vừa có gián đoạn; là quá trình bao hàm sự phủđịnh cái cũ và ra đời cái mới Sự phát triển như là vận động đi lên ra đời cái mới, nhưngcái mới không đoạn tuyệt với cái cũ mà kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ Tất cảnhững điều đó nói lên tính chất phức tạp của sự phát triển, nhưng bao giờ cũng theokhuynh hướng đi lên.
- Đối lập với quan điểm trên đây của phép biện chứng; phép siêu hình nói chungphủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hóa tính ổn định của các sự vật hiện tượng Nếu có thừanhận sự phát triển, thì phép siêu hình cho rằng đó chỉ là sự tăng giảm về lượng, sự lặp lạimà không có chuyển hóa về chất, không có sự ra đời cái mới thay thế cho cái cũ Lêninnhận xét rằng, quan niệm siêu hình là cứng nhắc, nghèo nàn, khô khan, chỉ có quan niệmbiện chứng là sinh động, mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cáiđang tồn tại, của những “bước nhảy vọt” và “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự
“chuyển hóa thành mặt đối lập”, của “sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới” Cũngvì vậy mà ông nhấn mạnh rằng, phép biện chứng là học thuyết “hoàn bị nhất, sâu sắc nhấtvà không phiến diện về sự phát triển”
- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta nhận thức rằng, muốnthực sự nắm được bản chất của sự vật hiện tượng, nắm được quy luật và xu hướng củachúng phải có quan điểm phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ
Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật phải xét nó như một quá trình; đặt nótrong sự vận động, sự phát triển mới nắm được quy luật và những xu hướng của nó Quanđiểm phát triển còn bao hàm yêu cầu xét sự vật trong từng giai đoạn cụ thể của nó nhưngkhông được tách rời với các giai đoạn khác mà phải liên hệ chúng với nhau mới có thểnắm được logic của toàn bộ tiến trình vận động sự vật Quan điểm phát triển cũng đòi hỏitinh thần lạc quan tích cực trong thực tiễn, khắc phục mọi sụ trì trệ bảo thủ
Câu 6: Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập - ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
I Nội dung quy luật:
Trang 10- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâuthuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là “hạt nhân của phépbiện chứng” Bởi vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và pháttriển.
- Khái quát nội dung quy luật:
Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong Mỗi sự vật, hiện tượngđều là thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Chính sựđấu tranh của các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện tượng vận động, phát triển
- Phân tích nội dung quy luật:
1 Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến.
- “Mặt đối lập”?
Mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng thay đổi, phát triển chống đối nhau,trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật hiện tượng
Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có nhiều yếu tố, nhiều mặt, cấu thành, nhưng cóhai mặt đối lập cơ bản thống nhất với nhau quyết định kết cấu tạo thành sự vật, hiệntượng
Trang 11- Khái niệm “đấu tranh” của các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ lẫnnhau, phủ định lẫn nhau Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp Quátrình đó có thể chia ra nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng của nó.(Xem S.1)
- Về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Lênin viết:
“Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điềukiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau làtuyệt đối, cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệt đối” (V.I.Lênin toàn tập, T.29, NxbTiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.379 - 380) Sự thống nhất của các mặt đối lập có tính chấttạm thời, thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự vật, bởi vì mọi sựvật, hiện tượng cụ thể đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để nhường chỗcho các sự vật, hiện tượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời
Sự vật, hiện tượng (hệ thống cũ)
S.1 Quá trình phát triển của một mâu thuẫn.
Trang 12Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng đều cómâu thuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển của sự vật Tínhtuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận động, sự biến đổi liên tụccủa sự vật, hiện tượng Đấu tranh của các mặt đối lập là điều kiện quan trọng nhất, cótính quyết định đối với sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận độngvà phát triển của sự vật, hiện tượng
3 Sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là kết quả của quá trình đấu tranh của các mặtđối lập
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập được thực hiện ở giai đoạn chín muồi củamâu thuẫn Sự chuyển hóa diễn ra dưới nhiều hình thức và tùy thuộc vào những điều kiệncụ thể
Hai hình thức khái quát nhất của sự chuyển hóa là:
+ Các mặt đối lập chuyển sang mặt đối lập của chính mình
+ Các mặt đối lập cũ bị xóa bỏ và hình thành các mặt đối lập mới trong sự vậtmới
4 Phân loại mâu thuẫn
Thế giới phong phú, đa dạng và phức tạp, nhưng nhìn chung có 4 loại mâu thuẫn
cơ bản:
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫngiữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng.Mâu thuẫn này giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâuthuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố,các thuộc tính, các quá trình giữa sự vật, hiện tượng với nhau Mâu thuẫn này không giữvai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Nó chỉ có tác dụng ảnhhưởng khi liên hệ được với mâu thuẫn bên trong
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫnphát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượng vàgiữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn không cơbản là mâu thuẫn phát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của
Trang 13vật, hiện tượng và không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng nhất định đến sự vậnđộng, phát triển của sự vật hiện tượng.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu: Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫnnổi lên hàng đầu và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ởmỗi giai đoạn phát triển Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn phát sinh và không giữvai trò quyết định nhưng gây ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, phát triển của sự vậthiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng (loại mâu thuẫn này chỉ cótrong lĩnh vực đời sống xã hội): Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp cólợi ích cơ bản đối lập nhau Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng xãhội Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai tầng có lợi ích cơ bản khôngđối lập nhau Mâu thuẫn này được giải quyết bằng phương pháp hòa bình thông qua giáodục và đổi mới xã hội
II Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và giảiquyết các vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn
- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta,muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân tích các mặt đối lậpcủa mâu thuẫn
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và phải có biện pháp cụ thể đểgiải quyết đối với từng loại mâu thuẫn
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn: Bất kỳ mâu thuẫn nào, bất kỳgiai đoạn nào của mâu thuẫn, cũng chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh giữacác mặt đối lập, chứ không phải bằng con đường điều hòa giữa chúng
Câu 5: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
I Nội dung quy luật:
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và sốlượng (lượng) Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những thay đổi về chất vàngược lại; là cách thức của sự vận động và phát triển
1 Khái niệm chất và lượng
Trang 14a Khái niệm chất:
- Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu
cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệtnó với các sự vật và hiện tượng khác
- Phân biệt chất với tính cách là phạm trù triết học với chất hiểu theo khái niệmthường dùng hàng ngày hoặc với khái niệm chất liệu
- Phân biệt chất với thuộc tính Mỗi chất gồm nhiều thuộc tính
- Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có một hoặc nhiều chất tuy theo những mối quanhệ xác định
- Chất tồn tại khách quan
- Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng
- Trong những trường hợp đặc biệt, chất là cái trừu tượng và dường như nằmngoài sự vật, hiện tượng
b Khái niệm lượng
- Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt qui mô, trình độ, tốc độphát triển của nó, biểu thị bằng các con số, các thuộc tính, các yếu tố, cấu thành nó
- Lượng không chỉ biểu hiện bằng các con số, các đại lượng xác định cụ thể, màlượng còn được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hóa
- Lượng là nhân tố quy định bên trong, nhưng đồng thời cũng có những lượng chỉnói lên nhân tố dường như bên ngoài sự vật
- Lượng tồn tại khách quan
- So với chất, lượng là cái thường xuyên biến đổi
* Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối
2 Tính thống nhất và mối quan hệ phổ biến của lượng và chất.
a Khái niệm “Độ”
Mỗi sự vật là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng Hai mặt đó khôngtách rời nhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng
- “Độ” là khái niệm nói lên mối quan hệ quy định lẫn nhau của chất và lượng Nólà giới hạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa biến thành cái khác.Trong giới hạn “độ” lượng biến đổi nhưng chưa dẫn đến chuyển hóa về chất
- Độ cũng biến đổi khi những điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng biến đổi
b Những hình thức biến đổi từ lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
Trang 15Ranh giới của lượng do chất quy định, nhưng sự chuyển hóa thì bao giờ cũng bắtđầu từ sự thay đổi về lượng Các hình thức cơ bản của sự chuyển hóa:
+ Tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng
+ Sự dung hợp của nhiều lực lượng thành một hợp lực về căn bản khác với tổng sốnhững lực lượng cá biệt
+ Thay đổi về kết cấu, tổ chức, qui mô của sự vật, hiện tượng
- Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ thì dẫn đến thay đổi về chất Sựthay đổi về chất được gọi là bước nhảy (có 4 loại bước nhảy cơ bản: bước nhảy toànphần, bước nhảy cục bộ, bước nhảy dần dần, bước nhảy đột biến), đó là bước ngoặt cănbản trong sự biến đổi dần dần về lượng
- Giới hạn mà ở đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút
- Sự chuyển hóa đòi hỏi phải có điều kiện
c Ảnh hưởng của chất mới đối với sự biến đổi của lượng
Khi chất mới ra đời nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có một sự thốngnhất mới giữa chất và lượng Sự quy định này được biểu hiện ở qui mô và nhịp điệu pháttriển mới của lượng
Tóm lại, quy luật lượng-chất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng Đó làquá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng Lượng biến đổi mâu thuẫn vớichất cũ, chất mới ra đời với lượng mới Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nàođó lại phá vỡ chất đang kìm hãm nó, tạo nên chất mới với lượng mới Như vậy phát triểnlà quá trình vô hạn, vừa mang tính liên tục (biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa cótính gián đoạn (biểu hiện ở sự thay đổi về chất)
II Ý nghĩa phương pháp luận:
- Sự vận động và phát triển là kết quả của quá trình tích lũy về lượng Trong hoạtđộng thực tiễn cần chống lại hai khuynh hướng:
+ Tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích lũy đầy đủ về lượng đãmuốn thực hiện bước nhảy về chất Hoặc chỉ nhấn mạnh đến bước nhảy, xem nhẹ tích lũyvề lượng, dẫn đến các hành động phiêu lưu mạo hiểm
+ Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bước nhảy về chất.Hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lươngvà tiến hóa luận
Trang 16- Cần có thái độ khách quan, khoa học và có quyết tâm thực hiện bước nhảy khiđiều kiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi.
+ Cần phân biệt các bước nhảy trong tự nhiên và trong xã hội
+ Phải nhận thức đúng đắn các bước nhảy khác nhau về qui mô, nhịp độ
+ Chống chủ nghĩa giáo điều
Câu 7: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ xu hướng đi lên của sự vật, hiện tượngtrong quá trình vận động, phát triển
1 Phủ định biện chứng:
- “Phủ định”: là khái niệm nói lên quá trình vận động của sự vật, hiện tượng.Trong đó sự vật, hiện tượng này thay thế cho sự vật, hiện tượng khác
- “Phủ định biện chứng”: là phủ định mà trong đó cái mới ra đời thay thế cho cáicũ Cái mới làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng Phép biệnchứng duy vật cho rằng: sự diệt vong của cái cũ và sự ra đời của cái mới, sự thoái hóa vàsự phát triển có liên hệ nội tại với nhau Không có mặt này cũng không có mặt kia
“Phủ định trong phép biện chứng không chỉ có ý nghĩa đơn giản là nói không hoặcgiả là tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nàođó… Cho nên phải thiết lập sự phủ định thứ nhất như thế nào cho sự phủ định lần thứ haivẫn có khả năng thực hiện được hay trở thành có khả năng thực hiện được” (Ăngghen
“Chống Đuy-rinh”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 230-321)
- Đặc trưng của phủ định biện chứng:
Thứ nhất: Tính khách quan
Thứ hai: Tính kế thừa
Phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thân phát triển trên cơ sở những mâuthuẫn vốn có của sự vật và hiện tượng nên nó không thể là một sự phủ định tuyệt đối, mộtsự phủ định sạch trơn
Phép biện chứng duy vật coi sự kế thừa là nội dung cơ bản của phủ định biệnchứng
2 Nội dung quy luật:
Trang 17Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều luôn luôn vận động, phát triển, quá trình đócũng là quá trình phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Khuynh hướng tất yếu của sựvận động là: cái mới thay thế cho cái cũ, cái mới làm tiền đề tạo điều kiện cho sự pháttriển của sự vật, hiện tượng Nhưng sự phát triển có tính chu kỳ.
a Tính chu kỳ của sự phát triển:
Từ một điểm xuất phát (A) qua một số lần phủ định biện chứng (B(n)) sự vậtdường như lặp lại điểm xuất phát (A’) nhưng trên cơ sở cao hơn
┤A → B(n) →A’├ →
- Sự phủ định biện chứng lần thứ nhất (B) là bước trung gian trong sự phát triển.Trình độ mới của (A) phải qua (B) mà được thực hiện chứ không phải (B) là giai đoạncao hơn (A)
- Sự phủ định biện chứng lần thứ hai (A’) là phủ định của phủ định
- (A’) là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời lại là điểm xuấtphát của một chu kỳ phát triển mới
- Để hoàn thành một chu kỳ phát triển, sự vật hiện tượng phải trải qua ít nhất hailần phủ định biện chứng
b Hình thức và khuynh hướng của sự phát triển:
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu tiến lên của sự vận động củasự vật và hiện tượng Sự phát triển đi lên đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theođường “xoáy ốc”
Lênin viết: “Một sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưngdưới một hình thức khác ở một trình độ cao hơn (phủ định của phủ định), một sự pháttriển có thể nói là theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng (Lênin toàn tập, T.26,Nxb Tiến bộ, Maatsxcơva, 1981, tr.65)
- “Đường xoáy ốc” biểu hiện các mặt của quá trình phát triển biện chứng: tính kếthừa, tính lặp lại, tính tiến lên của sự vận động
- “Đường xoáy ốc” thể hiện tính phức tạp trong quá trình biến đổi, phủ định của sựvật Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đếncao
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
Trang 18- Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu rằng quá trình phát triển không diễn
ra theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định biệnchứng, nhiều khâu trung gian
- Là cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới: trong thực tiễn xã hội, các quátrình diễn ra phức tạp, nhưng cái cũ nhất định sẽ mất đi, cái mới nhất định sẽ xuất hiện.Cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ Phải biết phát hiện cáimới, duy trì và phát triển cái mới
- Phải có cách nhìn biện chứng khi phê phán cái cũ, kế thừa những yếu tố hợp lýcủa cái cũ Tránh nhìn đơn giản trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt làcác hiện tượng xã hội Cần chống lại hai khuynh hướng: kế thừa không chọn lọc hoặcphủ định sạch trơn
Câu 8: Phân tích nội dung cặp phạm trù cái chung và cái riêng, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận
1 Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, nhữngmối liên hệ giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quátrình riêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chỉ cóở một kết cấu vật chất nhất định, mà không lặp lại ở kết cấu khác
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng cả cái riêng và cái chung đều tồn tại kháchquan và quan hệ biện chứng với nhau
- Cái chung thì tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cáichung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Không có cáichung thuần túy, trừu tượng tồn tại bên ngoài cái riêng
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, bao hàm cái chung.Điều đó cho thấy là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩalà cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác mà bất cứ cái riêng nào cũng nằm trong mốiliên hệ đưa tới cái chung Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cáichung mà thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng loại khác
Trang 19- Cái chung là bộ phận của cái riêng, còn cái riêng không gia nhập hết vào cáichung vì vậy cái riêng phong phú hơn cái chung Bởi ngoài những đặc điểm gia nhập vàocái chung, cái riêng còn giữ lại những đặc điểm riêng biệt mà chỉ nó mới có Trong khiđó, cái chung phải là cái sâu sắc hơn vì nó phản ánh những mối liên hệ ở bên trong, phổbiến tồn tại trong cái riêng cùng loại, nó gắn liến với các cái riêng, quy định sự tồn tại vàphát triển của sự vật.
- Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhấtđịnh cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thànhcái đơn nhất Sỡ dĩ có tình trạng này là do trong hiện thực cái mới không bao giờ xuấthiện đầy đủ ngay trong một lúc mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng đơn nhất cá biệt Nhưngtheo quy luật, cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện tiếntới trở thành cái chung Ngược lại, cái cũ ngày càng mất dần đi từ chỗ là cái chung biếndần thành cái đơn nhất
- Trong phạm vi khái quát của con người, cái được xem là cái chung trong quan hệnày lại có thể được xem là cái riêng, cái đơn nhất trong quan hệ khác
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Không được tuyệt đối hóa cái chung hay cái riêng mà phải thấy được mối quanhệ biện chứng giữa chúng Nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ dẫn đến giáo điều chủnghĩa, rập khuôn một cách máy móc Ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng thì sẽ dẫn đếnchủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể phường hội, địa phương chủnghĩa và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi
- Trong nhận thức và thực tiễn để phát hiện cái chung cần phải xuất phát từ nhữngcái riêng, từ những sự vật, hiện tượng quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không được xuất pháttừ ý muốn chủ quan của chủ thể, và để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệuquả thì không lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, để tránh tình trạng sa vàomò mẫm tùy tiện
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhấtchuyển hóa thành cái chung nếu cái đơn nhất đó có lợi, và cũng phải tạo điều kiện để cáichung chuyển hóa thành cái đơn nhất nếu cái chung đó là lạc hậu
Câu 9: phân tích nội dung cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận.
Trang 201 Khái niệm nguyên nhân và kết quả:
- Nguyên nhân là phạm trù triết học chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trongmột sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định
- Kết quả là phạm trù triết học chỉ là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫnnhau trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau
- Phân biệt nguyên nhân và nguyên cớ, nguyên nhân và điều kiện:
+ Nguyên cớ là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, có liên hệ vớikết quả nhưng chỉ là liên hệ bên ngoài không bản chất
+ Điều kiện: Đó là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhânnhưng lại có tác dụng biến khả năng chứa đựng trong nguyên nhân thành kết quả, thànhhiện thực Vì vậy, điều kiện là cái không thể thiếu được cho sự xuất hiện kết quả
2 Tính khách quan và phổ biến của mối quan hệ nhân quả:
- Tính khách quan:
Thế giới thống nhất ở tính vật chất Điều đó cho thấy vật chất đang vận động quyđến cùng là nguyên nhân duy nhất, là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng, quá trình.Và mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có căn cứ của nó trong những sự vật, hiệntượng, quá trình khác Cho nên không có sự vật hiện tượng nào không có nguyên nhânmà chỉ có chúng ta chưa tìm ra nguyên nhân của hiện tượng đó, và cũng không có mộthiện tượng nào không sinh ra kết quả mà chỉ có chúng ta chưa tìm ra được kết quả củanó
- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ mọi sự vật và hiện tượng đềunảy sinh từ những sự vật hiện tượng khác Trong đó cái sản sinh ra cái khác được gọi lànguyên nhân và cái được sinh ra gọi là kết quả
3 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả,còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân, khi nguyên nhân đã xuất hiện, đãbắt đầu tác động
Tuy nhiên không phải mọi sự nối tiếp nhau về mặt thời gian của các sự vật hiệntượng cũng là biểu hiện của mối liên hệ nhân quả Cái để phân biệt quan hệ nhân quả vớiquan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian là ở chỗ quan hệ nhân quả bao giờ cũng là quan hệsản sinh, trong đó nguyên nhân phải sản sinh ra kết quả
Trang 21- Trong hiện thực, mối quan hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp Một kết quảthường không phải do một nguyên nhân mà do nhiều nguyên nhân gây ra; đồng thời mộtnguyên nhân cũng có thể sản sinh ra nhiều kết quả Vì sự phối hợp tác động của nhiềunguyên nhân đòi hỏi phải phân tích tính chất, vai trò của mỗi loại nguyên nhân đối vớikết quả cũng như sự liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nguyên nhân và phân loại cácnguyên nhân.
+ Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì có xu hướng dẫn đến kết quảnhanh hơn Nếu các nguyên nhân tác động ngược chiều thì làm cho tiến trình hình thànhkết quả chậm lại Thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau
+ Phân loại nguyên nhân:
* Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu:
Nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân mà không có nó thì kết quả không thể xuấthiện Nó quyết định những đặc trưng tất yếu của sự vật, hiện tượng Nguyên nhân thứ yếulà nguyên nhân chỉ quyết định những mặt, những đặc điểm nhất thời, tác động có giớihạn và có mức độ vào việc sản sinh ra kết quả
* Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài: Nguyên nhân bên trong lànguyên nhân tác dụng ngay bên trong sự vật, được chuẩn bị và xuất hiện trong tiến trìnhphát triển của sự vật, phù hợp với đặc điểm về chất của nó Nguyên nhân bên ngoài là sựtác động giữa các sự vật khác nhau đem lại sự biến đổi nhất định giữa các sự vật đó
- Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân và sự chuyển hóa của nguyênnhân-kết quả:
Mối liên hệ nhân quả có tính chất tác động qua lại lẫn nhau trong đó không nhữngnguyên nhân sinh ra kết quả mà kết quả còn tác động trở lại đối với nguyên nhân đã sinh
ra nó, làm cho những nguyên nhân cũng biến đổi bởi vì nguyên nhân sinh ra kết quả baogiờ cũng là một quá trình Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân chính là sựảnh hưởng thường xuyên lẫn nhau giữa nguyên nhân và kết quả, gây nên sự biến đổi giữachúng Nguyên nhân và kết quả thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau, nên “cái bây giờ ởđây là kết quả thì ở chỗ khác, lúc khác lại trở thành nguyên nhân và ngược lại”
Trong thế giới vô tận, nguyên nhân sinh ra kết quả, đến lượt nó kết quả chuyểnhóa thành nguyên nhân mới sinh ra kết quả mới, là vô tận Chính vì thế, trong thế giới takhông thể chỉ ra được đâu là nguyên nhân đầu tiên và đâu là kết quả cuối cùng
4 Ý nghĩa phương pháp luận:
Trang 22- Mối quan hệ nhân quả đã vạch rõ nguồn gốc của các hiện tượng cụ thể, riêng biệtvì vậy là cơ sở để đánh giá kết quả của sự nhận thức thế giới, hiểu rõ con đường pháttriển của khoa học, khắc phục tính hạn chế của các lý luận hiện có và là công cụ lý luậncho hoạt động thực tiễn để cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Hiện tượng nào cũng có nguyên nhân, nên muốn hiểu đúng một hiện tượng thìphải tìm hiểu nguyên nhân xuất hiện của nó hoặc muốn xóa bỏ một hiện tượng thì phảixóa bỏ nguyên nhân sản sinh ra nó
- Nếu nguyên nhân chỉ sinh ra kết quả trong những điều kiện nhất định thì phảinghiên cứu điều kiện để thúc đẩy hay kìm hãm sự ra đời của kết quả Phải có quan điểmtoàn diện và cụ thể khi nghiên cứu hiện tượng chứ không được vội vàng kết luận vềnguyên nhân của hiện tượng đó
Câu 10: Nhận thức là gì? Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức lý luận.
- Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não người Đó là sựphản ánh năng động, sáng tạo dựa trên hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ vớikhách thể
+ Chủ thể nhận thức: theo nghĩa rộng là xã hội loài người nói chung Hiểu một
cách cụ thể, chủ thể là nhóm người như giai cấp, dân tộc, tập thể, cá nhân… Tuy nhiênkhông phải bất kỳ con người nào cũng trở thành chủ thể nhận thức, con người chỉ trởthành chủ thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm nhận thức và biến đổi kháchthể
+ Khách thể nhận thức: không phải toàn bộ hiện thực khách quan, mà chỉ là bộphận, là lĩnh vực nào đó của nó ở trong miền hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thứccủa chủ thể
- Thực tiễn là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất cótính chất lịch sử-xã hội của con người nhằm làm biến đổi tự nhiên và xã hội
+ Bản chất của hoạt động thực tiễn là sự tác động qua lại giữa chủ thể và kháchthể, trong đó chủ thể với tính năng động của mình tác động làm biến đổi khách thể
+ Hoạt động thực tiễn đa dạng, song chúng ta có thể chia làm ba hình thức cơ bản:
Trang 23* Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn cóvai trò quyết định và là cơ sở cho các hoạt động khác của thực tiễn.
* Hoạt động làm biến đổi các quan hệ xã hội (đấu tranh giai cấp, đấu tranh giảiphóng dân tộc, đấu tranh vì hòa bình…), đây là hình thức cao nhất của hoạt động thựctiễn
* Thực nghiệm khoa học: đây là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn, đượctiến hành trong những điều kiện nhân tạo để tạo ra cơ sở nhận thức, làm biến đổi tự nhiênvà xã hội
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
+ Thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức
Nhận thức bắt nguồn từ thực tiễn Chính là từ trong hoạt động thực tiễn làm xuấthiện những nhu cầu buộc con người phải nhận thức thế giới Vì vậy mà con người nhậnthức thế giới thông qua thực tiễn
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm cho sự vật, hiện tượng bộc lộnhững thuộc tính, những liên hệ, trên cơ sở đó con người nhận thức chúng Như vậy, thựctiễn đã đem lại những tài liệu cho quá trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được bảnchất, các quy luật của thế giới
Thực tiễn còn làm hoàn thiện giác quan của con người, tạo ra những phương tiệnlàm tăng khả năng nhận biết của các giác quan nhờ đó nó thúc đẩy nhận thức phát triển
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Tri thức do nhận thức đem lại chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi áp dụng có hiệuquả trong hoạt động thực tiễn Như vậy, nhận thức không phải là để nhận thức mà có mụcđích cuối cùng, đó là giúp cho con người trong hoạt động biến đổi thế giới
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Nhận thức phải thông qua thực tiễn mới kiểm tra được tính chân lý của nó Chỉtrong thực tiễn, con người mới xác định được cái đúng đắn, cái sai lầm và giới hạn củatính đúng đắn của mọi tri thức do nhận thức đem lại
Câu 11: Phân tích con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý.
Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng thế giới hiện thực khách quan vàotrong bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn
Trang 24Quá trình đó được Lênin khái quát như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhậnthức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” (V.I.Lênin Toàn tập, T.29, NxbTiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.179)
- Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình nhậnthức, gắn liền với thực tiễn thông qua các giác quan diễn ra với các hình thức cơ bản sau:
+ Cảm giác là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực khách quan Sự vậthiện tượng tác động vào các giác quan, gây nên sự kích thích của các tế bào thần kinhlàm xuất hiện các cảm giác Cảm giác là sự phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của sự vật,hiện tượng như màu sắc, mùi vị,
- Tri giác là hình thức kế tiếp sau cảm giác Tri giác là sự phản ánh nhiều thuộctính của sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ giữa chúng với nhau Tri giác được hìnhthành từ nhiều cảm giác kết hợp lại Tri giác cũng là sự phản ánh trực tiếp các sự vật,hiện tượng thông qua các giác quan của con người
+ Biểu tượng là hình thức cao nhất của trực quan sinh động Biểu tượng xuất hiệntrên cơ sở những hiểu biết về sự vật do tri giác đem lại Biểu tượng là hình ảnh được lưugiữ trong chủ thể, khi không còn sự vật hiện tượng hiện diện trực tiếp trước chủ thể Ởđây biểu tượng đã ít nhiều mang tính gián tiếp cho nên nó là khâu trung gian giữa trựcquan sinh động và tư duy trừu tượng
- Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức,bao gồm các hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán và suy lý
+ Khái niệm là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng Nó phản ánh, kháiquát những đặc tính cơ bản và phổ biến của một lớp sự vật, hiện tượng nhất định
+ Phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm theo một qui tắc xác định mà chúng
ta có thể xác định được trị số logic của nó
+ Suy lý là một thao tác logic tư duy để đi đến những tri thức mới từ những trithức đã có
- Sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính:
+ Nhận thức cảm tính khác nhận thức lý tính ở chỗ: nhận thức cảm tính là giaiđoạn thấp, phản ánh khách thể một cách trực tiếp, đem lại những tri thức cảm tính.Ngược lại nhận thức lý tính là giai đoạn cao, phản ánh khách thể một cách gián tiếp, kháiquát đem lại những tri thức về bản chất và quy luật của khách thể
Trang 25+ Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là các giai đoạn của một quá trình nhậnthức dựa trên cơ sở thực tiễn Giữa chúng có sự tác động qua lại: nhận thức cảm tínhcung cấp tài liệu cho nhận thức lý tính, nhận thức lý tính tác động trở lại nhận thức cảmtính làm cho nó chính xác hơn, nhạy bén hơn.
+ Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về sự thống nhất giữa nhận thứccảm tính và nhận thức lý tính hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy cảm (đề cao vai trò củanhận thức cảm tính) và chủ nghĩa duy lý (đề cao vai trò nhận thức lý tính)
- Thực tiễn trong quá trình nhận thức:
+ Nhận thức phải trở về thực tiễn để kiểm tra, khẳng định chân lý hay sai lầm.Ngoài ra, mục đích của nhận thức là để định hướng cho hoạt động thực tiễn cải tạo thếgiới
+ Quay trở về thực tiễn nhận thức mới hoàn thành được chu trình biện chứng củanó Trên cơ sở hoạt động thực tiễn, nhận thức tiếp theo lại được bắt đầu bằng chu trìnhkhác cao hơn
Câu 11: Trình bày quan điểm của triết học Mác-Lênin về vấn đề chân lý.
1 Khái niệm chân lý:
- Chân lý là những tri thức về thế giới khách quan được phản ánh vào bộ óc người,có nội dung phù hợp với hiện thực do nó phản ánh và đã được thực tiễn kiểm nghiệm
- Chân lý bao giờ cũng là chân lý khách quan Chân lý khách quan là những trithức mà nội dung của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người
- Chân lý là một quá trình, vì tiêu chuẩn của chân lý là thực tiễn và còn vì nhậnthức của con người là một quá trình
2 Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối.
- Chân lý tuyệt đối là những tri thức có nội dung đúng và phù hợp hoàn toàn vớihiện thực mà nó phản ánh Có chân lý tuyệt đối vì con người hoàn toàn có khả năng nhậnthức đúng đắn về thế giới khi có đầy đủ các điều kiện
- Chân lý tương đối là tri thức đúng nhưng chưa phù hợp hoàn toàn với hiện thựckhách quan do nó phản ánh Sự phù hợp giữa nội dung của nó đối với khách thể đượcphản ánh là sự phù hợp bộ phận, ở một số mặt nhất định
+ Tính tương đối của chân lý biểu hiện ở chỗ nó phản ánh sự vật tồn tại trong mộtphạm vi có giới hạn, trong những điều kiện xác định về không gian và thời gian, vì con
Trang 26người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới nhưng không phải nhận thức diễn
ra một lần là xong mà là quá trình đi từ chưa biết đầy đủ đến biết đầy đủ hơn về sự vật vàhiện tượng
3 Quan hệ biện chứng giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối.
- Chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối đều là chân lý khách quan
- Chân lý tuyệt đối là tổng vô hạn các chân lý tương đối
- Trong mỗi chân lý tương đối mặc dù là tương đối nhưng bao giờ cũng có nhữngyếu tố của chân lý tuyệt đối
- Sự khác biệt giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối không thuộc về bản chấtmà ở mức độ phù hợp giữa chúng với khách thể Sự khác biệt đó về mức độ phù hợp giữachúng với khách thể bao giờ cũng tồn tại, nhưng thường xuyên được xóa bỏ trong quátrình tiến lên vô hạn của nhận thức
- Khi thừa nhận sự thống nhất giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối, điều đócũng có nghĩa là sự thừa nhận tính cụ thể của chân lý
4 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý:
- Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý Nhờ thực tiễn, chúng ta phân biệtđược chân lý và sai lầm
- Thực tiễn có vai trò như vậy, vì nó có ưu điểm của “tính phổ biến” và là “hiệnthực trực tiếp”, nhờ đó mà thực tiễn có thể “vật chất hóa’ được tri thức, biến các tri thứcthành các khách thể vật chất có tính xác thực cảm tính
- Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối Tuyệt đốivì nó là tiêu chuẩn khách quan duy nhất; tương đối vì bản thân thực tiễn luôn luôn biếnđổi, phát triển Sự biến đổi này dẫn đến chỗ tiếp tục bổ sung, phát triển những tri thức đãcó trước đó
Câu 12: Khái niệm phương thức sản xuất? Tại sao nói phương thức sản xuất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội?
Phương thức sản xuất là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất trong mộtgiai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ nhất định với tựnhiên và với nhau trong sản xuất
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng, lịch sử xã hội loài người trước hết làlịch sử phát triển của sản xuất, lịch sử vận động của các phương thức sản xuất lần lượt