PHẦN MỞ ĐẦU “LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN” Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những thách thức mới của thời đại cong nghiệp,
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
“LÍ DO CẦN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN”
Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những
thách thức mới của thời đại cong nghiệp, tri thức gắn liền với quá trình toàn cầu vàhội nhập quốc tế Đắc biệt khi Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO với 4 mụctiêu giáo dục là: “ Học để biết, để làm, để sống chung và để khẳng định ”
Trong thời đại mới đòi hỏi con người phải có cách nhìn mới , cách nghĩ mới
và những kiến thức, kĩ năng mới của thời đại Nghĩa là con người phải có khả năng
tư duy độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống, có năng lực sáng tạo và tinh thầnđổi mới để thích ứng với sư thay đổi thường xuyên, đa dạng, biến động bất ngờ củamôi trường hợp tác văn hoá của một thế giới toàn cầu hoá
Nền giáo dục mới là một nền giáo dục hiện đại, sử dụng rộng rãi công nghệthông tin và truyền thông, mạng máy tính và internet để tổ chức và triển khai quátrình dạy và học với những phương pháp và hình thức linh hoạt nhằm nâng cao nềntảng văn hoá và tinh thần chung của xã hội Mọi người có thể biết cách tự học, họcliên tục để có một nền giáo dục mở, liên thông, có khả năng hội nhập với nền giáodục chung của thế giới
Trang 2Trước bối cảnh xã hội ấy, chúng ta là những người thầy không thể là ngườingoài cuộc Là giáo viên đã từng tâm huyết với nghề dạy học ai cũng mong muốnmình thành công trong mỗi giờ lên lớp Để đạt được thành công đó ngoài khả năng
sư phạm, kiến thức của mỗi giáo viên, cần có sự tham gia đắc lực của đồ dùng dạyhọc: Đó là những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo, tranh ảnh, chân dung tácgiả hoặc tác phẩm, tranh vẽ phóng to từ sách giáo khoa, máy ghi âm, băng đĩa ghihình,… sẽ làm cho giờ học ngữ văn thêm sinh động
Những năm gần đây, khi mà xã hội đòi hỏi ngày càng cao, công nghệ thôngtin đang ứng dụng ngày càng nhiều vào các mặt của đời sống xã hội và đổi mờiphương pháp dạy học đang trở thành vấn đề quan tâm của các nhà giáo dục thì ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục đã phát huy được tính ưuviệt nổi trội so với các phương tiện khác
Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Ngữ Văn ởHuyện Hoài Đức ngày càng được nhiều trường áp dụng Trường THCS AnThượng chúng tôi còn rất nhiều bỡ ngỡ trong việc ứng dụng công nghệ thông tinvào trong giờ giảng dạy Ngữ Văn bởi vốn ngôn ngữ tiếng Anh có nhiều hạn chế,khả năng sử dụng thành thạo máy tính còn ít…Nhưng thấy được hiệu quả của việc
sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Ngữ Văn làm cho giờ dạy sinh độnghơn, học sinh hăng say hơn và khác phục được xu thế hiện nay học sinh thích họccác môn khoa học tự nhiên hơn học khoa học xã hội Từ suy nghĩ như vậy, mặc dùbản thân chưa có nhiều kiến thức về tin học và các phương tiện hiện đại nhưngchúng tôi cũng mạnh dạn thử sức trong lĩnh vực mới mẻ này Đó là lí do thôi thúc
Trang 3a PHẦN THỨ HAI:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIỜ DẠY NGỮ VĂN
I Cơ sở áp dụng.
1 Thực trạng của việc sử dụng thiết bị dạy học ở môn Ngữ Văn.
Từ trước đến ny môn Ngữ Văn là một trong những môn hcj rất ít được sửdụng phương tiện dạy học Đồ dùng dạy học đối với phần lớn giáo viên chỉ là cuốnsách giáo khoa, tập giáo án, viên phấn và một vài tranh ảnh cũng hết sức đơn sơ,nghèo nàn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưmg theo toi chủ yếu
do hai nguyên nhân sau:
Một (Nguyên nhân khách quan ): Môn Ngữ Văn là môn học ngôn từ, chủ
yếu là sử dụng ngôn từ, dùng nhiều trí tưởng tượng, liên tưởng để hiểu và cảmnhận hình tượng Vì thế mà một số người cho rằng không nên, không cần thiết phải
sử dụng giáo cụ trực quan hay thiết bị dạy học gì
Cũng xuất phát từ nhận thức ấy mà từ trước đến nay việc đầu tư cho thiết bịdạy học ở môn Ngữ Văn dường như khống có Hoặc nếu có thì cũng chỉ là vài bứctranh dân gian, mấy bức chân dung các nhà văn, nhà thơ kèm theo bản chụp bìacác tác phẩm của họ
Hai (Nguyên nhân chủ quan ): Một số giáo viên chưa nhận thức hết được
vai trò và tác dụng của đồ dùng dạy học, chưa đầu tư nhiều về phương hướng vàcách thức sử dụng phương tiện một cách hiệu quả, chưa chịu khó sưu tầm và tựtậócc thiết bị dạy học cho phù hợp
Trang 4Gần đây việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông đã đượctriển khai đồng bộ (từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện kiểm tra,đánh giá) Vì vậy, việc sử dụng thiết bị dạy học trong môn Ngữ Văn đã có nhiềuchuyển biến tích cực.
2 Công nghệ thông tin và dạy học Ngữ Văn.
a- Ưu điểm.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ Văn có những ưu điểm
rõ rệt Bởi lẽ, “văn học là nhân học” , tức là học về con người, học làm người MônNgữ Văn không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức về văn chương mà còn mangmột sứ mạng cao cả là bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách cho học sinh
Vậy mà không ít học sinh ngày nay lại thờ ơ với môn Văn, thậm chí NgữVăn còn trở thành môn học chán ngán, đáng sợ Tại sao lại như vậy? Theo tôi cónhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về người lớn
Lâu nay chúng ta quen đi lối mòn là dạy cho học sinh “học để thi” chứkhông phải “học để biết,để thực hành vận dụng vào cuộc sống” Do đó, giờ Văn trởnên khô cứng và áp đặt Hơn nữa, chính người thầy đôi lúc cũng không còn hứngthú với những bài giảng đã được đóng khung chi tiết đến từng phút một, lên lớp màluôn lo âu, sợ cháy giáo án, không kịp chương trình, rồi thì kết quả thi không đạtchỉ tiêu thi đua… Chính những lo âu ấy đã triệt tiêu năng lực sáng tạo của ngườithầy
Việc thay dổi quan điểm dạy học không chạy theo thành tích, cùng với
Trang 5đổi mới phương pháp dạy học Theo tôi, người dạy Vănphải thay đổi phương phápcũng giống như người đầu bếp phải thay đổi món ăn sao cho phù hợp với khẩu vị
để kích thích những học trò “vừa biếng ăn, vừa suy dinh dưỡng” khiến chúngthưởng thức văn chương một cách vui vẻ và hào hứng Cùng với công nghệ thôngtin, người thầy có thể tạo ra những món ăn hấp dẫn và bổ dưỡng, giờ dạy khôngcòn là bảng đen, phấn trắng mà các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính,máy chiếu và một số phần mềm tiện ích sẽ giúp người thầy làm được điều đó,khiến cho học sinh yêu thích và đến với môn Văn mà không cần ép buộc chúng
“học Văn”
Phương pháp dạy học mới và sự trợ giúp của công nghệ thông tin đã mangđến cho giờ dạy học Văn một không khí mới
Thứ nhất: Công nghệ thông tin góp phần nâng cao tiềm lực của giáo viên,
cung cấp cho họ những phương tiện hiện đại Từ các phương tiệnđó giáo viên khaithác thông tin, cập nhập và trao đổi thông tin, bổ sung và tự làm giàu vốn tri thứccủa mình từ một số phương tiện chủ yếu như: mạng internet, các loại từ điển điện
tử, sách điện tử, thư điện tử…
Hiện nay chúng ta đã có rất nhiều tài nguyên dạy và học của các địa phương,của Bộ giáo dục – đào tạo Trên những trang web này dành cho tất cả giáo viên.Giáo viên có thể giới thiệu đè cương hoặc bài giảng của mình, trình bày những ýtưởng và cách thức tổ chức bài học của mình để cùng trao đổi với đồng nghiệp
Đối với giáo viên, việc soạn bài với những ứng dụng công nghệ thông tincũng mang lại những hiệu quả khác biệt Giáo viên thường xuyên cạp nhạp kiếnthức về chuyên môn, tin họcđể tự nâng cao tay nghề Đặc biệt khi bắt tay vào soạn
Trang 6một bài dạy có vận dụng công nghệ thông tin người giáo viên thực sự bị cuốn hút
và càng làm nhiều thì càng thích thú, đồng thời nảy sin những ý tưởng mới Từ đólòng yêu nghề và sự sáng tạo cũng được bồi đắp thêm
Và điều quan trọng nhất là học sinh không còn sợ và ghét học môn Văn nữa.Đây chính là điều kiện cần thiết để văn chương thực thi sứ mạng giáo dục nhâncách, bồi dưỡng tâm hồn cho các em Thật vậy, nếu học sinh không thích học Vănthì làm sao các em lĩnh hội được những bài học về cuộc sống, làm người đuợc ẩnchứa trong tác phhẩm văn chương
Thứ hai: Công nghệ thông tin góp phần đổi mới cách dạy, cách học, đổi
mới phương pháo dạy học Để làm được điều đó, cần chú ý đến phương tiện dạyhọc
Công nghệ thông tin là một trong những phương tiện quan trọng giúp choviệc đổi mới phương pháp bằng việc soạn thảo và ứng dụng các phần mềm dạyhọc Bài học sẽ trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh do có nhiều hìnhảnh minh hoạ sống động, cụ thể bằng các hìmh ảnh, phông nền, phông chữ, biểubảng giúp học sinh hệ thống, khái quát bài học cùng với những lời giảng bình liên
hệ khắc sâu kiến thức của giáo viên
Giáo viên không còn độc diễn mà phối hợp nhịp nhàng cùng hệ thống hìnhảnh, câu hỏi, chất liệu trên máy để giảng, phân tích, bình giảng khiến giờ học trởnên sinh động, khả năng tiếp thu kến thức cao hơn trước
b- Phân biệt giáo án điện tử và bài giảng điện tử.
Trang 7* Giáo án điện tử: Theo cách hiểu của chúng tôi, giáo án điện tử là giáo án
được soạn bằng máy tính, có thể in ra thay thế giáo án viết tay Trong giáo án điện
tử có chứa nội dung trình chiếu, mô phỏng
*Bài giảng điện tử:Là những nội dung kiến thức, bài giảng của tiết dạy GV
đưa vào máy tính,được lưu trữ ở dạng điện tử
Nếu coi GAĐT là một kịch bản thì bài giảng là vở kịch đã được công diễn.Như vậybài giảng là việc GV thực hiện GA trên lớp cùng với HS Tuy nhiên bàigiảng điện tử thường đi cùng với việc phát huy những thế mạnh ưu điểm của côngnghệ thông tin trong việc thực hiện GA trên lớp của GV
3- Quy trình xây dựng bài giảng Ngữ Văn trên máy tính.
Trước hết cần lựa chọn chủ đề thích hợp.Không phải chủ đề nào cũng cầntới bài giảng điện tử.Chủ đề thích hợp là chủ đề có thể dùng bài giảng điện tử để
hỗ trợ thích hợp và sáng tạo ra hiệu quả day học tốt hơn so với việc sử dụng thiết
bị day học truyền thống Tôi xây dựng bài giảng theo trình tự sau:
1- Tìm hiểu nội dung kiến thức bài dạy
2- Soạn bài ra giấy những nội dung kiến thức đó, xây dựng kich bản để thiết
kế trên máy
3- Thu thập tài liệu, hình ảnh minh hoạ để mở rộng kiến thức đưa vào kịchbản
4- Thể hiện kịch bản trên máy tính
5- Điều chỉnh và kiểm tra
Trang 8C - NỘI DUNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
“ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO BÀI GIẢNG NGỮ VĂN”
Văn bản
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
Phạm Tiến Duật
Bước 1: Soạn ra giấy ( gồm bước 1, 2, 3)
Đây là bước đầu tiên của bất kì người GV nào khi soạn giảng, bởi lẽ nó giúpngười GV định hướng được nội dung, yêu cầu, trọng tâm kiến thức bài dạy để từ
Trang 9đó xây dựng hệ thống câu hỏi từ phát hiện phân tích giảng bình khai tháctrình tự nôịi dung kiến thức bài dạy.
* Giúp HS hiểu được:
- Cảm nhận được nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe khôngkính, cùng hình ảnh những chiến sĩ lái xe TS hiên ngang, dũng cảm sôi nổi trongbài thơ
- Thấy được những nét riêng của giọng điệu ngôn ngữ bài thơ
- Rèn kĩ năng phân tích hình ảnh ngôn ngữ bài thơ
* Chuẩn bị của GV + HS
GV: Sưu tầm tranh ảnh tác giả, tác phẩm và một số hình ảnh trong chiến
tranh liên quan đến ND bài thơ, soạn ra giấy, vào máy ND trình chiếu…
HS: Soạn bài chuẩn bị theo yêu cầu ND tiết học.
* Lên lớp
1 Ổn định tổ chức
2 Kiểm tra bài cũ: Tình đồng chí, đồng đội được thể hiện như thế nào
trong bài thơ “ Đồng chí” của Chính Hữu
3 Bài mới
Giới thiệu bài: GV đẫn dắt vào bài thông qua hình ảnh minh hoạ trên mànhình
Trang 10Ngữ văn Bài 10 : Tiết 47
Văn bản: Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Trang 11“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” viết
năm 1969, in trong tập “Vầng trăng quầng
lửa”
Trang 12c) Giải nghĩa từ:
2/ Đọc, tỡm hiểu chung
Thể thơ: Tự do
Nhan đề: khác lạ, độc đáo cho thấy cách
khai thác hiện thực đầy chất thơ của tác giả
II/ Phân tích văn bản
1/ Hỡnh ảnh những chiếc xe khụng kớnh
“ Khụng cú kớnh khụng phải vỡ xe khụng cú kớnh
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Trang 13“Không có kính, rồi xe không có đènKhụng cú mui xe, thùng xe có xước”
→ Xe không kính là do hiện thực chiến trường ác liệt nguy hiểm gây nên
2/ Hình ảnh người chiến sĩ lái xe Trường Sơn
+ Tư thế:
“Ung dung buồng lỏi ta ngồiNhỡn đất, nhỡn trời, nhỡn thẳngNhỡn thấy giú vào xoa mắt đắngNhỡn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa như lùa vào buồng lái.”
Trang 14→ Tư thế hiên ngang, bình tĩnh, tự tin, chủ động đối mặt với khó khăn gian khổ, tâm hồn lóng mạn, tỡnh yờu và sự gắn bú với thiờn nhiờn, với con đường ra trận của người chiến sĩ.
+ Thái độ tinh thần:
Khụng cú kớnh, ừ thỡ cú bụiBụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa phỡ phốo chõm điếu thuốcNhỡn nhau mặt lấm cười ha ha
Khụng cú kớnh, ừ thỡ ướt áoMưa tuôn mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
Giọng thơ ngang tàng, lặp cấu trúc, câu phủ định
Trang 15→ Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường nguy hiểm với tinh thần lạc
quan yêu đời vượt lên gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ của người lính.
+ Tỡnh cảm:
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đó về đây họp thành tiểu đội”
Họ là một đại gia đỡnh lớn gắn kết với nhau qua bom đạn chiến tranh
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kớnh vỡ rồiBếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Trang 16Chung bát đũa nghĩa là gia đỡnh đấyVừng mắc chụng chờnh đường xe chạyLại đi, lại đi trời xanh thêm
→ Tỡnh đồng chí, đồng đội đó trở thành thiờng liờng, mỏu thịt
Họ là những người lính trẻ trung, sôi nổi, lạc quan vượt lên trên mọi gian lao của cuộc chiến ác liệt
Điệp từ “Lại đi”: Mệnh lệnh thôi thúc các anh lên đường
+ Tinh thần yêu nước:
Vật chất > < Tinh thần
Trang 17Không có kính, không đèn,
không mui xe, thùng xe xước
Hiện thực tàn phỏ khốc liệt của
chiến tranh
Một trái tim yêu nước
=> Hoỏn dụ
Khát vọng giải phóng miền nam, thống nhất đất nước của người lính.
→ Vẻ đẹp của lũng trung thành với lớ tưởng cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở người lính
+ Phẩm chất đẹp đẽ của người chiến sĩ lái xe:
- Tư thế hiên ngang
- Tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm
- Tỡnh cảm đồng chí đồng đội gắn bó, thiêng liêng
- Trái tim yêu nước nồng nhiệt, ý chí khát vọng giải phóng Miền Nam thống nhấtđất nước
Trang 18Sài Gòn trong ngày giải phóng
Trang 19III/ Tổng kết: Ghi nhớ ( SGK- Trang 133)
Lễ ăn mừng chiến thắng tại Sài Gòn
Bức ảnh cuối cựng của nhà thơ chụp trước lúc
Trang 20- Tiểu đội xe không kính.
Giống nhau ở điểm nào ?
A - Cựng viết về đề tài người lớnh
B - Cựng viết theo thể thơ tự do
C - Cựng núi lờn sự hy sinh của người lớnh
Trang 21- Học thuộc lũng bài thơ.
- Chuẩn bị bài tiếp theo
D - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Mặc dù không thể phủ nhận tính năng ưu việt, sự hiện đại và lợi ích nổi trộicủa việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy Ngữ Văn, xong người giáo viên cần phảichú ý 1 số điểm sau:
1 Hướng dẫn cụ thể cho HS cách chuẩn bị tư liệu, soạn bài
2 Nắm vững trình độ HS để đưa ra các câu hỏi và bài tập phù hợp, hướngdẫn thảo thuận kết hợp với ND trên máy, lời giảng , bình của GV để HSghi bài chủ động, sáng tạo
Trang 223 Khâu soạn bài của GV giảng đặc biệt chú ý , chuẩn bị chu đáo lườngtrước những tình huống khó Đối với các câu hỏi thảo luận, bài tập sángtạo,GV phải chuẩn bị kiến thức để bình sâu chi tiết đặc sắc, trọng tâm.
4 Việc ứng dụng CNTT vào dạy Ngữ Văn gây hứng thú cho HS TB, yếu.Với những câu hỏi thảo luận khó, các em còn lúng túng, rủtè, hạn chếtham gia thảo luận, GV cần có cách gợi mở, động viên để các em hứngthú tham gia hoạt động
5 Để SD máy thành thạo trong quá trình giảng dạy GV cần phải tập luyệncác thao tác trên máy, dự kiến các tình huống và cách xử lí
Tóm lại GV ứng dụng CNTT vào giảng dạy NV là rất cần thiết và hữu ích.Nhưng việc SD như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong giờ dạy là cả 1 vấn đềlớn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan Trong đó quan trọng nhất làtrình độ kiến thức, khả năng linh hoạt sáng tạo của người thầy
III KẾT LUẬN
* Những kiến nghị - đề nghị sau quá trình thực hiện đề tài:
Đề nghị với các cấp lãnh đạo tăng cường đầu tư các trang thiết bịdạy học
đặc biệt đối với bộ môn NV để người GV có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu đổi mớicủa quá trình dạy học
Trên đây là một vài suy nghĩ của tôi về việc ứng dụng CNTT trong giảng