Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực phát triển của các thành phần, các chủ thể kinh tế cùng tham gia kinh doanh. Động lực cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp cải tiến thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý để ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá và của doanh nghiệp của mình. Tác giả: Trịnh Minh Anh Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế
Trang 1TRIỂN KHAI LUẬT CẠNH TRANH TRONG THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Tác giả: Trịnh Minh Anh Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban Quốc gia
về Hợp tác Kinh tế Quốc tế
I GIỚI THIỆU CHUNG
Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế
từ khi Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đề ra đường lối đổi mới toàn diện
và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế Kể từ đó, tiến trình phát triển kinh
tế, xã hội của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Chúng ta đãthực hiện chủ trương chuyển toàn bộ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sangnền kinh tế thị trường theo định hướng XNCN, đặt tất cả doanh nghiệp vàomôi trường cạnh tranh, lấy hiệu quả kinh tế là mục tiêu của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực phát triểncủa các thành phần, các chủ thể kinh tế cùng tham gia kinh doanh Động lựccạnh tranh kích thích các doanh nghiệp cải tiến thiết bị, công nghệ, phươngthức quản lý để ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá và của doanh nghiệp của mình
Trong bất kỳ nền kinh tế nào, nếu không có sự quản lý, điều tiết hiệuquả bằng chính sách, luật pháp thì rất dễ làm phát sinh độc quyền Khi mởcửa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường thì quátrình tích tụ tư bản dẫn tới sự hình thành các tập đoàn kinh tế có khả năngchi phối hoạt động kinh doanh, sản xuất, cung ứng và giá cả trên thị trường.Độc quyền có thể hình thành từ việc doanh nghiệp có ưu thế về vốn, quy môsản xuất, thậm trí quyền lực chính trị, xã hội để độc quyền sản xuất, hay
Trang 2nhập khẩu một loại sản phẩm nhất định Độc quyền có thể có được từ việcdoanh nghiệp có ưu thế về kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất và kinh doanh.Độc quyền sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế Nếu doanhnghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền để hạn chế sản lượng, tăng giábán thì sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng Độc quyền làm cản trở cạnhtranh lành mạnh, giảm động lực phát triển của nền kinh tế và hạn chế tự dokinh doanh
Vì thế, để đảm bảo cho thị trường có sự cạnh tranh lành mạnh, đúnghướng, các nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới đều có chính sáchluật pháp điều tiết hoạt động cạnh tranh trên thị trường để ngăn ngừa sự hìnhthành độc quyền, duy trì cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo công bằng, bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ cho các doanh nghiệp yếu hơn, kémhơn khi bị chèn ép Điều này nhằm mục tiêu ngăn ngừa tình trạng thao túngthị trường của một hay một vài doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nào đó
Không phải đợi hội nhập, hay sức ép của việc gia nhập WTO mà ngay
từ Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát
triển, hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý
và thể chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh” và “Mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” Thêm vào đó, Nghị quyết Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ 3, khoá IX đã chỉ rõ: “Thực hiện độc quyền nhà nước
trong những lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp ”.
Thực hiện chủ chương đúng đắn đó của Đảng, với việc phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần, chúng ta đã từng bước xoá bỏ sự độc quyền của
Trang 3các doanh nghiệp nhà nước và tạo lập được môi trường kinh doanh bìnhđẳng cho tất cả các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường Điều này đãtạo động lực cho nền kinh tế Việt Nam phát triển lành mạnh và đúng hướng.
Để trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) Việt Nam đã phải mất hơn 11 năm đàm phán và sửa đổi, bổsung chính sách kinh tế thương mại của mình Trong số những nguyên tắcchủ đạo của WTO thì nguyên tắc không phân biệt đối xử và cạnh tranh bìnhđẳng có vai trò cực kỳ quan trọng Là Thành viên của WTO, Việt Nam bắtbuộc phải thực hiện nguyên tắc này Hơn thế nữa, để đảm bảo có được mộtmôi trường kinh doanh bình đẳng, ngay từ trước khi gia nhập, trong số hàngtrăm văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam phải sửa đổi, bổ sung và xâydựng mới có Luật Cạnh tranh Ngày 03/12/2004, Quốc hội Việt Nam đãthông qua Luật Cạnh tranh và Luật này đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2005
Có thể nói, Luật Cạnh tranh là “luật mẹ”, là luật quan trọng nhất củanền kinh tế thị trường Nói cách khác, nếu không có cơ chế cạnh tranh thìnền kinh tế thị trường khó có thể vận hành một cách trơn chu được Tuynhiên, việc triển khai luật cạnh tranh trong thực tế là một việc không hề dễdàng vì thực tiễn nền kinh tế thị trường ở Việt Nam mới đang ở giai đoạnđầu của sự phát triển Nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh khônglành mạnh đã chưa được nhận diện đúng đắn và có biện pháp xử lý kịp thời.Thêm vào đó, bộ máy quản lý cạnh tranh cũng còn nhiều bất cập
Vì những lý do nói trên, việc tìm hiểu về Luật cạnh tranh để tạođiều kiện cho việc áp dụng các chế định của nó trên thực tế là việc làm hếtsức cần thiết để nền kinh tế Việt Nam phát triển lành mạnh, đúng hướng vàbảo vệ được các quyền lợi của người tiêu dùng, tạo lập và duy trì môi trườngkinh doanh lành mạnh, bình đẳng cho tất cả các chủ thể kinh tế trên thịtrường
Thêm vào đó, triển khai tốt Luật Cạnh tranh chính là để triển khaitốt việc thực hiện cam kết WTO và các cam kết hội nhập kinh tế quốc tếkhác; và còn giúp các chính sách quản lý kinh tế của chúng ta ngày càng
Trang 4hoàn thiện theo hướng phù hợp với các định chế luật pháp của WTO và để
nền kinh tế Việt Nam vận hành đúng theo cơ chế thị trường Việt Nam đang
nỗ lực chứng minh với WTO và thế giới thấy nền kinh tế Việt Nam cởi mở,hấp dẫn, đang đổi thay, để các nước, đặc biệt là các thị trường quan trọngsớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường (Theo cam kết WTO,
Việt Nam phải chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12
năm kể từ ngày gia nhập, có nghĩa là không muộn hơn 31/12/2018)1 Tuynhiên, tại bất kỳ thời điểm nào và đối với bất kỳ đối tác nào, nếu Việt Namchứng minh được là nền kinh tế Việt Nam đã vận hành theo cơ chế thịtrường thì đối tác đó có thể công nhận Việt Nam trước thời hạn 31/12/2018.Hiện nay đã có Trung Quốc, 9 nước ASEAN, Chi Lê công nhận Việt Nam
là nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng đang tích cực đàm phán để có được
sự công nhận này từ EU và các thị trường quan trọng khác
II KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
1 Khái niệm cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là một khái niệm gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế
thị trường Theo Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992, “cạnh tranh là sự
ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Từ điển Tiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông cũng có cách
giải thích cạnh tranh tương tự, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà sảnxuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tếnhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất Nhưvậy, cạnh tranh xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, là độnglực thúc đẩy nền kinh tế thị trường, là xu thế tất yếu khách quan
1 Các Văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam, phần cam kết cạnh tranh, UBQG-HTKTQT xuất bản năm 1996.
Trang 5Ở Việt Nam cạnh tranh là một khái niệm khá mới mẻ Quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN và hộinhập kinh tế quốc tế đã tạo ra việc thích ứng với những quy luật mang thuộctính vốn có của kinh tế thị trường, trong đó phải kể đến yếu tố cạnh tranh.Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, là cơ sở quan trọngbảo đảm cho tự do kinh doanh hợp pháp và mang lại lợi ích thiết thực chongười tiêu dùng.
Với việc trở thành Thành viên của WTO, Việt Nam phải đối mặt vớinhiều khó khăn, thách thức Có lẽ khó khăn nhất của Việt Nam là cam kếtphải mở cửa thị trường dịch vụ Việt Nam đã cam kết mở cửa tất cả 11ngành dịch vụ và khoảng 110 phân ngành2 Với các cam kết này, Việt Namphải đối mặt với những thách thức rất lớn do có nhiều hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh, phức tạp đã, đang và sẽ xuất hiện trên thị trường Để cạnhtranh trên thương trường, các doanh nghiệp không dừng lại ở mức độ nhữnghành vi cạnh tranh không lành mạnh nhỏ, lặt vặt như nói xấu, dèm pha đốithủ cạnh tranh, quảng cáo, khuyến mại không trung thực, quấy rối hoạt độngkinh doanh v.v Thực tế đã xuất hiện những hành vi cạnh tranh không lànhmạnh, hạn chế cạnh tranh có tổ chức như thỏa thuận phân chia thị trường,thỏa thuận về ấn định giá, các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, vị trí thốnglĩnh thị trường và lạm dụng quá trình tập trung kinh tế thông qua việc sápnhập, hợp nhất, liên doanh, mua lại các doanh nghiệp.v.v
Sau khi gia nhập WTO, về phía các cơ quan quản lý nhà nước, để xâydựng nền kinh tế thị trường, cũng như các nước khác, Việt Nam cũng cầnphải sử dụng pháp luật cạnh tranh như một công cụ vận hành nền kinh tế thịtrường một cách hiệu quả Sử dụng được cạnh tranh như một cơ chế vậnhành nền kinh tế thì mới có thể làm lành mạnh môi trường kinh doanh, tạo ra
sự tin tưởng cho các doanh nghiệp, để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sảnxuất, kinh doanh, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
2 Theo phân loại của Liên hợp quốc.
Trang 6Đối với các doanh nghiệp, trong nền kinh tế mở và hội nhập, việc hiểu
rõ pháp luật về cạnh tranh sẽ giúp họ tự điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinhdoanh của mình tránh những hành vi cạnh tranh không lành mạnh Hơn thếnữa, qua đó, các doanh nghiệp còn có thể tự bảo vệ, hoặc yêu cầu các cơquan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ họ trước những hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh, vi phạm pháp luật
Trên cơ sở đó, tài liệu tập huấn này sẽ giới thiệu pháp luật cạnh tranhdưới góc độ như là một công cụ hữu hiệu giúp các cán bộ toà án xác định rõràng các hành vi cạnh tranh phù hợp với pháp luật và các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh trái pháp luật Trong nền kinh tế hướng về thị trường, môitrường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn, nhưng cũng ngày càng khốc liệthơn với việc Việt Nam cam kết mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ đểthực hiện các cam kết gia nhập WTO thì cũng ngày càng nhiều hành vi cạnhtranh không bình đẳng có thể xuất hiện cản trở sự phát triển của nền kinh tế
Từ đó, các cán bộ và toà án các cấp có thể nắm rõ quy trình khiếu nại, xử lýcác hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo đúng trình tự, thủ tục giảiquyết vụ việc cạnh tranh được pháp luật cho phép
2 Các thuật ngữ cơ bản về cạnh tranh
2.1 Hiểu thế nào là cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo:
- Cạnh tranh: là sự ganh đua, giành giật các điều kiện ưu đãi trên
thị trường của các doanh nghiệp Cạnh tranh thường diễn ra ở cácdoanh nghiệp có sự độc lập về lợi ích với nhau Các doanh nghiệpcung cấp cùng một chủng loại hàng hoá, dịch vụ trên một thịtrường được gọi là đối thủ cạnh tranh của nhau Các doanh nghiệpthường cạnh tranh về giá bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Cạnhtranh với nhau về chất lượng dịch vụ, mẫu mã, kiểu dáng, dịch vụ
Trang 7hậu mãi như bảo hành sản phẩm, tư vấn cho khách hàng… cạnhtranh bằng quảng cáo, khuyến mại…
- Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh bằng các cách thức phù hợp
với các quy định pháp luật và các chuẩn mực, đạo đức kinh doanhthông thường
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh: là hành vi cạnh tranh của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thôngthường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệthại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanhnghiệp khác hoặc người tiêu dùng Theo quy định của Luật cạnhtranh Việt Nam, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm 9nhóm hành vi sau3:
(iii) Ép buộc trong kinh doanh;
(v) Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
(viii) Phân biệt đối xử của hiệp hội;
- Hành vi hạn chế cạnh tranh: là hành vi của doanh nghiệp làm
giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồmthoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườnghoặc vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
- Cạnh tranh hoàn hảo: là tình trạng cấu trúc thị trường trong đó
tồn tại nhiều đối thủ cạnh tranh cùng bán loại hàng hoá, sản phẩm
3 Điều 39 Luật cạnh tranh.
Trang 8hay dịch vụ giống nhau và không có đối thủ nào có đủ sức mạnhvượt trội để tác động điều chỉnh giá cả trên thị trường.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là tình trạng cấu trúc thị trường
trong đó tồn tại một hay một vài đối thủ cạnh tranh có đủ khả năngtác động điều chỉnh giá cả trên thị trường theo ý muốn của mìnhhay điều chỉnh họ phải sử dụng sản phẩm của mình mà không thể
sử dụng sản phẩm của đối thủ (ví dụ trường hợp phần mềm củaMicrosoft: đã sử dụng một chương trình, phần mềm của họ là bắtbuộc khi nâng cấp phải sử dụng đúng phần mềm của đúng hãngđó)
2.2 Thị trường liên quan:
Thị trường liên quan là khái niệm được sử dụng trong phân tích cạnhtranh để chỉ giới hạn thị trường nơi diễn ra các hoạt động cạnh tranh thuộc
sự quan tâm của pháp luật cạnh tranh Thị trường liên quan được cấu thànhbởi hai loại giới hạn cơ bản là giới hạn về sản phẩm (loại hàng hoá, dịch vụ)
và giới hạn về phạm vi, không gian địa lý, khu vực địa lý Đó là: thị trườngsản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan:
2.2.1 Thị trường sản phẩm liên quan: là thị trường của những hàng
hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giácả:
- Căn cứ để xác định đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả của
hàng hóa, dịch vụ cũng như “thuộc tính có thể thay thế cho
nhau” được quy định tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày
15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật Cạnh tranh (Điều 5) Đặc tính của hàng hoá, dịch vụ đượcxác định theo một hoặc một số căn cứ sau: tính chất vật lý; tínhchất hoá học; tính năng kỹ thuật; tác dụng phụ của sản phẩm;khả năng hấp thụ Mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch vụ,
Trang 9được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng thông thường nhấtcủa hàng hoá , dịch vụ đó Giá cả của hàng hoá, dịch vụ, là giághi trong hoá đơn bản lẻ.
- Ngoài cách xác định thị trường sản phẩm liên quan nêu trên,
trong một số trường hợp đặc biệt, thị trường sản phẩm liên quancòn có thể được xác định là thị trường của một loại sản phẩmđặc thù hoặc một nhóm các sản phẩm đặc thù căn cứ vào cấutrúc thị trường và tập quán của người tiêu dùng Trong trườnghợp này, việc xác định thị trường sản phẩm liên quan có thểxem xét thêm thị trường của các sản phẩm bổ trợ cho sản phẩmliên quan
2.2.2 Thị trường địa lý liên quan: là một khu vực địa lý cụ thể trong
đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiệncạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP (khoản 3 Điều 7), khu vực địa lý đượccoi là có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với các khu vựcđịa lý lân cận nếu thỏa mãn một trong các tiêu chí sau:
- Chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng
hóa tăng không quá 10%; hoặc
- Có sự hiện diện của một trong các rào cản gia nhập thị trường
như: rào cản từ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng côngnghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật về
sở hữu công nghiệp; rào cản về tài chính bao gồm chi phí đầu tưvào sản xuất, phân phối, xúc tiến thương mại hoặc khả năngtiếp cận với các nguồn cung cấp tài chính; quyết định hànhchính của cơ quan quản lý nhà nước; quy định về điều kiện kinhdoanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, các chuẩn mực nghề nghiệp;thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu; tập quán của ngườitiêu dùng v.v
Trang 102.3 Tập trung kinh tế:
Tập trung kinh tế là việc hai hay nhiều doanh nghiệp độc lập liên kết,tích tụ tư bản, nguồn lực phục vụ cho lợi ích chung của hai bên Theo Luậtcạnh tranh, tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp gồm: (i) sáp nhậpdoanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv)liên doanh giữa các doanh nghiệp; và (v) các hành vi tập trung kinh tế kháctheo quy định của pháp luật
2.4 Thị phần:
Thị phần: là tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường của một doanh nghiệp trên
một thị trường nhất định Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hànghóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanhnghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loạihàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữadoanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất
cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trườngliên quan theo tháng, quý, năm
Thị phần kết hợp: là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các
doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trungkinh tế
Thị phần của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp trong tổng thịphần về một hàng hóa, dịch vụ nhất định trên thị trường liên quan là căn cứ
để xác định các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm; xác định doanhnghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường; xác định cáctrường hợp tập trung kinh tế bị cấm
2.5 Vụ việc cạnh tranh:
Trang 11Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật
Cạnh tranh, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy địnhcủa pháp luật
Theo pháp luật cạnh tranh, các vụ việc hạn chế cạnh tranh và cạnhtranh không lành mạnh đều phải được điều tra thông qua một thủ tục chặtchẽ: điều tra sơ bộ và điều tra chính thức Đối với các vụ việc hạn chế cạnhtranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh cónhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết thông qua Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh; đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, Cục Quản lý cạnhtranh sẽ quyết định xử lý trên cơ sở quyết định điều tra
II CÁC CHẾ ĐỊNH CƠ BẢN CỦA LUẬT CẠNH TRANH
1 Vụ việc cạnh tranh
Luật Cạnh tranh của Việt Nam quy định vụ việc cạnh tranh bao gồm
hai nhóm hành vi: (i) hành vi hạn chế cạnh tranh và (ii) hành vi cạnh tranh
không lành mạnh Khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa và hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và toàn cầu thì việc kiểm soát và ngăn chặn những hành vihạn chế cạnh tranh trái pháp luật này là rất cần thiết
1.1 Hành vi hạn chế cạnh tranh:
Trong hai nhóm hành vi nói trên, nhóm hành vi hạn chế cạnh tranhthường xuất hiện và phát triển trong điều kiện nền kinh tế đã đạt được mộttrình độ nhất định Luật Cạnh tranh quy định ba loại hành vi được coi là hạnchế cạnh tranh là:
• Thoả thuận hạn chế cạnh tranh;
• Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền; và
• Tập trung kinh tế.4
1.1.1 Thoả thuận hạn chế cạnh tranh:
4 Điều 3 Luật Cạnh tranh
Trang 12Thoả thuận hạn chế cạnh tranh có thể được hiểu là thoả thuận giữacác doanh nghiệp độc lập với nhau về lợi ích kinh tế có mục đích hoặc tácđộng làm giảm hoặc bóp méo quá trình cạnh tranh trên thị trường Cácdoanh nghiệp tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh có thể là đối thủ cạnhtranh với nhau trên thị trường, đó là thoả thuận ngang; hoặc là các doanhnghiệp thuộc các công đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh từ sản xuất,phân phối đến tiêu dùng.
Luật Cạnh tranh Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào là thoảthuận hạn chế cạnh tranh mà Luật cạnh tranh liệt kê 8 loại thoả thuận đượccoi là hạn chế cạnh tranh, bao gồm:
(i) Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp kháctham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
(ii) Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không
phải là các bên của thoả thuận;
(iii) Thoả thuận thông đồng cho một trong các bên thoả thuận thắng
thầu trong cung cấp hàng hoá, dịch vụ
(iv) Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp;
(v) Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng
hoá, cung ứng dịch vụ;
(vi) Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản
xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;
(vii) Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu
tư;
(viii) Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp
đồng, mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khácchấp nhận các nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến đối tượng củahợp đồng
Trang 13Theo tinh thần của Luật cạnh tranh thì thoả thuận hạn chế cạnh tranh
là thoả thuận giữa hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh (gọi chung làdoanh nghiệp) có tác động làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thịtrường
Luật cạnh tranh không quy định về hình thức thoả thuận (bằng vănbản hay bằng miệng) cũng như mục đích của thoả thuận, do đó khi xem xétmột thoả thuận có bị coi là hành vi hạn chế cạnh tranh hay không thì khôngnhất thiết phải xem xét yếu tố hình thức của thoả thuận (thoả thuận đó cóđược lập thành văn bản hay không) và động cơ của thoả thuận đó (thoảthuận đó có nhằm mục đích hạn chế sự cạnh tranh của doanh nghiệp kháckhông), mà chỉ cần đối chiếu xem thoả thuận đó có mục đích thực hiện mộthoặc một số hành vi nêu tại Điều 8 của Luật hay không
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không phải bất kỳ thoả thuận nào(được quy định tại Điều 8) đều bị coi là trái pháp luật Có hai loại thoả thuậnhạn chế cạnh tranh:
• Thoả thuận bị coi là trái pháp luật một cách đương nhiên; và
• Thoả thuận bị coi là trái pháp luật có điều kiện
1.1.1.1 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị coi là trái pháp luật một cách đương nhiên, gồm:
(i) Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác thamgia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
(ii) Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải
là các bên của thoả thuận;
(iii) Thoả thuận thông đồng cho một trong các bên thoả thuận thắng
thầu trong cung cấp hàng hoá, dịch vụ
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh thuộc nhóm này đương nhiên bị cấmtrong mọi trường hợp và không có ngoại lệ
Trang 14Trong 3 loại thỏa thuận trên, thoả thuận "thông đồng để một hoặc các
bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ" là một trong những thoả thuận được pháp luật cạnh tranh của các quốc
gia trên thế giới quy định chặt trễ và đưa vào dạng "thoả thuận đen"5 Đối
với các quốc gia chưa ban hành Luật Cạnh tranh thì hành vi "thông đồng
đấu thầu" cũng được nghiêm cấm tại các văn bản quy phạm pháp luật khác,
thậm chí nhiều nước còn coi hành vi này là vi phạm pháp luật hình sự và các
chủ thể tham gia "thông đồng đấu thầu" phải chịu mức hình phạt khá nặng.
1.1.1.2 Thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị coi là trái pháp luật có điều kiện, gồm:
(i) Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặcgián tiếp;
(ii) Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng
Mặc dù những thoả thuận thuộc nhóm này (từ điểm (i) đến điểm (v)nêu trên) bị coi là thoả thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng dựa vào tính chấtcủa các thoả thuận đó cho nên Luật Cạnh tranh quy định: các thoả thuận nàychỉ bị cấm khi thị phần kết hợp của các bên tham gia thoả thuận trên thịtrường liên quan chiếm ít nhất là 30%, trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủcho phép được tiến hành các thoả thuận khi đáp ứng điều kiện nhất định quyđịnh tại Điều 10 của Luật và nhằm mục đích hạ giá thành và có lợi cho
5 Theo Cơ sở khoa học xác định mức độ hạn chế cạnh tranh của các thoả thuận và các tiêu chí cho phép miễn trừ trong Luật cạnh tranh Đề tài khoa học mã số 2003-78-009, Bộ Thương mại, tr.45.
Trang 15người tiêu dùng Do đó, khi xem xét khiếu nại về các thoả thuận hạn chếcạnh tranh nêu từ mục (i) đến mục (v) nêu trên thì cơ quan có thẩm quyềncần phải xem xét hai yếu tố khác: thị phần của các bên thoả thuận chiếm baonhiêu phần trăm thị trường liên quan; và có quyết định của Thủ tướng Chínhphủ cho phép miễn trừ đối với thoả thuận đó trước thời điểm thoả thuận haykhông.
Trong các thỏa thuận nêu trên, thỏa thuận “ấn định giá hàng hoá, dịch
vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp” và thỏa thuận “phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ” là những thỏa thuận
phổ biến trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Một ví dụ về hành vi thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ điển
hình xảy ra tại Hoa Kỳ vào năm 1897 giữa các công ty dịch vụ vận tải xe lửa
ở một số khu vực miền Tây (trans-Missouri) Các công ty dịch vụ vận tải xelửa này đã thoả thuận thành lập Ban đại diện để cùng nhau thống nhất, ấnđịnh giá cước vận tải đối với các khách hàng Lý do mà các công ty đưa ra
khi biện minh cho hành vi thoả thuận này là nhằm tránh sự "cạnh tranh huỷ
diệt" giữa các công ty dẫn tới các cuộc chiến tranh giá cả, khiến các công ty
lâm vào tình trạng phá sản, từ đó ảnh hưởng lớn tới các ngành kinh tế, đặcbiệt là ngành nông nghiệp đang vào thời điểm cần phương tiện đường sắt đểvận chuyển hàng hoá ra thị trường6
Ở Việt Nam, các thỏa thuận ấn định giá dịch vụ kiểu này chưa phát
sinh nhiều, nhưng có thể nêu một ví dụ đã xảy ra trên thực tế từ Hiệp hộiTaxi tại Thành phố HC Năm 1997, 14 doanh nghiệp taxi tại Thành phố HC
đã thành lập Hiệp hội Taxi nhằm mục đích thống nhất đồng loạt tăng giácước taxi từ 6.000 VNĐ/km đầu tiên lên 12.000 VNĐ/2km đầu tiên và 5.000VNĐ/km tiếp theo áp dụng trong tất cả các doanh nghiệp của Hiệp hội.Hành vi ấn định giá này đã hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trongHiệp hội và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng Ngày 15 tháng 3năm 2000, hợp tác xã Taxi S đã hạ giá cước taxi xuống 10.000 VNĐ/2km
6 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
Trang 16đầu và 5.000 VNĐ/km tiếp theo, thấp hơn 2.000 VNĐ so với giá của Hiệphội taxi thoả thuận Tới giữa tháng 2 năm 2004, hợp tác xã này lại thông quagiá cước mới là 8.000 VNĐ/2km đầu và 4.500 VNĐ/km tiếp theo Hành vicủa hợp tác xã taxi S được coi là hành vi cạnh tranh lành mạnh và đượckhách hàng ủng hộ, buộc Hiệp hội Taxi xoá bỏ hành vi ấn định giá gây hạnchế cạnh tranh nêu trên.7
Đối với các thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp
hàng hoá, có hai ví dụ điển hình của thực tiễn pháp luật nước ngoài là vụ
Sealy năm 1967 và vụ Topco năm 1972 của Hoa Kỳ là8:
- Vụ Sealy năm 1967, là vụ điển hình trong đó Toà án chính thức quy
định thoả thuận phân chia thị trường giữa các đối thủ cạnh tranh
là đương nhiên bất hợp pháp bất kể các bên tham gia thoả thuận
có vị trí trên thị trường như thế nào Vụ này liên quan đến mộtloạt các doanh nghiệp sản xuất chiếu và khăn trải giường của Hoa
kỳ liên kết với nhau để thành lập Công ty cổ phần với tên gọi làSealy Theo đó, các doanh nghiệp thoả thuận việc sản xuất và báncác sản phẩm của họ được tiến hành dưới cùng một nhãn hiệu là
"Sealy", đồng thời các doanh nghiệp cổ đông của Sealy chỉ đượcphép bán hàng trong khu vực địa lý xác định mà Sealy chỉ địnhchứ các doanh nghiệp này không tham gia cạnh tranh với nhau
Vụ việc này được đưa ra giải quyết trước Toà án Tối cao Hoa Kỳ.Sau khi xem xét tình tiết vụ việc, Toà án Tối cao Hoa Kỳ đã raphán quyết rằng, việc thành lập Công ty Sealy như vậy chẳng quachỉ là một thoả thuận phân chí thị trường nhằm lũng đoạn thịtrường và vì thế đương nhiên là bất hợp pháp Từ vụ Sealy năm
1967, nhiều loại thoả thuận giữa các đối thủ cạnh tranh để phânchia thị trường cũng bị các toà án Hoa Kỳ ra phán quyết đươngnhiên bất hợp pháp Không chỉ ở thị trường Hoa Kỳ mà việc thoảthuận phân chia thị trường thế giới có ảnh hưởng tới thị trườngHoa Kỳ cũng bị coi là đương nhiên bất hợp pháp
7 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
8 Theo Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về Luật cạnh tranh của Việt Nam.
Trang 17- Vụ Topco năm 1972, một số doanh nghiệp kinh doanh chuỗi siêu thị
quy mô vừa và nhỏ ở Hoa Kỳ đã thoả thuận thiết lập ra một hợptác xã để tổ chức việc phân phối, quảng cáo hàng hoá của cácdoanh nghiệp thành viên với tên gọi chung là Topco nhằm tăngcường sức cạnh tranh của hợp tác xã với các đối thủ cạnh tranhkhác hàng hoá do hợp tác xã bán sẽ do các doanh nghiệp thànhviên cung cấp Theo đó, các bên thoả thuận việc bán hàng vớinhãn hiệu "Topco" chỉ được thực hiện ở những khu vực địa lý xácđịnh và các doanh nghiệp của hợp tác xã không được cạnh tranh
và xâm phạm lãnh thổ bán hàng của nhau Topco lập luận rằng,việc đưa ra thoả thuận phân chia khu vực địa lý bán hàng cho cácthành viên là giúp cho các thành viên có thêm sức mạnh trongviệc tiếp thị sản phẩm của Topco, để Topco có thêm sức mạnhtrong việc cạnh tranh với các loại hình phân phối hàng hoá kháctrong nền kinh tế Tuy nhiên, Toà án Tối cao Hoa Kỳ không chấpnhận lập luận này và coi việc phân chia thị trường giữa các thànhviên của Topco là dạng thoả thuận phân chia thị trường đươngnhiên bất hợp pháp
Đối với hành vi thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung
cấp hàng hoá và dịch vụ trên phạm vi quốc tế, có một ví dụ là vụ việc xảy ra
vào năm 1972, các nhà sản xuất tơ sợi tổng hợp của Đức và Nhật Bản đãtham gia một thoả thuận quốc tế, theo đó, các doanh nghiệp sản xuất tơ sợitổng hợp của Nhật Bản sẽ không xuất khẩu sản phẩm của mình sang thịtrường Đức và đổi lại các nhà sản xuất tơ sợi tổng hợp của Đức cam kếtkhông xuất khẩu sản phẩm của mình sang thị trường Nhật Bản nhằm mụcđích hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này tại các thị trường Đức vàNhật Bản Uỷ ban Thương mại công bằng của Nhật Bản đã phán quyết đây
là hành vi thoả thuận phân chia thị trường thuộc sự điều chỉnh của LuậtCạnh tranh Nhật Bản.9
9 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
Trang 181.1.2 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền:
Vị trí thống lĩnh trên thị trường là vị trí của doanh nghiệp trên thịtrường mà với vị trí ấy doanh nghiệp có thể chi phối sự biến động giá cả trênthị trường một cách đáng kể Có thể coi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh làdoanh nghiệp có quyền lực thị trường ở mức cao
Trong Luật cạnh tranh Việt Nam, việc một doanh nghiệp được coi là
có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường
liên quan hoặc có thị phần dưới 30% nhưng có khả năng gây hạn chế cạnhtranh một cách đáng kể
Một nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu
có cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong cáctrường hợp sau:
(i) hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trườngliên quan;
(ii) ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường
liên quan;
(iii) bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị
trường liên quan
Lạm dụng vị trí thống lĩnh là các hành vi lợi dụng vị trí thống lĩnhtrên thị trường để chi phối, lũng đoạn thị trường, gây tổn hại tới quá trìnhcạnh tranh trên thị trường Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh chỉ vi phạm luật
cạnh tranh khi có hành vi “lạm dụng” vị trí của mình, tức là doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh không đương nhiên bị coi là trái pháp luật.10 Luật chỉ khôngcho phép doanh nghiệp hoặc một số doanh nghiệp này lạm dụng vị trí lợi thếcủa mình trên thị trường nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh vàbảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
10 Điều 10 Luật Cạnh tranh.
Trang 19Luật cạnh tranh Việt Nam quy định 6 nhóm hành vi thuộc loại hành vilạm dụng vị trí thống lĩnh11:
(i) Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằmloại bỏ đối thủ cạnh tranh;
(ii) Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn
định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
(iii) hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, công nghệ gây thiệt hại
cho khách hàng;
(iv) Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như
nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;
(v) Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua,
bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhậncác nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợpđồng;
(vi) Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh
Khi toà án xem xét việc liệu hành vi của doanh nghiệp hoặc một nhómdoanh nghiệp có lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền(đối với một doanh nghiệp) thì trước hết cần xác định thị trường liên quan(về cả hàng hóa, dịch vụ và địa lý), sau đó cần xác định thị phần của doanhnghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan để giải
11 Điều 13 Luật cạnh tranh.
Trang 20quyết vấn đề thứ nhất là doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp đó có
vị trí thống lĩnh thị trường hay không Trong vụ việc liên quan đến lạm dụng
vị trí độc quyền thì sau khi xác định thị trường liên quan cần xác minh xem
có doanh nghiệp nào khác kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng trên thị trườngliên quan không để giải quyết vấn đề là liệu doanh nghiệp đó có vị trí độcquyền hay không Khi đã khẳng định rằng doanh nghiệp hoặc một nhómdoanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh thị trường, hoặc doanh nghiệp đó có vịtrí độc quyền thì vấn đề thứ hai cần làm sáng tỏ là hành vi đang bị khiếu nại
có thuộc các trường hợp bị cấm không
1.1.3 Tập trung kinh tế:
Tập trung kinh tế là việc hai doanh nghiệp trở lên thực hiện việc:
• Sáp nhập doanh nghiệp: là việc một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp củamình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tạicủa doanh nghiệp bị sáp nhập;
• Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp
cùng chuyển tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình
để hình thành một doanh nghiệp mới đông thời chấm dứt sự tồn tạicủa doanh nghiệp bị hợp nhất;
• Liên doanh giữa các doanh nghiệp: là việc hai hoặc nhiều doanh
nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi íchhọp pháp của mình để thành lập doanh nghiệp mới;
• Mua lại doanh nghiệp: là việc một doanh nghiệp mua lại một
phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác ở mức đủ đểkiểm soát và chi phối toàn bộ hoặc một số ngành nghề của doanhnghiệp bị mua lại
Theo Luật cạnh tranh Việt Nam, hành vi tập trung kinh tế chỉ bị cấmkhi thị phần kết hợp (tổng thị phần) của các doanh nghiệp tham gia tập trungkinh tế (thực hiện các hành vi nêu trên) chiếm trên 50% trên thị trường liên
Trang 21quan, trừ trường hợp được miễn trừ hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khithực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Trườnghợp tập trung kinh tế được miễn trừ là trường hợp tập trung kinh tế đáp ứngđược một trong các điều kiện sau:
(i) Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ
bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản và được Bộ trưởng BộThương mại (nay là Bộ Công Thương) cho phép (miễn trừ) trướckhi thực hiện việc tập trung kinh tế đó;
(ii) Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp
phần phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và đượcThủ tướng Chính phủ cho phép (miễn trừ) trước khi thực hiện việctập trung kinh tế đó
1.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, có 9 nhóm hành vi cạnhtranh không lành mạnh chính, cụ thể như sau:
1.2.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn:
Luật cạnh tranh cấm doanh nghiệp sử dụng các chỉ dẫn có chứa thông
tin gây nhầm lẫn về: tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, kiểu dáng bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của pháp luật để làm khách hàng nhầm tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ đó là hàng
hoá, dịch vụ của doanh nghiệp khác đã có uy tín trên thị trường hoặc có xuất
xứ từ địa lý có uy tín nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh
Chúng ta cần lưu ý rằng, việc chỉ dẫn gây nhầm lẫn khác với việc đưathông tin về hàng giả (hàng có nhãn hiệu thật nhưng nội dung giả) Hànghoá, dịch vụ có chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hàng hoá, dịch vụ có thể được đăng
ký chất lượng tại cơ quan có thẩm quyền (và trong nhiều trường hợp chấtlượng của hàng hoá, dịch vụ này còn cao hơn chất lượng hàng hoá, dịch vụcủa doanh nghiệp khác mà hàng hoá, dịch vụ có chỉ dẫn gây nhầm lẫn) nhằm
Trang 22mục đích thu hút khách hàng thông qua việc lợi dụng uy tín, xuất xứ hànghoá, dịch vụ đang có trên thị trường.
Ví dụ về hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn cho khách hàng về xuất xứhàng hoá như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn Young Titan (Đài Loan -Trung Quốc) đã bán hai loại sản phẩm rượu Wisky Royal Reserve Old 21Rare Premium sản xuất tại Hoa Kỳ và rượu Wisky pha chế Crowley sản xuấttại Pháp với nhãn hiệu trên bao bì là "Scotch Wisky" bằng tiếng Trung Quốc
và tiếng Anh Theo Luật về rượu Wisky Scotch năm 1988 và Lệnh về rượuWisky năm 1990 được quốc tế sử dụng rộng rãi, rượu Wisky Scotch là sảnphẩm wisky có nguồn gốc từ xứ Scốt len Như vậy, việc đưa thông tin về hailoại rượu được nhập khẩu từ Pháp và Hoa Kỳ của Công ty trách nhiệm hữuhạn Young Titan đã làm cho người tiêu dùng nhầm tưởng địa điểm xuất xứcủa hai loại sản phẩm rượu này là từ Scốt len Uỷ ban Thương mại lànhmạnh của Đài Loan đã xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh nêu trêncủa Công ty trách nhiệm hữu hạn Young Titan Theo khoản 1 Điều 21 Luậtthương mại lành mạnh (Đài Loan - Trung Quốc), doanh nghiệp không đượcđưa ra những thông tin sai trái, không đúng sự thật hoặc gây hiểu lầm chongười tiêu dùng về giá cả, số lượng, chất lượng, nội dung, quá trình sản xuất,ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, mục đích sử dụng, nơi xuất xứ, nhà sảnxuất, nhà chế biến và nơi chế biến, đồng thời bất kỳ doanh nghiệp nào bánnhững sản phẩm có thông tin sai trái, không đúng sự thật hoặc gây nhầm lẫnnêu trên đều bị xem là vi phạm pháp luật12
Việc cấm kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầmlẫn có ý nghĩa quan trọng nhằm ngăn chặn các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh trên thị trường từ việc kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Đây là mộtquy định có ý nghĩa thực tiễn, hạn chế hậu quả có thể phát sinh đối vớingười tiêu dùng từ hành vi trái pháp luật này Điển hình là việc kinh doanhcác loại thuốc dược phẩm phổ biến trên thị trường Việt Nam với nguy cơảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ người tiêu dùng Ví dụ như trườnghợp thuốc Decogen, một sản phẩm của Công ty dược phẩm philippin đến
12 Theo Vụ việc và tài liệu về Luật thương mại lành mạnh Đài Loan, Ban soạn thảo Luật cạnh tranh Việt Nam, Hà Nội, 2002, tr.153-156.
Trang 23nay đã có 7 loại thuốc làm nhái mẫu mã Hay như vụ tranh chấp mẫu nhãnhiệu thuốc chữa bệnh trong nước Tranalar của Công ty Dược Vật tư T.V vàTrangalar của Công ty Dược M.D (đã được đăng ký nhãn hiệu sản phẩm từnăm 1991) vào năm 1995 Kết quả là Bộ Y tế đã ra văn bản xử lý đình chỉ,thu hồi toàn bộ thuốc Tranalar của Công ty Dược Vật tư T.V với lý do Công
ty này đã sản xuất loại thuốc có nhãn hiệu gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuốcTrangalar của Công ty Dược M.D.13
1.2.2 Xâm phạm bí mật kinh doanh:
Luật cạnh tranh quy định một số hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
bị cấm như sau:
1.2.2.1 Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó:
Hành vi xâm phạm này có nghĩa là Luật nghiêm cấm việc tiếp cận,thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được sự đồng ý củangười sở hữu bí mật kinh doanh đó Ví dụ: hành vi truy cập một cách tráiphép vào hệ thống mã nguồn (máy tính) lưu giữ bí mật kinh doanh thuộc sởhữu của một doanh nghiệp khác
1.2.2.2 Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh:
Hành vi này tương đối phổ biến, có ví dụ như sau: một người sau mộtthời gian làm việc cho một doanh nghiệp sản xuất và nắm được bí mật kinhdoanh của doanh nghiệp đó, đã tiết lộ cho doanh nghiệp khác hoặc sử dụngcho chính mình để thành lập một doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng thông tin
về bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinhdoanh
13 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
Trang 241.2.2.3 Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó:
Hợp đồng bảo mật là hợp đồng mà theo đó một bên hợp đồng đượcquyền tiếp cận thông tin bí mật về kinh doanh của một chủ sở hữu nhưng cónghĩa vụ phải bảo mật thông tin đó Bên có nghĩa vụ bảo mật làm lộ thôngtin về bí quyết kinh doanh cho bên thứ ba thì bị coi là xâm phạm bí mật kinhdoanh theo quy định của điều luật Ngoài ra, luật cũng quy định bất kỳ hành
vi nào lợi dụng quan hệ sẵn có để lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người cótrách nhiệm bảo mật nhằm lấy được thông tin bảo mật về bí mật kinh doanh
và sau đó tiết lộ thông tin đó cho người thứ ba thì cũng bị coi là xâm phạm
bí mật kinh doanh
1.2.2.4 Tiếp cận, thu thập các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của các cơ quan nhà nước, hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, mục đích xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm:
Quy định này bao gồm hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất, doanh nghiệp tiếp cận, thu thập bất luận
trái phép hay được phép bí mật kinh doanh của doanh nghiệpkhác thông qua các hồ sơ mà doanh nghiệp phải nộp khi thựchiện các thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp như: đăng ký kinh doanh, đăng kýbảo hộ nhãn hiệu, luận chứng kinh tế kỹ thuật v.v., và sau đó sửdụng những thông tin này để kinh doanh hoặc lập hồ sơ xinphép thành lập liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sảnphẩm
Trang 25- Trường hợp thứ hai, dùng các biện pháp chống lại biện pháp bảo
mật của các cơ quan nhà nước về bí mật kinh doanh và sử dụngnhững thông tin bí mật này phục vụ mục đích và hoạt động kinhdoanh của mình
1.2.3 Ép buộc trong kinh doanh:
Luật cạnh tranh cấm ép buộc trong kinh doanh có nghĩa là cấm doanhnghiệp có hành vi đe doạ hoặc cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh củađối thủ cạnh tranh không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với đối thủ cạnhtranh
1.2.4 Gièm pha doanh nghiệp khác:
Luật cạnh tranh cấm gièm pha doanh nghiệp khác thông qua hành vitrực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởngxấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp đó Mọi hành vi bôi nhọ hay lăng mạ doanh nghiệp khác không xuấtphát từ một đối thủ cạnh tranh và vì mục đích cạnh tranh thì được điều chỉnhbởi luật dân sự nói chung hoặc luật hình sự trong những trường hợp cụ thể
Gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnhtương đối phổ biến trong hoạt động kinh doanh, nhằm loại bỏ đối thủ cạnhtranh trong hoặc kìm hãm sự phát triển kinh doanh của đối thủ cạnh tranhthông qua việc giảm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp
đó Hành vi này được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể từđơn giản đến phức tạp, trực tiếp hoặc gián tiếp
Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác có thể được thực hiện một cáchđơn giản như một doanh nghiệp tung tin đồn: dùng dầu gội đầu của hãng Agây rụng tóc; băng vệ sinh B có chứa chất amiăng gây hại cho người sửdụng, v.v., hoặc là những thông tin giả để lừa gạt công luận, báo chí như vụ
Trang 26bia B, trong chai có ruồi, nhặng; bia T trong chai có gián; nước giải khát Ctrong chai có vật thể lạ 14
Hành vi này cũng có thể được thực hiện thông qua những thủ đoạnphức tạp như vụ việc điển hình sau đây:
Sản phẩm nước tinh khiết W là của nhà máy nước tinh khiết HN - Wthuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn TLT Đây là sản phẩm có uy tín, an toàntuyệt đối về vệ sinh thực phẩm, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý, được khách hàngtin dùng
Công ty L (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) có sản phẩm nướctinh khiết là L, là đối thủ cạnh tranh của sản phẩm W Do không cạnh tranhđược thị phần với Công ty W, Công ty L đã sử dụng thủ đoạn cạnh tranhkhông lành mạnh như sau:
Lợi dụng Bệnh viện quốc tế Thành phố H có gửi tới một trung tâmthực hiện xét nghiệm hai mẫu nước tinh khiết là W và L, Công ty L đã thaymẫu nước có tên W.S thành W; thay mẫu nước có tên Ls thành L; chuyểnkết luận W.S chứa Nitrit (NO2) cao hơn tiêu chuẩn thành W chứa Nitrit(NO2) cao hơn tiêu chuẩn Với bản kết quả xét nghiệm này, Công ty L đãgửi kèm theo hồ sơ chào hàng đến tay rộng rãi người tiêu dùng, trong đó có
cả khách hàng của W Do không có cơ hội để xác minh ngay kết quả là đúnghay sai, người tiêu dùng đồng loạt thay đổi sản phẩm nước tinh khiết Wbằng sản phẩm cùng các loại khác Hành vi này được coi là sự gièm phadoanh nghiệp khác gây thiệt hại đến uy tín, danh dự và vật chất cho nhà máynước tinh khiết HN-W15
1.2.5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác:
14 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
15 Theo TS Đặng Vũ Huân: Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004, tr.159-160
Trang 27Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác được hiểu làhành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp đó.
Có thể nêu ra ví dụ đã xảy ra trên thực tế là, Công ty Taxi A mới gianhập thị trường đã bị các doanh nghiệp khác cấu kết và gây rối hoạt độngkinh doanh bằng cách sử dụng sản phẩm kỹ thuật gây nhiễu sóng bộ đàmcủa các nhân viên điều hành của Công ty A, do đó các nhân viên điều hànhkhông thể liên lạc được với lái xe, làm cho các giao dịch của Công ty A bịgián đoạn trong một thời gian
1.2.6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
Quảng cáo sai lệch đề cập tới bất cứ hành vi giới thiệu sai lệch hoặc gây nhầm lẫn nào tới cộng đồng bởi một người trong khi tiến hành hoạt động kinh doanh Hành vi giới thiệu này có thể là về đặc tính, đặc điểm, hay hình dáng của một sản phẩm, như kích cỡ, kiểu nội dung hay khối lượng Nócũng bao gồm cả bảo hành, lời nói, hay những bảo đảm mà không dựa trên các cuộc kiểm tra đầy đủ và cụ thể
Luật Cạnh tranh nghiêm cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt độngquảng cáo sau16:
dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác: Ví dụ hành vi quảng
cáo của doanh nghiệp sản xuất dầu gội đầu A rằng: "Dầu gộiđầu A tốt hơn dầu gội đầu B "
khách hàng: Việc bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác có
thể thông qua hình ảnh quảng cáo, nội dung quảng cáo, v.v.,
16 Điều 45 Luật cạnh tranh.
Trang 28tương tự làm cho người tiêu dùng nhầm tưởng sản phẩm đãđược quảng cáo trước đó.
hàng về một trong các nội dung như: Giá cả, số lượng, chất
lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất,thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sảnxuất, người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phươngthức phục vụ, thời hạn bảo hành; các thông tin gian dối hoặc gâynhầm lẫn khác
Trung thực là yêu cầu hàng đầu đối với hoạt động quảng cáo nhằmbảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm môi trường kinhdoanh lành mạnh Một ví dụ khá rõ ràng về quảng cáo sai lệch là một quảngcáo về một đôi giầy được sản xuất tại Đài Loan như là được sản xuất bằngtay tại Anh Thông qua việc sử dụng một câu liên quan tới lịch sử lâu dài củagiầy chất lượng, người bán hàng đã tạo ra một sự giới thiệu sai lệch như đềcập tới loại giầy đã được bán Một ví dụ khác về quảng cáo sai lệch xảy ra làkhi người bán hàng hứa với khách hàng sẽ đưa ra một mặt hàng trong mộtvài ngày cụ thể nhưng cuối cùng thì anh ta đã không thực hiện lời hứa.Không cung cấp thông tin chính xác cho khách hàng để họ có thể dựa vào đó
mà đưa ra các quyết định mua sắm cũng có thể được coi là quảng cáo sailệch Luật pháp cấm việc quảng cáo thiếu trung thực hoặc làm cho kháchhàng, người tiêu dùng hiểu sai, nhận thức không đúng, nhầm lẫn về giá cả,
số lượng, chất lượng, v.v., của hàng hoá, dịch vụ quảng cáo
Liên quan đến vấn đề này có một số ví dụ điển hình sau:
Ví dụ thứ nhất là: việc bán hàng hóa hàng dệt kim “chất lượng xuấtkhẩu” với giá thấp đến khó tin của Bal Krishna Khurana, một người khá nổitiếng ở hầu khắp miền Bắc Ấn Độ Khi Khurana xâm nhập vào Jaipur để bánhàng hóa của ông ta với mức giá cho không Các khiếu nại chống lại ôngKhurana được gửi lên Ủy Ban Về các hành vi hạn chế thương mại và độcquyền (MRTP), yêu cầu phải được biết làm thế nào ông ta có thể bán được
Trang 29hàng dệt kim có chất lượng xuất khẩu trị giá 210 Rs với mức giá thấp từ 5đến 15 Rs Trong đơn khiếu nại nói việc quảng cáo sai lệch và thủ đoạn treođầu dê bán thịt chó theo đó đã gây ra thiệt hại và bất thuận lợi đối với cộngđồng và người mua Ủy ban MRTP đã ngay lập tức ra lệnh tiến hành mộtcuộc điều tra theo khiếu nại này, sau đó đưa ra lệnh cấm Khuruna khôngđược tổ chức thêm bất kì một khuyến mại bán hàng nào như vậy nữa Thêmvào đó, Ủy ban MRTP còn khuyến cáo các tờ báo không được cho đăng cácquảng cáo sai lệch, như là một nhiệm vụ của giới truyền thông để bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng, và không được kiếm lời thông qua các quảngcáo sai lệch này.17
Ví dụ thứ hai là: Tháng 4 năm 2002, cơ quan thực thi Đạo luật thươngmại công bằng đã lên án công ty Wal-Mart Argentina vì đã vi phạm điều 9
Dự luật 22.802 theo đó cấm quảng cáo và khuyến mại sai lệch hàng hóa vàdịch vụ Trong năm 2002, là năm chỉ tiêu cho chuỗi siêu thị lớn (Wal-Mart,Carrefourm, và một vài hãng khác) cung cấp sản phẩm với mức giá đặc biệtnhằm thu hút khách hàng Tuy nhiên, khi thời gian phải trả hóa đơn tới,nhiều trường hợp khách hàng thấy rằng giá phải trả cho một số sản phẩm làkhác hơn nhiều so với giá đã công bố trên quảng cáo hoặc tại nơi bán Trongkhi tiến hành xem xét, cơ quan thực thi quyết định điều chỉnh giá của mộtvài sản phẩm thực phẩm cơ bản Trong quá trình điều tra, cơ quan này thấyrằng có 8% khác biệt trong hai sản phẩm được lựa chọn Giá được ghi trongquảng cáo và tại điểm bán hàng thấp hơn với giá cuối cùng mà khách hàngphải trả Tính nghiêm minh của lệnh trừng phạt đã tính đến thực tế rằngWal-Mart đã bị phạt cho cùng kiểu vi phạm này hơn 30 lần trong khoảngthời gian 3 năm.18
1.2.7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh:
Luật Cạnh tranh nghiêm cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt độngkhuyến mại sau:
17 Theo Mehta, Pradeep S “ Làm thế nào để một người tiêu dùng có thể tồn tại”, CUTS, 1998.
18 Theo Andrea Botto (2006), Argentina, Các thể chế cạnh tranh trên thế giới- CUTS.
Trang 30- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng Có thể nêu ra
rất nhiều ví dụ về hành vi này xảy ra trên thực tiễn như: Đưa rathông báo về khuyến mại không rõ ràng, không có giải thưởngtrên thực tế hoặc người nhận thưởng được sắp xếp là người củaban tổ chức
- Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá,
dịch vụ để lừa dối khách hàng:
Khuyến mại không trung thực là việc đưa ra các thông tin
khuyến mại hàng hoá, dịch vụ gian dối nhằm "đánh lừa"khách hàng để khách hàng tiếp cận hàng hoá, dịch vụ đó
Ví dụ: hành vi đặt giá hàng hoá, dịch vụ ở mức quá caosau đó đưa ra chính sách khuyến mại giảm giá mạnh đểkhách hàng nhầm tưởng giá hàng hoá quá rẻ
Khuyến mại gây nhầm lẫn cho khách hàng về hàng hoá, dịch
vụ có thể là việc đưa ra những thông tin khuyến mạikhông chính xác về chất lượng hàng hoá, dịch vụ Ví dụ:hàng tồn kho, hàng kém chất lượng nhưng thông tinkhuyến mại đã làm cho khách hàng, người tiêu dùngnhầm tưởng hàng hoá đó có chất lượng tốt
- Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa
bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chươngtrình khuyến mại Ví dụ: việc đưa ra chính sách khuyến mạigiảm giá 8% giá một mặt hàng cho khách hàng ở TP Hồ ChíMinh, trong khi chỉ giảm giá 5% mặt hàng đó cho khách hàng
ở Cần Thơ tại cùng một thời điểm
- Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu
khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sảnxuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hoá củamình Ví dụ như: khuyến mại tặng một sim điện thoại củahãng khuyến mãi đổi lấy sim điện thoại của hãng khác màkhách hàng đang sử dụng
Trang 31- Cấm các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy
định cấm
Đây là quy định mở nhằm tạo điều kiện để pháp luật có thể quy địnhthêm những hành vi khuyến mại trái pháp luật sẽ phát sinh Ngoài việc tuânthủ điều luật, các quy định liên quan đến khuyến mại trong các văn bản quyphạm pháp luật khác được áp dụng
1.2.8 Phân biệt đối xử của hiệp hội:
Hiệp hội ngành nghề đóng vai trò rất quan trọng trong việc tập hợpcác doanh nghiệp kinh doanh cùng một lĩnh vực Quyết định của Hiệp hộingành nghề trong nhiều trường hợp có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sảnxuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên Do vậy, Luật cạnh tranh
đã dành một điều khoản nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử của hiệp hộiđối với doanh nghiệp thành viên hoặc doanh nghiệp thành viên trong tươnglai với mục đích là ngăn chặn khả năng tạo ra những điều kiện bất lợi vềcạnh tranh cho một hoặc một số doanh nghiệp thành viên của hiệp hội,nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, quyền tự do kinh doanh của các doanhnghiệp cùng ngành nghề trên thị trường
Luật cạnh tranh nghiêm cấm các hiệp hội ngành nghề thực hiện các hành vi sau:
- Từ chối việc gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội của bất cứ
doanh nghiệp nào đủ điều kiện nếu việc từ chối đó mang tìnhphân biệt đối xử và làm cho các doanh nghiệp đó bị bất lợitrong cạnh tranh Ví dụ, hiệp hội các nhà kinh doanh hànghoá A từ chối việc xin gia nhập hiệp hội của doanh nghiệp Bcùng kinh doanh xuất khẩu hàng hoá A Việc từ chối này củahiệp hội đã làm cho doanh nghiệp B không được tiếp cận cácthông tin về thị trường quốc tế liên quan đến việc xuất nhậpkhẩu hàng hoá A, và làm cho doanh nghiệp B không thểcạnh tranh được với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá A
là thành viên của hiệp hội
Trang 32- Hạn chế bất hợp lý các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt
động khác có liên quan tới mục đích kinh doanh của cácdoanh nghiệp thành viên
Mục đích của các hiệp hội cùng ngành nghề là tạo ra sức mạnhcạnh tranh của các doanh nghiệp thành viên để các doanh nghiệp thànhviên có thể mở rộng thị trường, phát triển kinh doanh, cải tiến chất lượnghàng hoá, dịch vụ Do đó, việc hiệp hội đưa ra bất kỳ chính sách nàohoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm hạn chế bất hợp lý hoạt độngkinh doanh (hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh) của một, một sốhoặc tất cả các thành viên của hiệp hội thì đều bi coi là trái pháp luật
1.2.9 Bán hàng đa cấp bất chính:
Bán hàng đa cấp là một hình thức bán hàng trực tiếp không thôngqua địa điểm bán lẻ cố định mà thông qua mạng lưới người tham gia độclập gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau và được pháp luật của các quốcgia bảo hộ Tuy nhiên, hình thức bán hàng đa cấp bị cấm hay còn được gọi
là “chuỗi chuyển giao”, “đền bù nhị phân”, hay “bán hàng ma trận” là mộthình thức kinh doanh không ổn định mà tham gia vào việc chuyển đổi tiềnđầu tiên cho những người khác mới kết nạp vào hệ thống bán hàng đa cấp,thường thì không có bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào thật sự được giaobán
Có một vài hình thức thương mại khác sử dụng phương thức bán hàngluân chuyển như bán hàng đa cấp trực tiếp (MLM) là hoàn toàn hợp pháp và
có thể chấp nhận được Hầu hết bán hàng đa cấp bị cấm đều lợi dụng sựnhầm lẫn giữa các doanh nghiệp kinh doanh thực sự và các doanh nghiệp có
hệ thống kinh doanh phức tạp phục vụ cho những mưu đồ kiếm tiền phipháp
Bản chất của bán hàng đa cấp là lợi nhuận của doanh nghiệp đến từviệc bán franchise (là việc một công ty cho phép bán hàng hoá hoặc cung
Trang 33ứng dịch vụ của công ty đó ở một vùng nào đó Việc bán hàng đó phải tuântheo những quy định cụ thể về biển hiệu, cách bài trí, chất lượng hànghoá…: ví dụ càphê Trung Nguyên), chứ không phải là từ việc bán sản phẩmhoặc là bởi vì không có sản phẩm hay sản phẩm không thể bán được ở mứcgiá khiến cho đầu tư vào franchise có lợi nhuận Lý do khiến chúng được gọi
là bán hàng đa cấp là đầu tiên những cấp bậc đầu của franchise có thể vàđang tạo ra tiền bởi vì ngoài việc bán một số sản phẩm, họ cũng có thể bán
10 franchise cho bạn bè Để cho 10 franchise này có thể tạo tiền mỗi ngườitrong số họ sẽ phải bán 10 franchise (hoặc cả tổng 100) Để cho 100franchise này tiếp tục tạo ra tiền, họ sẽ phải bán 1000 franchise Và 1000người này sẽ phải bán 10,000 franchise và tiếp tục cứ như vậy
Ở đây việc bán franchise không vi phạm pháp luật hay thậm chí làviệc chi trả của một khoản phí cho người tìm ra cho người bán franchisengười mà sẽ gia nhập một franchise mới Phạm pháp ở đây là thông tin vềlợi nhuận của việc bán sản phẩm cơ bản là sai lệch Không một cấp độ nàoviệc bán sản phẩm này có lợi nhuận Việc kinh doanh dường như có lợinhuận với người mua franchise triển vọng bởi vì người bán cho họ nhữngfranchise này đang tạo ra tiền từ việc bán những franchise mới Nhưng nhưnhững con số ở trên cho thấy, số lượng người mua franchise mới tăng lênmột cách nhanh chóng tới một số lượng lớn đến phi lí Điều này sẽ rõ ràngnếu như những người đầu tiên sở hữu franchise chỉ rõ làm thế nào bán đượcnhiều sản phẩm để khiến cho franchise có thể mang lại lợi nhuận và khảnăng có thể bán được nhiều sản phẩm này là gì
Giống như luật pháp của các quốc gia trên thế giới, Luật Cạnh tranhViệt Nam chỉ điều chỉnh những hành vi bán hàng đa cấp nhằm thu lợi bấtchính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng
Luật Cạnh tranh cấm các hành vi sau:
- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp: Quy định này của Luật cạnh tranh nhằm ngăn
Trang 34chặn việc hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trênthị trường Có một ví dụ về hành vi này của Công ty T.G.M đã được Toà ánnhân dân Thành phố H.C.M xét xử ngày 15 tháng 3 năm 2004 Công tyT.G.M đã đặt điều kiện cho người tham gia phải đặt cọc từ 1,8 đến 3,6 triệuđồng (riêng người tham gia ở phía Nam là 240 đôla Mỹ) hoặc mua đủ ba sảnphẩm với giá 120 đôla Mỹ mới được tham gia mạng lưới bán hàng Vớihành vi này, Công ty T.G.M đã lừa đảo chiếm đoạt hơn 6 tỷ đồng của gần
200 người tham gia mạng lưới bán hàng.19
- Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hoá đã bán cho người tham gia để bán lại: Quy định này được Luật cạnh tranh hoặc
các đạo luật kinh doanh của các quốc gia trên thế giới điều chỉnh nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia mạng lưới bán hàng
Có thể nêu trường hợp Công ty S.L đặt điều kiện cho người tham gia mạnglưới bán hàng là mỗi tháng phải bán được hai sản phẩm, tương đương 6 triệuđồng để được duy trì quyền tham gia và quyền hưởng hoa hồng Nếu trongtháng, người tham gia chỉ bán được một sản phẩm và không muốn bị mất 6triệu đồng đã bỏ ra mua quyền tham gia, họ buộc phải tự bỏ ra thêm 3 triệuđồng để mua một sản phẩm nữa cho đủ số lượng 6 triệu đồng Quy định nàytạo sức ép cho người tham gia phải bán được hàng cho doanh nghiệp, nếukhông thì sẽ bị mất quyền tham gia mà họ đã phải bỏ tiền ra mua Thực tếnày cho thấy, nhiều tháng, người tham gia không thể bán được đủ số hàngcần thiết, nhưng lo sợ mất quyền tham gia, họ phải vay mượn để tự mua đủlượng hàng cần bán (mà không được trả lại doanh nghiệp) Đối với nhiềukhách hàng, do không thu hồi được tiền hàng nên đã trở thành con nợ triềnmiên.20 Sau khi tiến hành thanh tra, Sở Thương mại đã rút giấy phép củacông ty này
- Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chỉ từ hoặc chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp: Quy định này của Luật cạnh tranh nhằm ngăn chặn việc dụ dỗ
nhiều người tham gia mạng lưới bán hàng thông qua việc nhận tiền hoa
19 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
20 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
Trang 35hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác mà không quan tâm đến việccung cấp hàng hoá đến người tiêu dùng Việc tiêu thụ hàng hoá và thu lờicủa doanh nghiệp chủ yếu dựa vào mạng lưới người tham gia mua hàng(mua quyền tham gia).
- Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá để
dụ dỗ người khác tham gia: Quy định này của Luật cạnh tranh nhằm ngăn
chặn việc dụ dỗ người tham gia mạng lưới bán hàng một cách trái pháp luậtthông qua việc cung cấp thông tin gian dối, không trung thực về lợi ích củaviệc tham gia (hoa hồng, tiền thưởng, vật thưởng, chuyến du lịch ), cungcấp thông tin gian dối, sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá để dụ
dỗ người tham gia
Ngoài những hành vi nghiêm cấm trên, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới còn nghiêm cấm một số hành vi bán hàng đa cấp bất chính sau:
- Yêu cầu người muốn tham gia phải trả tiền để được quyền tham
gia mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc trả bất kỳ khoản phí nàodưới hình thức khoá học, khoá đào tạo, hội thảo,v.v , để đượcquyền tham gia mạng lưới bán hàng
- Yêu cầu người tham gia phải mua dự trữ hàng hoá khi người
tham gia đó chưa bán được ít nhất 70% số lượng hàng hoá đãmua trước đó
- Cản trở người tham gia trả lại hàng hoá phát sinh từ việc chấm
dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp
- Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng,
tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia cóquyền hưởng
Ví dụ về Công ty L.H khá điển hình cho việc bán hàng đa cấp bấtchính: Công ty TNHH L.H là công ty kinh doanh đa cấp bán loại hàng đượcgiới thiệu là thực phẩm dinh dưỡng Công ty này có 85.000 nhà phân phối
Trang 36trên cả nước Công ty này đã bị 8 người tiêu dùng Đồng Nai khiếu kiện tậpthể Quyết định thanh tra L.H được Sở Thương mại đưa ra sau khi có đơnkhiếu nại tố cáo của người tiêu dùng, do Hội bảo vệ người tiêu dùng ViệtNam Ngày 7/9/2006, Thanh tra Sở Thương mại TP HCM đã công bố quyếtđịnh thanh tra Công ty L.H Sở Thương mại thanh tra tình hình hoạt độngkinh doanh, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, tổ chức hội thảo, tuyên truyền,tập huấn về hàng hóa và tuyển dụng nhân viên, người tham gia mạng lướiphân phối hàng hóa của doanh nghiệp Thanh tra Sở cũng kiểm tra việc thựchiện nghĩa vụ thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân không thường xuyên củanhững người tham gia mạng lưới phân phối hàng hóa, kể cả người nướcngoài Những nội dung thanh tra khác là tính hợp pháp trong lưu thông hànghóa, quy chế ghi nhãn hàng hóa, việc quảng cáo, tờ rơi; nội dung giới thiệutác dụng chữa bệnh của sản phẩm hay là thực phẩm dinh dưỡng, dụng cụbảo vệ sức khỏe, đăng ký lao động của người tham gia bán hàng Kết luậncho thấy Công ty này đã bán hàng đa cấp bất chính.
2 Giải quyết tranh chấp về cạnh tranh 21
2.1 Các cơ quan có thẩm quyền:
Thẩm quyền giải quyết vụ việc cạnh tranh được phân tích theo hai loạiviệc: khiếu nại về hành vi hạn chế cạnh tranh (thoả thuận hạn chế cạnhtranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tậptrung kinh tế) và khiếu nại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
2.1.1 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh:
(i) Cục quản lý cạnh tranh:
Cục Quản lý cạnh tranh được thành lập theo Nghị định số06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006, là cơ quan thuộc Bộ Thương mại (nay là
Bộ Công Thương) có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại thực hiện
21 Theo Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
Trang 37quản lý nhà nước về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và một sốchức năng khác theo quy định của pháp luật.
Về vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh CụcQuản lý cạnh tranh chỉ có thẩm quyền điều tra vụ việc chứ không có quyềngiải quyết và xử lý vụ việc Kết quả điều tra vụ việc phải được gửi lên Hộiđồng Cạnh tranh để giải quyết (sẽ phân tích kỹ ở phần thầm quyền của Hộiđồng Cạnh tranh)
Ngoài thẩm quyền điều tra và xử lý một số vụ việc cạnh tranh theoquy định của Luật Cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ:
- Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế (bao gồm: sáp nhập, hợpnhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp);
- Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với các hành vi thỏathuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế; đề xuất ý kiến với
Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) quyết địnhhoặc trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
(ii) Hội đồng cạnh tranh:
Khác với Cục Quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh (gồm từ 11đến 15 người) là cơ quan hành chính-tư pháp hay còn gọi là cơ quan “bán”
tư pháp (quasi-judicial) do Thủ tướng Chính phủ thành lập Thành viên Hộiđồng cạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của
Bộ trưởng Bộ Thương mại
Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nạiđối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh Hộiđồng cạnh tranh không có thẩm quyền giải quyết vụ việc về cạnh tranhkhông lành mạnh
Trang 38Vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh thuộc thẩm quyềncủa Hội động cạnh tranh được giải quyết thông qua Hội đồng xử lý vụ việccạnh tranh:
- Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là Hội đồng ad-hoc (được thành
lập một lần để giải quyết vụ việc cụ thể và giải tán khi hoàn thành nhiệm vụcủa mình, giống như Hội đồng xét xử trong hệ thống Toà án), gồm ít nhất là
5 thành viên của Hội đồng cạnh tranh và do Chủ tịch Hội đồng cạnh tranhlựa chọn Có thể nói rằng Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là cơ quan cóthẩm quyền “xét xử” sơ thẩm vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạnchế cạnh tranh
- Hội đồng cạnh tranh (hay nói cách khác là Hội đồng toàn thể thành
viên Hội đồng cạnh tranh) là cơ quan tố tụng cấp trên có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Có thểnói rằng đây là cơ quan có thẩm quyền “xét xử phúc thẩm” vụ việc cạnhtranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh
(iii) Toà án nhân dân:
Toà án nhân dân, cụ thể là Toà hành chính Toà án nhân dân cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương, có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm khiếukiện đối với quyết định của Hội đồng cạnh tranh Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có thẩmquyền giải quyết vụ việc cạnh tranh theo thủ tục phúc thẩm/giám đốc thẩmtheo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án hành chính
2.1.2 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
(i) Cục Quản lý cạnh tranh
Khác với vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh,đối với các khiếu nại về hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì Cục Quản
Trang 39lý cạnh tranh vừa có thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xử lý vụ việc, baogồm cả việc xử phạt hành chính, như là cơ quan giải quyết cấp “sơ thẩm”.Khiếu nại quyết định của Cục Quản lý cạnh tranh về việc xử lý vụ việc liênquan đến cạnh tranh không lành mạnh sẽ do Bộ trưởng Bộ Thương mại giảiquyết.
(ii) Thẩm quyền giải quyết của Bộ trưởng Bộ Thương mại
Theo quy định của Điều 107 Luật Cạnh tranh, Bộ trưởng Bộ Thươngmại có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc liênquan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Cơ quan quản lý cạnhtranh Khi giải quyết khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Thương mại cú các quyềntương tự như quyền của Hội đồng cạnh tranh, bao gồm: Giữ nguyên quyếtđịnh xử lý vụ việc cạnh tranh khụng lành mạnh trong trường hợp xét thấyviệc khiếu nại không đủ căn cứ; sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh nếu quyết định này được banhành không đúng pháp luật; hủy quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh khônglành mạnh và chuyển hồ sơ cho Cục Quản lý cạnh tranh trong trường hợpchứng cứ chưa được thu thập và xác minh đầy đủ Khi giải quyết khiếu nại,
Bộ trưởng Bộ Thương mại áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh vàpháp luật về xử lý vi phạm hành chính.22 Nếu đương sự không nhất trí vớiquyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì có quyền khởi kiện ra Toàhành chính giải quyết
(iii) Toà án nhân dân
Tương tự như vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnhtranh, Toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với quyếtđịnh của Bộ trưởng Bộ Thương mại về việc giải quyết khiếu nại quyết địnhcủa Cơ quan quản lý cạnh tranh trong vụ việc liên quan đến hành vi cạnhtranh không lành mạnh, theo thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
22 Khoản 2 Điều 56 Luật Cạnh tranh
Trang 402.2 Thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh
2.2.1 Ai có quyền “khởi kiện” vụ việc cạnh tranh?
Theo Điều 58 Luật Cạnh tranh, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại
về những hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh gây ra,đồng thời cũng có quyền khiếu nại cả những việc làm trái pháp luật tronghoạt động tố tụng cạnh tranh của các cơ quan và người có thẩm quyền hoặccủa bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó, nếu như họ cho rằng việc viphạm đó xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong trườnghợp các vi phạm nêu trên không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi íchcủa họ thì họ cũng có thể làm đơn tố cáo về hành vi vi phạm theo trình tự,thủ tục của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
2.2.2 "Khởi kiện" tại cơ quan nào?
Về cơ quan có thẩm quyền thụ lý đơn khiếu nại vụ việc cạnh tranh,Luật Cạnh tranh quy định rằng cơ quan duy nhất có thẩm quyền thụ lý khiếunại liên quan đến bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào của Luật này, baogồm hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, là CụcQuản lý cạnh tranh Hội đồng cạnh tranh và Toà án không có thẩm quyềnthụ lý đơn và hồ sơ khiếu nại (lần đầu) đối với bất kỳ vụ việc cạnh tranh nào
Về thủ tục tố tụng giải quyết khiếu nại cạnh tranh, Luật Cạnh tranhquy định, vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ được giảiquyết theo quy định của Luật này, còn vụ việc về cạnh tranh không lànhmạnh thì sẽ được giải quyết theo các quy định của Luật này và các quy địnhcủa pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
2.2.3 Điều tra vụ việc cạnh tranh
Như đã nêu ở trên, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan duy nhất cóthẩm quyền điều tra vụ việc cạnh tranh, theo thủ tục quy định tại Mục 4Chương V của Luật Cạnh tranh Đây là giai đoạn quan trọng trong tố tụngcạnh tranh nhằm xác định thị trường liên quan, thị phần của bên bị điều tratrên thị trường liên quan và các chứng cứ về hành vi vi phạm (đối với hành