1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 4 giá trị thặng dư

16 363 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 312 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Những điểm khác nhauLưu thông hàng hoá giản đơn Lưu thông của tư bản +Trình tự sự vận động - Bắt đầu từ hành vi bán H - T - Kết thúc bằng hành vi mua T - H - Điểm bắt đầu và điểm kết t

Trang 1

CHƯƠNG IV

SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ - QUY LUẬT KINH TẾ

TUYỆT ĐỐI CỦA CHỦ NGHĨATƯ BẢN

Mục đích yêu cầu

Lý luận m là hòn đá tảng trong học thuyết KT của Mác Do đó chương này có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình KTCT Mác - Lênin Vì vậy ng cứu chương này cần nắm và hiểu các nội dung cơ bản sau

- Quá trình chuyển hoá tiền thành TB (nắm chắc công thức chung của TB và mâu thuẫn của nó, đặc biệt là điều kiện để tiền biến thành TB, SLĐ biến thành HH)

- Quá trình SX m, bản chất của TB, tỷ xuất và khối lượng m, hai phương pháp SXm Mối quan

hệ giữa SXm tương đối, tuyệt đối và m siêu ngạch ý nghĩa việc ng cứu từ đó làm sáng tỏ quy luật

KT cơ bản của CNTB

- Bản chất, các hình thức, các nhân tố quyết định tiền lương dưới CNTB

- Thực chất và các nhân tố và quy luật chung của tích luỹ TB

Quy luật m chi phối sự hình thành, vận động và phát triển củaPTSXTBCN, điều tiết các quan

hệ kinh tế giữa các giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản, chỉ ra mục đích của nền sản xuất, phương pháp làm giàu của GCTS, quy định tính lịch sử của chế độ tư bản

I SỰ CHUYỂN HOÁ TIỀN THÀNH TƯ BẢN

1 Công thức chung của tư bản

Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông HH nhưng là hình thái biểu hiện đầu tiên của tư bản

Tư bản nào lúc đầu cũng biểu hiện thành một số tiền nhất định, nhưng bản thân tiền k phải là TB Mác chỉ rõ: TB là tiền nhưng là tiền có khả năng tự tăng lên, là giá trị tự lớn lên mà k cần người chủ của nó phải tham gia lao động

- Tiền coi là tiền thông thường thì vận động theo công thức H - T - H (bán một thứ hàng này lấy tiền mua một thứ hàng khác)

- Còn tiền coi là TB thì vận động theo công thức T - H -T ’ (đem tiền mua hàng rồi bán hàng lấy tiền)

a So sánh hai công thức

- Tiền trong lưu thông HH giản đơn vận động theo CT : H - T - H

- Còn với tính cách là TB vận động theo công thức: T - H - T’

- So sánh hai công thức trên

* Những điểm giống nhau

Cùng có các yếu tố hàng hoá và tiền tệ

Cùng bao gồm hai hành vi đối lập nhau là mua và bán

Cùng biểu hiện quan hệ KT giữa hai người, người mua và người bán

==> Như vậy hai công thức trên giống nhau về hình thức Về thực chất thì khác nhau hoàn toàn

Trang 2

* Những điểm khác nhau

Lưu thông hàng hoá giản đơn Lưu thông của tư bản

+Trình tự sự vận động

- Bắt đầu từ hành vi bán H - T

- Kết thúc bằng hành vi mua T - H

- Điểm bắt đầu và điểm kết thúc đều là

H còn T chỉ đóng vai trò trung gian là

phương tiện lưu thông

+ Mục đích sự vận động

Là GTSD nên các HH trao đổi với nhau

phải có GTSD khác nhau

CT là H - T - H

+ Giới hạn của sự vận động

- Lưu thông chỉ là phương tiện để đạt

mục đích tiêu dùng và nó chấm dứt ở giai

đoạn thứ hai khi người trao đổi đã có GTSD,

khi T chuyển thành H

+ Trình tự sự vận động

- Bắt đầu bằng hành vi mua T - H

- Kết thúc bằng hành vi bán H - T

- Điểm bắt đầu và điểm kết thúc đều là T còn HH đóng vai trò trung gian…

+ Mục đích sự vận động

- Là giá trị, giá trị lớn hơn chứ không là GTSD, công thức của nó là T- H -T' trong đó T'

= T + t mà (t) là số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra ban đầu gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu

là m Còn số tiền ứng ra ban đầu T với mục đích thu được m là Tư bản

+ Giới hạn của sự vận động

- Mục đích của Tb là sự lớn lên k ngừng của TB, của giá trị, nó nằm ngay trong lưu thông nên mục đích của nó k có giới hạn T - H

- T ’’’’’’

- Như vậy T chỉ biến thành TB khi được dùng để mang lại M cho nhà TB

- T - H - T’ được gọi là công thức chung của TB vì Mọi tư bản đều vận động như vậy nhằm mục đích mang lại m cho nhà TB

b Mâu thuẫn của công thức chung của TB

- Nhìn vào công thức chung ta thấy rằng; Tiền ứng trước, tức T bỏ vào lưu thông - trải qua quá

trình vận động khi trở về tay người chủ thì tăng thêm một lượng nhất định (t) Vậy m do đâu mà có? Lưu thông và các yếu tố của lưu thông có tạo ra m k?

- Công thức trên đã làm cho ta lầm tưởng cả SX và LT đã làm cho giá trị tăng thêm?

- Điều này mâu thuẫn với lý luận giá trị? (giá trị HH là do lao động XH của người SXHH kết tinh trong HH - nó được tạo ra trong SX)

- Vậy công thức chung của TB chứa đựng một mâu thuẫn: “m vừa được tạo ra trong lưu thông vừa k được tạo ra trong lưu thông” Mác chỉ rõ: “TB không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông - nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” (TB tập thứ nhất Phần 1 NXBST Hà nội 1984 T216)

- Như vậy lưu thông không tạo ra giá trị và m nhưng chính trải qua lưu thông mà TB tăng thêm giá trị

Vậy m do đâu mà có? Tại sao TB phải xuất hiện trong lưu thông?

- Nếu cho rằng lưu thông có thể làm tăng giá trị ? ta xem xét

Quy luât của lưu thông là quy luật giá trị, nó yêu cầu trao đổi phải ngang giá Theo quy luật đó mua bán phải đúng giá trị, không thể dùng một HH có giá trị ít hơn để đổi lấy 1 HH có giá trị nhiều hơn được Và như vậy trong mọi trường hợp dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì chính lưu thông và bản thân tiền trong lưu thông không hề tạo ra giá trị

- Trong trường hợp trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái từ T thành H hoặc từ H

thành T Còn tổng số giá trị cũng như phần giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn k thay đổi

- Trong trường hợp trao đổi không ngang giá: Nếu HH được bán được bán cao hơn giá trị thì

người bán được lời, còn nếu bán thấp hơn giá trị thì người mua được lời Nhưng trong nền KTHH, mỗi người đều vừa là người bán, vừa là người mua, chẳng có ai chỉ có bán mà k mua Vì vậy cái mà

họ được lời khi bán sẽ bù lại cái mà họ mất khi mua

- Giả sử trong xã hội có một số nhà TB nào đó luôn mua được rẻ, bán được đắt và có lợi Trong

trường hợp này giá trị cũng k tăng thêm, bởi vì số giá trị mà nhà TB này được thì là cái mà nhà TB khác mất ở đây chỉ có sự phân phối lại giá trị đã có mà thôi Tổng số giá trị lúc đã trao đổi vẫn bằng tổng số giá trị khi chưa trao đổi Hay tổng giá trị trong XH không thay đổi

Trang 3

=> Như vậy dù thế nào đi thì lưu thông cũng không tạo ra giá trị, không thể tăng thêmgiá trị.

Chúng ta hãy tìm sự tăng lên của giá trị ở bên ngoài lưu thông?

- Ngoài lưu thông, T nằm im, không thể tự lớn lên, không thể đẻ ra tiền

- Còn H nếu để trong kho? Còn nếu hoặc là được tiêu dùng cá nhân, hoặc tiêu dùng cho SX

Nếu được tiêu dùng cho cá nhân thì cả giá trị và GTSD đều biến mất Nếu tiêu dùng cho SX tức là đóng vai trò TLSX cũng k thể tăng thêm giá trị

===> Như vậy qua sự phân tích trên ta thấy được lưu thông k tạo ra giá trị và m nhưng rõ ràng là nếu T để trong két, H để trong kho thì cũng không thể có được m

Như vậy lưu thông k tạo ra giá trị và giá trị thặng dư nhưng chính trải qua lưu thông mà giá trị tăng thêm Vậy là m vừa được tạo ra trong lưu thông vừa k được tạo ra trong lưu thông Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn bằng

lý luận về HHSLĐ

Nhờ lưu thông mà nhà TB mua được một loại HH đặc biệt, quá trình tiêu dùng nó đồng hời cũng là quá trình tạo ra giá trị và do đó tạo ra m Đó là HHSLĐ

2 Hàng hoá SLĐ

a SLĐ, và những điều kiện biến SLĐ thành HH

SLĐ là tổng hợp toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tạo trong con người và được người đó sử dụng để SX ra CCVC

- SLĐ là yếu tố cơ bản của sản xuất trong mọi chế độ xã hội Nhưng SLĐ k phải bao giờ cũng

là HH Nó chỉ biến thành HH khi có các điều kiện lịch sử nhất định đó là

Một là, người có SLĐ phải là người được tự do về thân thể của mình, phải có khả năng chi

phối SLĐ ấy và chỉ bán SLĐ đó trong một thời gian nhất định (bởi vì nếu bán đứt hẳn toàn bộ SLĐ trong một lần thì có nghĩa là tự bán cả bản thân mình và trở thành nô lệ - người nô lệ chỉ là “một công cụ biết nói ”của chủ nô, bị cột chặt vào đất đai của địa chủ PK, vì thế họ k tự do về thân thể Còn người công nhân dưới chế độ TBCN thì đã được giải phóng khỏi chế độ nông nô và được tự do

về thân thể, họ có quyền đi khắp đó đây để bán SLĐ)

Hai là, người có SLĐ bị mất hết TLSX và cũng không có của cải gì khác, muốn sống, tồn tại

chỉ còn cách bán SLĐ cho người khác sử dụng

- Sự tồn tại đồng thời hai ĐK trên tất yếu biến SLĐ thành HH - SLĐ biến thành HH là điều kiện quyết định để tiền biến thành TB Tuy nhiên để T biến thành TB thì lưu thông HH và lưu thông

TT phải phát triển tới một mức độ nhất định

==> Việc SLĐ trở thành HH đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong phương thức kết hợp SLĐ với TLSX, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến (trong CNTB con người không phải là đối tượng mua bán mà chỉ có SLĐ, tức là khả năng lao động mới là đối tượng mua bán) Quá trình giải phóng người lao động và tước đoạt người lao động đã xảy ra trong buổi đầu của chế độ TBCN và đã biến người lao động thành người vô sản làm thuê, biến SLĐ thành HH Sự cưỡng bức lao động bằng biện pháp phi kinh tế được thay bằng việc ký kết hợp đồng mua và bán… sự bình đẳng về hình thức ấy đã che đậy bản chất bóc lột của CNTB

b Hai thuộc tính của HHSLĐ

Với tư các là HH, SLĐ cũng có hai thuộc tính: GT và GTSD Tính chất đặc biệt của HHSLĐ cũng thể hiện thông qua các thuộc tính đó:

* Giá trị của HHSLĐ: Cũng như các HH khác, GTHHSLĐ cũng do TGLĐXH cần thiết để SX

ra nó quyết định Nhưng SLĐ là năng lực tồn tại trong con người sống, trong thân thể người công nhân Muốn SX ra được năng lực đó người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như thức ăn, quần áo nhà ở, phương tiện đi lại……

- TB không những yêu cầu người công nhân làm thuê một đời mà nó yêu cầu người công nhân làm thuê đời đời vì thế trong những chi phí để SX ra SLĐ còn kể cả những chi phí để nuôi sống gia đình người công nhân và những chi phí đào tạo tối thiểu cho người công nhân

Vì vậy TGLĐXHCT để tái SXSLĐ được quy thành TGLĐXHCT để SX ra những TL sinh hoạt cần thiết cho người lao động và gia đình của người đó Về nguyên tắc giá trị HHSLĐ bao gồm: giá trị những TLSH để người công nhân có thể TSX lại SLĐ của mình ở trạng thái bình thường; chi phí đào tạo theo tính chất phức tạp của lao động và giá trị những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế

Trang 4

- Ngoài các bộ phận trên, cấu thành GTSLĐ còn phụ thuộc vào đặc điểm nghề nghiệp, tính chất công việc của công nhân, vào các yếu tố tinh thần và lịch sử, hay là vào các điều kiện lịch sử của từng nước (khí hậu, tập quán, trình độ văn minh đã đạt được, nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời và phong trào đấu tranh của GCCN) (nghĩa là: là HH đặc biệt giá trị HHSLĐ còn khác với HH thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần - nhu cầu của công nhân k chỉ có nhu cầu vật chất mà còn là nhu cầu tinh thần - giải trí, sách báo, đào tạo…Nhu cầu đó lại còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, của từng nước, từng thời kỳ, khí hậu, tập quán, trình độ văn minh đã đạt được, nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời và phong trào đấu tranh của GCCN và cả điều kiện địa lý, khí hậu…ví

dụ tiền lương ở Việt nam.)

==> GTHHSLĐ do những bộ phận sau đây hợp thành

- Giá trị những TLSH về VC và tinh thần cần thiết để TSXSLĐ, duy trì đời sống người công nhân

- Phí tổn đào tạo công nhân

- Giá trị những TLSH vật chất và tình thần cho con cái người công nhân

(Nền SX càng phát triển thì một mặt nhu cầu về lao động phức tạp tăng, chi phí đào tạo lớn; mặt khác nhu cầu về HH và dịch vụ mới cũng sẽ tăngtheo sự tiến bộ của SX, do đó giá trị SLĐ cũng

sẽ tăng lên Nhưng cũng theo đà phát triển của NSLĐ, giá trị các TLSH lại có xu hướng giảm đi Như vậy giá trị HHSLĐ lại vận động theo hai xu hướng đối lập nhau….để xác địh giá trị SLĐ ở thời điểm nào đó cần phân tích cụ thể sự vận động của hai xu hướng này )

* Giá trị sử dụng của HHSLĐ thể hiện ở quá trình tiêu dùng SLĐ, tức là quá trình lao động để

SX ra một HH nào đó Trong quá trình lao động, SLĐ tạo ra một lượng lao động mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần dôi ra so với giá trị SLĐ là giá trị thặng dư Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng HHSLĐ Đặc điể riêng này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn chung của TB

* Ý nghĩa của việc phát hiện ra HHSLĐ

- Việc phát hiện ra HHSLĐ có ý nghĩa trong nhận thức Đây là bước chuyển mới về chất trong nền SXHH, nó xác định thời đại mới trong lịch sử loài người - thời đại CNTB HHSLĐ chính là tiêu thức để phân biệt thời đại SXHHTBCN khác với nền SXHH trước đó

- Nhờ phát hiện ra HHSLĐ mà Mác đã tìm ra chìa khoá để giải quyết MT của CT chung của

TB, tìm ra nguồn gốc và bản chất của m, m chính là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị SLĐ do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà TB chiếm đoạt Nguồn gốc duy nhất của m là do lao động k được trả công của công nhân

- Ng cứu HHSLĐ cho thấy nhà TB muốn làm giàu, phải bóc lột lao động làm thuê Không sử dụng HHSLĐ thì nhà TB không thể SX ra m, m là nguồn gốc thực sự của sự giàu có của nhà TB và toàn bộ GCTS Nhờ phát hiện ra HHSLĐ mà Mác trở thành người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh học thuyết m

II SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

HHSLĐ bán xong thì sự bình đẳng hình thức giữa người bán hàng là công nhân và người mua hàng là nhà TB cũng hết Bây giờ đến lúc người mua hàng sử dụng H Quá trình sử dụng này diễn ra trong xí nghiệp của nhà TB ở đây nhà TB là ông chủ, công nhân là người làm thuê Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà TB

1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư

a Đặc điểm quá trình sản xuất HHTBCN

- Quá trình SXTBCN trước hết là quá trình SX ra GTSD Nhưng mục đích của SXTB không phải là GTSD mà là GT: hơn nữa là m Vì vậy quá trình SXTBCN là một quá trình hai mặt: Quá trình SX ra GTSD và quá trình SX ra GT thặng dư Vấn đề ở đây là xét mặt thứ hai của quá trình SXTBCN

- Quá trình SX m: Về hình thức nó biểu hiện thông qua lưu thông theo CT chung của TB: T - H

- T’ trong đó T’ = T + t (t ) là phần giá trị dôi ra so với số T ứng ra ban đầu gọi là m

Nhưng thực tế m được được tạo ra trong SX

- SXTBCN là là quá trình kết hợp SLĐ với TLSX để tạo ra HH

b Ví dụ quá trình sản xuất giá trị thặng dư.

- Để hiểu rõ quá trình SX m ta đi ng cứu quá trình SX sợi của nhà TB

Ví dụ: để sản xuất ra 1kg sợi nhà tư bản phải ứng ra

20.000 để mua 1kg bông

Trang 5

3.000 hao mòn máy móc để kéo 1 kg bông thành 1kg sợi

và 5.000 để mua SLĐ trong thời gian 10 giờ (giả định việc mua này đúng giá trị)

Tổng cộng là 28.000đ

- Giả sử: trong thời gian 5 giờ người công nhân bằng lao động cụ thể chuyển được 1 kg bông thành 1 kg sợi, theo đó giá trị của bông và hao mòn máy móc được bảo tồn và chuyển vào giá trị của

1 kg sợi Và giả định việc mua này đúng giá trị mỗi giờ lao động trừu tượng của công nhân tạo ra giá trị mới là 1.000 (tổng cộng 5.000)

Như vậy: giá trị của 1 kg sợi bằng 28.000 (= 20 + 3 + 5)

Nếu quá trình lao động chỉ dừng lại ở điểm này thì: Nhà tư bản ứng ra 28.000 thu về 28.000 tức là chưa có m hay tiền chưa biến thành TB Vì vậy, thời gian SX phải được kéo dài vượt quá điểm

bù lại giá trị SLĐ

- Giả sử quá trình lao động được kéo dài thêm 5 giờ nữa thì nhà TB chỉ tốn thêm 20.000 mua bông, 3.000 hao mòn máy và kết quả thu được vẫn như 5 giờ đầu

Như vậy, sau 10 giờ lao động giá trị mà nhà tư thu về là 56.000 trong đó chi phí tư bản là 51.000 nên giá trị thặng dư là 5000 (56.000 - 51.000 = 5.000)

- tiền mua bông (2kg): 40.000

- tiền hao mòn máy 6.000

- tiền mua SLĐ trong 1 ngày (10h):

5.000

Tổng cộng: 51.000

- Giá trị của bông chuyển vào sợi 40.000

- Giá trị của máy chuyển vào sợi 6.000

- Giá trị mới do công nhân tạo ra trong 10h lao động: 10.000

Tổng cộng 56.000

Như vậy toàn bộ chi phí SX mà nhà TB bỏ ra là 51.000, còn giá trị của sản phẩm mới 2kg sợi

do công SX ra trong 10h là 56.000 Vậy 51.000 ứng trước đã chuyển hoá thành 56.000, đã đem lại một m là 5.000 Do đó tiền tệ ứng ra ban đầu đã chuyển hoá thành TB

* Từ sự ng cứu quá trình SX m trên ta rút ra kết luận sau

Một là: giá trị những TLSX đã hao phí như nguyên liệu, nhiên liệu, một phần của giá trị nhà

xưởng, máy móc và dụng cụ (trong ví dụ là 51.000) gọi là giá trị cũ

Hai là: giá trị mới do công nhân tạo ra (trong ví dụ là 6.000) tức là v + m Vấn đề ở đây là giá

trị mới được tạo ra như thế nào? Đến CNTB, NSLĐXH đã khá phát triển khá cao, công nhân chỉ cần một phần ngày lao động của mình là đã có thể tạo ra được một lượng giá trị bằng giá trị TLSHCT cho mình, phần ngày lao động đó gọi là TGLĐ cần thiết (trong ví dụ là 4h) Phần ngày lao động còn lại là TGLĐ thặng dư (trong ví dụ là 5h) Trong TGLĐ thặng dư này người công nhân tạo

ra giá trị thặng dư cho nhà TB

Vậy: m là phần giá trị dôi ra ngoài GTSLĐ do lao động của người công nhân tạo ra (là kết quả lao động không công của người công nhân) bị nhà TB chiếm đoạt

==> Như vậy m chỉ được tạo ra trong SX nhưng LT là điều kiện k thể thiếu Bản chất của m là quan hệ bóc lột và đến đây MT của CT chung đã được giải quyết

2 Tư bản bất biến và tư bản khả biến

a Tư bản bất biến

Để tổ chức quá trình SX nhà TB phải ứng tư bản mua TLSX và SLĐ hay biến TB tiền tệ thành các bộ phận yếu tố của TBSX Những bộ phận TB đó có vai trò khác nhau đối với quá trình SX giá trị và giá trị thặng dư:

- Nhà xưởng, máy móc, thiết bị thì hao mòn và chuyển dần giá trị của chúng vào sản phẩm Ví

dụ Một chiếc máy giá trị của nó là1.000$ dùng được 10 năm thì mỗi năm 1/10 giá trị của nó là 100$ được chuyển vào sản phẩm

- Nguyên nhiên vật liệu phụ tham gia vào quá trình SX thì hoàn toàn thay đổi hình thức và chuyển hết giá trị của chúng vào sản phẩm sau một quá trình SX

Ví dụ 1kg bông kéo thành sợi thì trong giá trị của sợi có giá trị của 1kg bông Tóm lại, giá trị TLSX bị tiêu dùng cho SX thì hoặc là chuyển từng phần hoặc là chuyển hếtd một lần trong quá trình

SX vào sản phẩm Đây là lao động quá khứ, lao động đã được vật hoá hay giá trị cũ được lao động

cụ thể của công nhân bảo tồn và di chuyển vào sản phẩm mới

Trang 6

Tư bản bất biến là bộ phận TB tồn tại dưới hình thức TLSX Có loại như máy móc, thiết bị nhà xưởng…( giá trị của chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm) Có loại như nguyên liệu, năng lượng, vật liệu phụ…(giá trị của nó được bảo tồn nguyên vẹn và chuyển sang sản phẩm mới) Nhưng chúng đều có đặc điểm chung là: Giá trị của chúng không mất đi, cũng không lớn lên mà được bảo tồn nguyên vẹn và chuyển sang sản phẩm mới Ký hiệu là C

b Tư bản khả biến

- Đối với bộ phận TB dùng để mua SLĐ thì tình hình lại khác Sau quá trình SX, một mặt giá trị của nó biến thành các tư liệu sinh hoạt của người công nhân và biến đi trong quá trình tiêu dùng của công nhân Mặt khác trong quá trình SX bằng lao động trừu tượng của mình người công nhân tạo

ra một lượng giá trị không những đủ bù đắp lại giá trị SLĐ do TB đẫ trả cho công nhân mà còn có bộ phận m cho nhà TB Do vậy bộ phận TB dùng để mua SLĐ đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình SX được gọi là TB khả biến

Bộ phận TB biểu hiện thành GTSLĐ đã từ một lượng bất biến trở thành một lượng khả biến, tức là tăng thêm về lượng trong quá trình SX gọi là TB khả biến

Ký hiệu là V

Đến đây giá trị của HH là C + V + M

* Kết luận

- Cơ sở để phân chia TB thành C và V là căn cứ vào vai trò của từng bộ phận TB đó trong quá

trình tạo ra m C không phải là nguồn gốc tạo ra m, còn V là nguồn gốc tạo ra m (nó được phát hiện

ra dựa trên cơ sở tính hai mặt của lao động SXHH đã vạch rõ bản chất bóc lột của QHSXTBCN)

- Sự phân chia TB thành C và V đã vạch rõ nguồn gốc của m là do lao động của công nhân làm

thuê tạo ra C là điều kiện để SX m còn V trực tiếp tạo ra m Chứng minh rằng không phải máy móc

mà chính là lao động của công nhân làm thuê là yếu tố duy nhất tạo ra m cho nhà TB Đồng thời cho

ta thấy vai trò quan trọng của máy móc, TLSX trong quá trình tạo ra m (Hiện nay CNTB sử dụng những thành tựu của KHCN hiện đại như máy móc tự động, rô bốt hoá và một số công đoạn SX sản phẩm song nó vẫn chỉ là phương tiện để nâng cao sức SX của lao đông Phải thông qua lao động sống thì giá trị của nó mới được bảo tồn, tái hiện trong sản phẩm với đại lượng k đổi Máy móc chỉ là điều kiện để lao động sống sáng tạo ra giá trị mới trong đó có m - nguồn gốc thu nhập của nhà TB

3 Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư

a Tỷ xuất giá trị thặng dư

Tỷ suất m là tỷ lệ % giữa số lượng giá trị thặng dư với tư bản khả biến

Ký hiệu m’

Công thức tính m' = x100%

v

m

( = x100%

tldtd

tldty

)

- m’ phản ánh mức độ bóc lột của nhà TB đối với công nhân làm thuê Nó chỉ rõ, trong tổng số giá trị mới do công nhân làm ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà TB chiếm đoạt bao nhiêu m’ còn chỉ rõ, trong một ngày lao động, phần TGLĐ thặng dư mà công nhân làm cho nhà TB bằng bao nhiêu % so với phần TGLĐTY họ làm cho mình

5.000

- Theo ví dụ SX sợi ở trên thì m’ = -x 100% = 100%

5.000

Ví dụ trên cho thấy nó vạch rõ 1 cách chính xác trình độ bóc lột công nhân là bao nhiêu phần trăm (Nhà TB bỏ ra 1000 thuê công nhân thì cũng bóc lột được 1000) Hay trong giá trị mới do công nhân làm thuê tạo ra nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu và công nhân làm thuê đưọc hưởng bao nhiêu

- CNTB càng phát triển thì tỷ xuất càng cao người công nhân càng bị bóc lột nặng nề (Mác nói lịch sử của CNTB cũng là lịch sử nâng cao trình độ bóc lột m Vào cuối thế kỷ XIX m '= 100%; giữa XX: m' = 230%; 1980: Pháp 315%; Đức: 350%; Nhật: 400%; Mỹ: 430% Cá biệt hiện nay có xí nghiệp Nhật là 700%

- Nếu chỉ xét dưới góc độ kinh tế thì đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động sống và phản ánh trình độ tổ chức, quản lý rất tốt, khoa học, áp dụng được thành tựu của KHCN vào quản lý……Các doanh nghiệp Việt nam cần học tập bởi lẽ trên thực tế……

b Khối lượng M

Khối lượng m là số lượng m mà nhà TB thu được trong một thời gian SX nhất định và được ký hiệu là M

Trang 7

Công thức tính M = m'.V

Trong đó V là tổng TB khả biến, đại biểu cho tổng số công nhân trên, m là trình độ bóc lột công nhân Nó phụ thuộc cả vào 2 nhân tố m’ và V (nghĩa là nó phụ thuộc vào thời gian, cường độ lao động của mỗi công nhân và số lượng công nhân mà nhà TB sử dụng)

Mục đích của nhà tư bản là thu được ngày càng nhiều m nên tìm mọi cách để tăng m' vì tăng V không phải là điều dễ dàng

4 Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối và siêu ngạch

a Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Trong giai đoạn đầu tiên của CNTB, khi KT còn thấp thì PP chủ yếu để tăng m là kéo dài ngày lao động của công nhân

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi NSLĐ và thời gian lâo động tất yếu và giá trị SLĐ không đổi.

Ví dụ

/ _4h _/ 4h / 8h

Giả sử ngày lao động là 8h trong đó 4h là TGLĐCT và 4h là TGLĐ thặng dư thì m’là

4

m’ = - x 100% = 100%

4

Giả sử nhà TB tăng cường bóc lột công nhân bằng cách kéo dài ngày lao động từ 8h lên 10h trong điều kiện TGLĐCT k đổi thì TGLĐ thặng dư sẽ tăng từ 100% lên 150%

/ _4h / _6h _/10h

6

m’ = - x 100% = 150%

4

- Xu hướng của nhà TB là ra sức kéo dài ngày lao động đến cực độ Nếu có thể họ bắt công nhân làm 24h một ngày, vì họ đã mua SLĐ cả ngày

- Xu hướng của nhà tư bản là ra sức kéo dài ngày lao động đến cực độ Nếu có thể họ bắt công nhân làm

24 giờ một ngày, vì họ đã mua sức lao động cả ngày Tuy nhiên phương pháp này vấp phải ba giới hạn:

1) Ngày lao động bị giới hạn bởi ngày tự nhiên (24 giờ).

2) Cường độ lao động tăng lên không thể vượt quá thể lực và sức chịu đựng của người lao động vì ngoài thời gian lao động công nhân còn phải có thời gian ăn, uống, nghỉ ngơi để tái sản xuất SLĐ.

3) Vấp phải sự đấu tranh quyết liệt của công nhân (đòi tăng lương, giảm giờ làm)

b Giá trị thặng dư tương đối

Giá trị thặng dư tương đối là m thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao NSLĐ trong ngành SX ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị SLĐ Nhờ đó tăng TGLĐ thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ (không đổi)

Ví dụ

/ _4h _/ 4h / 8h

Giả sử ngày lao động là 8h trong đó 4h là TGLĐCT và 4h là TGLĐ thặng dư thì tỷ xuất giá trị thặng dư là 4

m’ = - x 100% = 100%

4

Nếu TGLĐCT rút từ 4h xuống còn 2h thì TGLĐTD sẽ từ 4h tăng lên 6h Như vậy là ngày lao động vẫn là 8h nhưng tỷ xuất giữa TGLĐTD và TGLĐCT ssã từ 4/4 tăng lên 2: 2 và m’ đã từ 100% tăng lên 300%

/ 2h _/ 6h _/ 8h

6

m’ = - x 100% = 300%

2

- Làm thế nào để rút ngắn TGLĐCT? Muốn vậy phải hạ thấp giá trị SLĐ

Trang 8

Như ta đã biết giá trị SLĐ được đo gián tiếp thông qua giá trị những tư liệu sinh hoạt thiết yếu của công nhân làm thuê Cho nên muốn hạ thấp giá trị SLĐ thì phải hạ thấp giá trị những tư liệu sinh hoạt đó

Chỉ có bằng cách tăng NSLĐ trong những ngành SX những tư liệu đó hoặc trong những ngành SXTLSX trực tiếp liên quan đến các ngành SXTL sinh hoạt thì mới đạt kết quả đó Trước kia, nếu trong một ngày lao động 8h người công nhân phải tốn 4h để tạo ra một giá trị bằng giá trị những TLSH cho mình thì nay do TLSH giảm, giả dụ một nửa, người công nhân chỉ cần 2h cũng đủ để SX

ra m bằng giá trị những TLSH đó

==> Muốn tăng NSLĐ phải cải tiến SX, đổi mới công nghệ, mà điều này trước tiên thường diễn ra ở một số xí nghiệp nào đó, còn số đông các xí nghiệp khác thì chưa có điều kiện Từ đó xuất hiện m siêu ngạch

c Giá trị thặng dư siêu ngạch

NSLĐXH trong các ngành SXTL sinh hoạt được nâng cao thì GCTS thu được M tương đối Nhưng m tương đối k là động cơ trực tiếp thúc đẩy từng nhà TB cải tiến KT, nâng cao NSLĐ trong

xí nghiệp của mình, m siêu ngạch mới là động lực trực tiếp

Trong thực tế việc cải tiến kỹ thuật nâng cao NSLĐ lúc đầu diễn ra ở một hoặc vài xí nghiệp riêng lẻ Nhờ đó các xí nghiệp đó sẽ có thời gian lao động cá biệt thấp hơn thời gian lao động cần thiết và thu được một số giá trị thặng dư vượt trội so với các xí nghiệp khác phần giá trị trội hơn đó

là giá trị thặng dư siêu ngạch

M siêu ngạch là phần m thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của HH thấp hơn giá trị thị trường của nó

Đối với từng xí nghiệp m siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhưng nó tồn tại thường xuyên trong nền kinh tế TBCN và là động lực mạnh mẽ trực tiếp để thúc đẩy các nhà tư bản hoạt động SXKD

* So sánh m (Tuyệt đối và tương đối)

- Giống nhau: Cả hai PP đều giống nhau về mục đích làm tăng khối lượng m và kéo dài thời

gian lao động thặng dư Cả hai PP đều làm tăng m’, do đó đều nâng cao trình độ bóc lột của TB đối với lao động làm thuê

- Khác nhau

- Nếu PP SXm tuyệt đối thực hiện bằng cách tăng thêm tgian lao động trong ngày (ngày lao động) còn TGLĐCT k đổi thì PPSx m tương đối lại bằng cách rút ngắn TGLĐCT trong khi ngày lao động k đổi hoặc được rút ngắn lại

- Nếu PP SXm tuyệt đối dựa vào tăng cường độ lao động thì PPSXm tương đối lại dựa vào tăng NSLĐ, bóc lột yếu tố trí tuệ của lao động

PPSX m tuyệt đối có giới hạn bởi tgian tự nhiên trong ngày và bởi yếu tố thể chất tinh thần của người lao động, còn PPSX m tương đối k có giới hạn vì NSLĐ có khả năng tăng lên vô hạn

- PPSX m tuyệt đối được chú ý áp dụng trong giai đoạn đầu của CNTB, còn PPSX m tương đối được áp dụng trong suốt quá trình SXTBCN và ngày càng tăng lên, là PP cơ bản nhất trong quá trình

SX m

==> Có ý kiến cho rằng hiện nay trong ĐKCNTB k còn m tuyệt đối nữa?

Sự thực thì m tuyệt đối và m tương đối có quan hệ mật thiết với nhau và quyết định lẫn nhau Dười chế độ TBCN, việc sử dụng máy móc k phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân

mà trong đại đa số trường hợp lại là tăng cường độ lao động Do việc áp dụng máy móc k đồng bộ nên người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành của máy Ngay trong nền SX hiện đại áp dụng

tự động hoá cao, cường độ của người công nhân cũng vẫn tăng lên dưới những hình thức mới, cường

độ của lao động thần kinh thay thế cho cường độ của lao động cơ bắp Vì tăng cường độ của lao động về thực chất cũng giống như kéo dài ngày lao động Nên SXTBCN trong ĐK hiện đại vẫn là sự kết hợp một cách tinh vi cả hai PP SXm

* So sánh m siêu ngạch và m tương đối

Giữa chúng có một cơ sở chung đó là dựa trên cơ sở tăng NSLĐ để rút ngắn TGLĐCT

- Tuy vậy giữa chúng có sự khác nhau: Msiêu ngạch dựa trên cơ sở tăng NSLĐ cá biệt còn m tương đối dựa trên cơ sở tăng NSLĐXH Giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ được thay thế bằng m tương đối khi trình độ kỹ thuật mới được áp dụng ở các tư bản cá biệt trở thành phổ biến trong XH Vì thế Mác gọi m siêu ngạch là hình thức biến tướng của m tương đối

Trang 9

Sự khác nhau còn biểu hiện: M tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà TB thu được Nó biểu hiện sự tiến bộ KT của CNTB được áp dụng rộng rãi Xét về mặt đó thì nó biểu hiện quan hệ giữa GCCN và toàn bộ GC các nhà TB M siêu ngạch là mục đích trực tiếp mà các nhà TB đạt tới trong cuộc cạnh tranh với các nhà TB khác Xét về mặt này thì M siêu ngạch còn biểu hiện mối quan hệ giữa các nhà TB với nhau Từ đó ta thấy rằng M siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà

TB cải tiến … để làm giảm giá trị của HH

* ý nghĩa nghiên cứu 2 PP

- Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất TBCN thì các PPSX giá trị thặng dư nhất là PP SXM tương đối và siêu ngạch có ý nghĩa nếu vận dụng nó vào trong các DN ở nước ta nhằm kích thích SX, tăng NSLĐ, sử dụng KT tiên tiến , cải tiến KT lạc hậu Cải tiến tổ chức, quản lý…

- Đối với quá trình phát triển nền KTQD của nước ta, ng cứu 2pp gợi mở phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng KT trong điều kiện điểm xuất phát ở nước ta thấp để thúc đẩy tăng trưởng cần huy động tối đa các nguồn lực nhất là lao động vào SX…nhưng về cơ bản lâu dài cần phải coi trọng tăng NSLĐXH, coi đẩy mạnh CNH, HĐH nều KTQD là con đường cơ bản để tăng NSLĐXH, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển KT

5 Sản xuất giá trị thặng dư - quy luật kinh tế cơ bản của CNTB

Mỗi PTSX có một quy luật KT tuyệt đối, quy luật phản ánh mối quan hệ KT, BC nhất của PTSX đó

- Từ những kết quả ng cứu trên cho thấy rằng tất cả bí mật của CNTB, thực chất bóc lột và nguồn gốc làm giàu của CNTB đều nằm trong sự SX ra M

- Mác đã chỉ rõ SXm là quy luật KT tuyệt đối của CNTB M phản ánh đầy đủ nhất b/c bóc lột của CNTB, phản ánh mối quan hệ GCTS bóc lột GCCN làm thuê

- Vị trí của quy luật, Là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, nó phản ánh mối quan hệ

bản chất giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản đó là giai cấp vô sản và tư sản

Quy luật m là quy luật KT cơ bản của CNTB bởi vì nó ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời, tồn tại của CNTB Nó quy định bản chất của nền SXTBCN, chi phối mọi mặt đời sống KT của XHTB Không có SXm thì K có CNTB ở đâu có SXm thì ở đó có CNTB, ngược lại… chính vì vậy Lênin

đã gọi quy luật m là quy luật KT tuyệt đối của CNTB

- Mội dung quy luật: SX nhiều và ngày càng nhiều hơn m bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê

- Nội dung quy luật chỉ rõ mục đích và thủ đoạn, phương tiện để đạt mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa:

+ Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho

nhà tư bản chứ không phải vì giá trị sử dụng, không phải vì mục đích tiêu dùng của xã hội Việc quan tâm đến chất lượng, mẫu mã hàng hóa, chỉ nhằm bán được hàng hóa, thực hiện được giá trị hàng hóa để có được giá trị thặng dư mà thôi Sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư luôn là động lực của mọi nhà tư bản Vì vậy công thức vận động chung của tư bản là không có giới hạn: T -

H - T’’’’

+ Phương tiện để đạt mục đích đó là nhà tư bản tìm mọi cách tăng cường bóc lột lao động làm

thuê dựa vào việc mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật, kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động và năng suất lao động

Giữa mục đích và phương tiện có mối quan hệ biện chứng với nhau Mục đích là động lực thúc đẩy phương tiện; phương tiện là điều kiện để thực hiện mục đích Khi mục đích đạt được thì nhà tư bản lại có thêm điều kiện để sử dụng phương tiện mới Hiện nay ngoài các thủ đoạn trên, các nhà tư bản còn dùng các biện pháp kinh tế, tâm lý xã hội nhằm khai thác tối đa yếu tố tích cực của người lao động như: tiền thưởng ngoài lương cho công nhân; bán cổ phiếu cho người lao động

- Vai trò của quy luật

+ Nó quyết định mục đích, bản chất, nguyên tắc phân phối có bản và phương hướng phát triển của PTSXCNTB

- Chi phối các quy luật KT khác, hướng sự hoạt động của các quy luật KT vào phục vụ cho quy luật m

+ Tác động mạnh mẽ đến ĐSXHTB Một mặt nó thúc đẩy KT, PCLĐXH làm cho LLSX phát triển NSLĐ tăng lên nhanh chóng và nền SXXH được XHH cao Mặt khác làm cho mâu thuẫn vốn

Trang 10

có của CNTB mà trước hết là mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ của LLSX…… ngày càng gay gắt quy định xu hướng lịch sử tất yếu phải thay thế CNTB bằng một XH tốt đẹp hơn đó là CNXH

===> CNTB ngày nay có những điều chỉnh nhất định về QHSX nhưng SXTBCN không vì thế

mà không còn là sản xuất giá trị thặng dư Tuy nhiên, sản xuất giá trị thặng dư ngày nay có những đặc điểm mới

- Một là, do KTCN hiện đại được áp dụng rộng rãi nên khối lượng m được tạo ra chủ yếu nhờ

tăng NSLĐ Việc tăng NSLĐ do áp dụng KT cà CN hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn

- Hai là cơ cấu lao động ở các nước TB phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn Do áp dụng

rộng rãi KT và công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động cơ bắp, lao động gản đơn Do đó lao động trí tuệ, lao động có trình độ cao ngày càng có vai trò quyết địnhtrong việc SX ra m Chính nhờ sử dụng LLLĐ này mà ngày nay m’ và M tăng lên rất nhiều

- Ba là, sự bóc lột của các nước TB phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng được mở rộng

dưới nhiều hình thức: XKTB, trao đổi HH không ngang giá với các nước đang phát triển do đó P

mà các nước phát triển thu được trong mấy chục năm qua tăng lên rất nhiều, sự cách biệt giàu nghèo tăng trỏ thành mâu thuẫn nổi bật trong thời đại ngày nay…

III TIỀN CÔNG TRONG CNTB

1 Bản chất kinh tế của tiền công

Trong XHTB, người CN làm việc cho nhà TB một tgian nhất định, tạo ra một số sản phẩm nhất định và nhận được một khoản tiền nhất định gọi là tiền công

Nhìn hiện tượng đó lý luận GCTS cho rằng tiền công là giá cả của lao động Thực sự thì sao?

- Chúng ta thấy m là do lao động không đươc trả công của công nhân sáng tạo ra và bị nhà TB chiếm không, nhưng trong XHTB lại có quan niệm rằng nhà TB không bóc lột người công nhân vì

họ đã “trả công lao động” đầy đủ, sòng phẳng cho công nhân rồi Nếu như một người bán HH đem

HH của mình bán lấy tiền thì số tiền đó rõ ràng là giá cả của HH đó Nhưng khi người công nhân bán SLĐ của mình để lấy một số tiền dưới hình thức tiền công, thì số tiền công đó lại không biểu hiện là giá cả HHSLĐ mà biểu hiện là “giá cả lao động” Tiền công đã che dấu mất thực chất bóc lột của CNTB đó là vì:

Thứ nhất: nhà TB đã trả công cho công nhân sau khi CN đã lao động Điều đó dễ đưa đến sự

nhầm lẫn coi tiền công là tiền “trả công lao động” cho công nhân

Thư hai: tiền công được quy định theo tgian làm việc, hoặc theo số lượng sản phẩm SX ra Ai

làm nhiều thì nhiều tiền công ai làm ít thì ít tiền công ít Do đó đã tạo bề ngoài giả dối hình như lao động của CN đã được trả công đầy đủ, nhà TB chẳng tơ hào gì cả

Không những nhà TB quan niệm rằng cái mà nhà TB mua là lao động của công nhân và tiền công mà nhà TB trả là tiền công trả công lao động cho công nhân, mà ngay công nhân cũng lầm tưởng như vậy

==> Thực ra công nhân k bán lao động và do đó tiền công mà nhà TB trả cho công nhân k phải là tiền công trả cho lao động

- Mác căn cứ vào b/c Tb là bóc lột và cơ sở lý luận giá trị

Mác giả sử tiền công là giá cả của lao động thì sẽ dẫn đến 4 mâu thuẫn

Một là, nếu lao động là HH thì lao động phải có trước khi đem bán Mà ta đã ng cứu lao động

lại là qúa trình kết hợp giữa SLĐ với TLSX vậy mâu thuẫn là công nhân bán lao động là k đúng vì công nhân trần như nhộng vì họ k có TLSX, nếu có đã tự mình SX …

Hai là nếu lao động là HH, thì lao động phải có trước Đằng này lao động chỉ diễn ra sau khi

việc giao dịch mua bán giữa CN là người bán và nhà TB là người mua đã song xuôi rồi Khi người công nhân lao động thì lao động của anh ta được tiến hành trong xí nghiệp nhà TB và thuộc về nhà

TB chứ k phải của công nhân

Ba là, nếu lao động là HH dẫn tới mâu thuẫn một trong hai vấn đề về sau:

- nếu lao động là HH và được trao đổi ngang giá thì nhà TB k có lợi điều này phủ nhận quy luật m

- còn nếu lao động là HH, trao đổi k ngang giá để thu được m thì lại phủ nhận quy luật giá trị

Ngày đăng: 27/04/2016, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w