Quy luật chuyển hóa từ nhũng sự thay đổi về lượng thành những sư thay đổi về chất và ngược lại Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP
(DÀNH CHO HỆ CAO ĐẲNG CHÍNH QUY - CĐ9)
I LÝ THUYẾT
Nguyên lý 1:
Câu 3 Quy luật chuyển hóa từ nhũng sự thay đổi về lượng thành những sư thay đổi về chất và ngược lại
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến thể hiện hình thức và cách thức của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy
a Khái niệm chất, lượng
- Khái niệm “chất” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện
tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác
Chất của sự vật là các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật nhưng không đồng nhất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản
và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Khi các thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật thay đổi Việc phân biệt các thuộc tính cơ bản và không cơ bản của sự vật phải tùy theo quan hệ cụ thể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trong quan hệ này là cơ bản thì trong quan hệ khác là không cơ bản
Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng,thông qua các mối liên hệ cụ thể do đó việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối
Trang 2Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất, tùythuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó
VD: cabon có 2 loại: kim cương và than chì có cấu trúc và phương thức liên kết khác nhau
- Khái niệm “lượng” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về
các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật
Một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật
Chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng Hai phương diện đó tồn tại một cách khách quan, tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng
b Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật
Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng
Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng
Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất nhưng không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất Ở một giới hạn nhất định sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất Giới hạn mà sự thay đổi
về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ
Trang 3Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của
sự vật, hiện tượng Trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sựthay đổi về chất.
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Lượng biến đổi trong phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi nhưng khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất
Giới hạn đó chính là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện xác định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng; là sự kết thúc một giai đoạn vận động,phát triển đồng thời là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi về lượng: Khi chất mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới Chất mới tác động tới lượng
mới làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của
sự vật
Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy Chất mới ra đời sẽ tác động trởlại sự thay đổi của lượng mới Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy
c Ý nghĩa phương pháp luận
Trang 4- Phải coi trọng cả hai phương diện chất và lượng của sự vật tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật
-Vì những thay đổi về lượng của sự vật có khả năng tất yếu chuyển hóa thành những thay đổi về chất của sự vật và ngược lại, cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất của sự vật; đồng thời có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật
- Sự thay đổi về lượng chỉ làm thay đổi chất khi lượng được tích lũy đến giới hạn điểm nút do đó trong thực tiễn cần khắc phục bệnh nôn nóng tả khuynh, bảo thủ trì trệ
- Bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú do vậy cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với điều kiện cụ thể Đặc biệt trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực chủ động của các chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất
Câu 4 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật ở vị trí “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật; quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển
a Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
Khái niệm mâu thuẫn
Quan điểm siêu hình: coi mâu thuẫn là cái đối lập phản lôgic, không có sự thống
nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập
Phép biện chứng quan niệm: mâu thuẫn để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu tranh,
chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Trang 5 Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập.
Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính,những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau Ví dụ: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa của một cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế
Tính chất chung của mâu thuẫn
- Tính khách quan và phổ biến: bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội và
tư duy cũng tồn tại, vận động trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của các mặt đối lập của
nó hoặc giữa nó với các sự vật, hiện tượng khác
- Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể
bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau; giữ vị trí vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật Đó là mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sựbiểu hiện của mâu thuẫn
b Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mau thuẫn các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại Xét về phương diện nào đó giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có một số yếu tố giống nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của nó
Trang 6Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng
Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Sự chuyển hóa của các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dạng tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể
Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối, sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng
Vai trò của mâu thuẫn đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật: Sự liên
hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”
c Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được nguồn gốc, bản chất, khuynh hướng của sự vận động phát triển
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú do đó trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp Trong quá trình hoạt động nhận thức
và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn
Trang 7cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất
Câu 6 Biện chứng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
a Khái niệm, kết cấu cơ sở hạ tầng
Khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó
Cơ sở hạ tầng của xã hội, trong sự vận động của nó, được tạo nên bởi cả ba loại hình quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thức mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó quan hệ sản xuất thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan
hệ sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một xã hội nhất định Sự tồn tại của ba loại hình quan
hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất: kế thừa, và phát triển
Hệ thống quan hệ sản xuất hiện thực của một xã hội đóng vai trò hai mặt: một mặt
là hình thức kinh tế cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và mặt khác với các quan
hệ chính trị xã hội, nó đóng vai trò là cơ sở hình thành kết cấu kinh tế, làm cơ sở cho
sự thiết lập hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội đó
b Khái niệm kiến trúc thượng tầng
Trang 8Khái niệm kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái
ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị-xã hội tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Kiến trúc thượng tầng của mỗi xã hội là một kết cấu phức tạp Từ giác độ chung nhất có thể thấy kiến trúc thượng tầng của một xã hội bao gồm: hệ thống các hình thái
ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo ) và các thiết chế chính trị xã hội tương ứng của chúng (nhà nước, đảng, giáo hội )
Trong xã hội có giai cấp, hình thái ý thức chính trị và pháp quyền cùng hệ thông thiết chế, tổ chức chính đảng và nhà nước là hai thiết chế, tổ chức quan trọng nhất trong hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội Nhà nước là một bộ máy quyền lực và thực thi quyền lực đặc biệt trong xã hội có giai cấp đối kháng
- Về thực chất nhà nước là công cụ quyền lực thực hiện chuyên chính giai cấp của giai cấp thống trị, tức là giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, nó chính
là chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước
2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội, chúng có quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng; kiến trúc thượng tầng có sự tác động trở lại
cơ sở hạ tầng đã sản sinh ra nó
a Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng được thể hiện trên nhiều phương diện:
Trang 9Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung và tính chất của kiến trúc thượng tầng; nội dung
và tính chất của kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh đối với cơ sở hạ tầng Tương ứng với một cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng phù hợp, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó
Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng; những biến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu khách quan phải có sự biến đổi trong kiến trúc thượng tầng; do đó sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh đối với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng
Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng có nguyên nhân từ vai trò quyết định của kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của xã hội
b Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng có thể thông qua nhiều phương thức
Trong điều kiện kiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phương thức và hình thức tác động của các yếu tố khác tới cơ sở kinh tế phải thông qua nhân tố nhà nước và pháp luật mới thực sự phát huy vai trò thực tế của nó Nhà nước là nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất tới cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng theo nhiều xu hướng
và mục tiêu, thậm chí các xu hướng không chỉ khác nhau mà còn có thể đối lập nhau, điều đó phản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễn ra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực Điều đó phục thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng đối với nhu cầu khách quan Tuy các yếu tố
Trang 10kiến trúc thượng tầng phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế nó sẽ tạo ra tác động tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển Ngược lại nếu các yếu tố của kiến trúc thượng tầng không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế
Trang 11Nguyên lý 2:
Câu 2: Quy luật giá trị
2.1Nội dung của quy luật giá trị
Đây là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị
Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và lưu thông phải dựa trên cơ sở hao phí lao động
xã hội cần thiết
- Trong kinh tế hàng hóa mối người sản xuất tự quyết định hao phí lao động xã hội cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hóa được quyết định bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Bởi vậy người sản xuất muốn bù đắp được chi phí và có lãi thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợp với mức hao phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận được
- Trong lưu thông: cũng cần phải trao đổi theo nguyên tắc ngang giá tức là bán hàng hóa với giá cả phù hợp với giá trị của nó
Sujww vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa Vì giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị Hàng hóa nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại
Ngoài ra trên thị trường giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của dồng tiền Những nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường tách ròi với giá trị và lên xuống quanh trục giá trị của nó Sự vận động giá cả thị trường của hàng hóa xoay qunah trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị
2.2Tác động của quy luật giá trị
Trong sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động chủ yếu sau;
Thứ nhất: điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Điều tiết sản xuất tức là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá
cả hàng hóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu
+ Cung < cầu giá cả > giá trị: hàng hóa bán chạy, lãi cao
+ Cung > cầu giá cả < giá trị: hàng hóa bán không chạy, có hể thua lỗ vốn
+ Cung = cầu giá cả = giá trị