1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận biến đổi khí hậu

11 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 24,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến đổi khí hậuBiến đổi khớ hậu trỏi đất là sự thay đổi của hệ thống khớ hậu gồm khớ quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi cỏc nguyờn nhõn tự nhiờn

Trang 1

Biến đổi khí hậu

Biến đổi khớ hậu trỏi đất là sự thay đổi của hệ thống khớ hậu gồm khớ quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi cỏc nguyờn nhõn tự nhiờn và nhõn tạo

Nguyờn nhõn chớnh làm biến đổi khớ hậu trỏi đất là do sự gia tăng cỏc hoạt động tạo ra cỏc chất thải khớ nhà kớnh, cỏc hoạt động khai thỏc quỏ mức cỏc bể hấp thụ

và bể chứa khớ nhà kớnh như sinh khối, rừng, cỏc hệ sinh thỏi biển, ven bờ và đất liền khỏc

Cỏc biểu hiện của sự biến đổi khớ hậu trỏi đất gồm:

Sự núng lờn của khớ quyển và trỏi đất núi chung

Sự thay đổi thành phần và chất lượng khớ quyển cú hại cho mụi trường sống của con người và cỏc sinh vật trờn trỏi đất

Sự dõng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập ỳng của cỏc vựng đất thấp, cỏc đảo nhỏ trờn biển

Sự di chuyển của cỏc đới khớ hậu tồn tại hàng nghỡn năm trờn cỏc vựng khỏc nhau của trỏi đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của cỏc loài sinh vật, cỏc hệ sinh thỏi và hoạt động của con người

Sự thay đổi cường độ hoạt động của quỏ trỡnh hoàn lưu khớ quyển, chu trỡnh tuần hoàn nước trong tự nhiờn và cỏc chu trỡnh sinh địa hoỏ khỏc

Sự thay đổi năng suất sinh học của cỏc hệ sinh thỏi, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, cỏc địa quyển

Cỏc quốc gia trờn thế giới đó họp tại New York ngày 9/5/1992 và đó thụng qua Cụng ước Khung về Biến đổi khớ hậu của Liờn Hợp Quốc Cụng ước này đặt ra mục tiờu ổn định cỏc nồng độ khớ quyển ở mức cú thể ngăn ngừa được sự can thiệp của con người đối với hệ thống khớ hậu Mức phải đạt nằm trong một khung thời gian đủ để cỏc hệ sinh thỏi thớch nghi một cỏch tự nhiờn với sự thay đổi khớ hậu, bảo đảm việc sản xuất lương thực khụng bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phỏt triển kinh tế tiến triển một cỏch bền vững

Trang 2

3 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu trong thời gian gần đây.

Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu Trái Đất bao gồm:

- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất

- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người

- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển

3.1 Sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu

- Tất cả các trạm đo nhiệt độ đều có thể đo, đánh giá và xác nhận được bằng chứng về biến đổi khí hậu Hiện nay, trong mấy chục năm vừa qua nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên tới 0,3 - 0,4 độ C và hiện đang có xu hướng tăng tiếp

- Theo các mô hình nghiên cứu trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể tăng từ 1,1 - 6 độ C, khả năng xảy ra từ 1,8 - 4 độ C trong đó tùy theo sự phát thải hiệu ứng nhà kính được cắt giảm đến mức độ nào để làm giảm bớt các khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính

- Nếu như ngay từ lúc này, nhân loại dừng phát thải khí nhà kính thì nhiệt

độ bề mặt Trái Đất vẫn tiếp tục nóng lên, nước biển vẫn tiếp tục dâng lên trong vòng 50 năm nữa Nhiệt độ trái đất nóng lên làm cho băng của các dãy Himalaya, Nam cực, Bắc cực và các vùng khác tan chảy Những núi băng này tan chảy sẽ làm cho mực nước biển tăng lên từ 28 - 43 cm Nhưng có thể mực nước biển này còn cao hơn nữa tùy theo sự phát thải của hiệu ứng nhà kính và tác động của con người gây ra

3.2 Sự gia tăng của mực nước biển

Từ năm 1961 đến 2003, mực nước biển toàn cầu đã tăng trung bình

1.8mm/năm Giai đoạn 1993 - 2003, tỷ lệ này đã tăng nhanh hơn khá nhiều,

khoảng 3,1mm/năm Cho dù tỷ lệ có sự tăng nhanh hơn trong giai đoạn 1993 đến

2003 phản ánh sự biến thiên trong thời kì 10 năm nhưng chưa thể kết luận được rằng sẽ có xu hướng gia tăng trong giai đoạn dài hơn Song có một sư tin chắc rằng mực nước biển đã được quan sát từ thế kỉ 19 đến thế kỉ 20 là có sự gia tăng, mực nước biển gia tăng trong suốt thế kỉ 20 ước chừng khoảng 0,17 m

3.3 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Trang 3

Như chúng ta đã biết một trong những tác hại của biến đổi khí hậu đó là sự gia tăng của mực nước biển, khiến cho nhiều vùng đất sẽ bị ngập sâu trong nước Việt Nam là một nước có bờ biển dài (3260km bờ biển chạy dọc theo chiều Bắc Nam), nằm ngay sát biển Đông_một trong những biển lớn của thế giới, vì vậy, Việt Nam được xếp vào một trong những nước có nguy cơ chịu tác động rất nhiều của việc biến đổi khí hậu, cụ thể là sự gia tăng của mực nước biển

Theo dự báo của Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu IPCC thì khu vực Đông Dương nhiệt độ sẽ gia tăng +1°C vào 2010 - 2039, và +3° đến +4°C vào

2070 – 2099; lượng mưa sẽ giảm 20 mm vào 2010 – 2039, rồi sau đó tăng +60 mm vào 2070 – 2099; mực nước biển dâng cao 6 cm/năm, đạt mức 20 cm vào 2030, và

88 cm vào 2100 Còn tại Việt Nam, nhiệt độ sẽ tăng từ 0,3 - 0,5 độ C đến năm

2010, từ 1- 2 độ C vào năm 2020, từ 1,5 - 2 độ C vào năm 2070 Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là Tây Bắc và Việt Bắc

Cùng với sự gia tăng của nhiệt độ thì trong những năm gần đây hiện tượng bão lũ cũng xảy ra với tần suất và cường độ mạnh hơn ở Việt Nam Hiện tượng bão

lũ này xảy ra đặc biệt nghiêm trọng ở hai vùng miền là miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Và chắc chắn hiện tượng này có liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu, bởi vì, bản chất của biến đổi khí hậu gây ra rất nhiều vấn đề trong đó có vấn

đề làm cho hiện tượng cực đoan của khí hậu tăng lên

Sự tác động của biến đổi khí hậu mà cụ thể là sự gia tăng của mực nước biển đang có xu hướng làm thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp của nước ta, đặc biệt

là các vùng đất ven biển Với trên 3.000km bờ biển, Việt Nam được coi là quốc gia

có mức độ dễ bị tổn thương cao hơn trước sự biến đổi khí hậu Các huyện ven biển tỉnh Nghệ An thời gian gần đây đang bị nước biển xâm lấn đến mức báo động, nhiều xã nằm cách bờ biển từ 5 đến 10km, nhưng đã và đang bị nước mặn tấn công ĐBSCL sẽ ngập 1.708km2 đất, đó là thông tin do Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường (KT-TV&MT) đưa ra tại hội thảo khoa học thường niên

2007 mới tổ chức tại TPHCM Theo thống kê, ĐBSCL có tổng diện tích

34.322km2, trong đó 18.066km2 đất thuộc các huyện ven biển Trong các thập kỷ gần đây, yếu tố khí tượng thuỷ văn tại ĐBSCL tiếp tục thay đổi theo chiều hướng xấu Các thiên tai như bão tố, lụt lội, xâm nhập mặn xảy ra thường xuyên hơn và khó dự đoán Dự đoán, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2-0,6m, sẽ có 1.708km2 đất bị ngập ảnh hưởng tới 108.267 người sinh sống Tệ hơn thế, trong trường hợp nước dâng cao hơn mức dự đoán-Viện trưởng Viện Khoa học KTTV MT, ông Trần Thục cho biết: "Chỉ cần nước biển dâng lên vài mét, chúng ta sẽ mất đi một diện tích đất khoảng 15.000-20.000km2 tại ĐBSCL"

Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng them mức độ hạn hán và lũ lụt ở nước ta

Dự án "Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Hương và chính sách thích nghi ở huyện Phú Vang, Huế" do Viện Khoa học KT-TV&MT thực hiện

Trang 4

cho thấy, tài nguyên nước tại lưu vực sông Hương đang biến đổi theo tác động của biến đổi khí hậu Nhiệt độ có xu hướng tăng dần lên Cường độ mưa đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, và trên phần lớn lãnh thổ, lượng mưa có xu hướng giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11 Trong khi đó, trong 3 tháng cuối năm 2007, lượng mưa ở Trung Bộ và Bắc Tây Nguyên vượt từ 100%-150% so với trung bình nhiều năm đã gây ra sáu trận lụt liên tiếp chưa từng có ở khu vực này gây thiệt hại nghiêm trọng Trái lại, ở khu vực Bắc Bộ, lượng mưa lại thấp hơn 50%-80% so với mức trung bình nhiều năm, nên lượng dòng chảy trên các dòng sông ở Bắc Bộ đang cạn kiệt nhanh Theo dự báo của Trung tâm Dự báo Khí

tượng-Thuỷ văn Trung ương (TTDBKTTVTƯ), mực nước hồ Hoà Bình đã xuống thấp tới mức kỷ lục so với trung bình nhiều năm Mực nước ngày 19.12, tại hồ Hoà B́nh là 114,60m, với lưu lượng nước chảy về hồ là 510m³/s Trong khi đó, mực nước cùng thời kỳ năm 2006 (năm có mực nước và lưu lượng đến hồ Hoà Bình thấp nhất trong chuỗi số liệu 100 năm) là 116,40m và lưu lượng nước về hồ là 570m³/s Cũng theo dự báo của TTDBKTTVTƯ, lượng nước thượng nguồn các sông ở Bắc Bộ từ Trung Quốc chảy về hầu như không có, nên tình trạng thiếu nước phát điện chắc chắn sẽ rất cao trong thời gian tới

4 Những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH ở Việt Nam

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô gây hạn hán, và quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt Nguồn nước ngầm bị suy giảm dẫn đến cạn kiệt do khai thác quá mức và thiếu nguồn bổ sung

Ngành nông nghiệp cũng sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH Do nhiệt độ tăng cao, vùng trồng cây nhiệt đới có xu hướng di chuyển về phía Bắc Vùng trồng cây

ôn đới có xu hướng giảm về diện tích Hạn hán và lũ lụt góp phần ảnh hưởng đến diện tích canh tác

Ngành lâm nghiệp bị ảnh hưởng do diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp bởi nước biển dâng Đa dạng sinh học giảm do các loài kém chịu hạn hán, ngập lụt có xu hướng bị tuyệt chủng, các loài có khả năng chống chịu hạn hán, lũ lụt sẽ phát triển Bên cạnh đó cháy rừng và sâu bệnh sẽ ảnh hưởng đến ngành lâm nghiệp

Các ngành khác cũng chịu ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau:

Vận tải và năng lượng

Dầu khí và kinh tế biển

Sức khỏe cộng đồng

Thủy sản

Trang 5

Trong báo cáo mới đây, ADB đã rút ra một số kết luận và khuyến cáo cho Chính phủ Việt Nam:

Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Trong thế kỷ XXI, những ảnh hưởng này còn trầm trọng và khốc liệt hơn nữa Theo ủy ban liên chính phủ về BĐKH, nếu không có các biện pháp mạnh mẽ để giảm lượng khí thải toàn cầu thì đến 2100, nhiệt độ Trái đất có thể tăng đến 4,8°C so với năm 1990

Cuộc chiến chống lại BĐKH đòi hỏi nỗ lực toàn cầu nhằm tìm ra giải pháp toàn cầu mang tính xây dựng và trách nhiệm

Là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề do BĐKH, Việt Nam cần đóng góp vào nỗ lực chung của thế giới bằng các chính sách nhằm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc thích ứng với các ảnh hưởng của BĐKH, nhưng vẫn cần phải cố gắng hơn nữa để thích ứng, nhất là trong các lĩnh vực lập kế hoạch, tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng, nhất là cho người nghèo Thi hành những chính sách tích cực trong các ngành kinh tế chịu ảnh hưởng của BĐKH

Đối với Việt Nam, ưu tiên thích ứng với BĐKH, nhưng cần tăng cường các nỗ lực làm giảm nhẹ tác nhân gây BĐKH Chính điều này cũng mang lại sức mạnh và tính cạnh tranh cho nền kinh tế Xây dựng nền kinh tế phát thải thấp với công nghệ tiên tiến, giảm phát thải do phá rừng

Các nguồn vốn tài trợ và chuyển giao công nghệ là rất cần thiết, góp phần thực hiện thành công các chính sách thích ứng và giảm nhẹ tác động BĐKH ở Việt Nam Vì vậy Chính phủ cần tăng cường khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn vốn vay của nước ngoài

Hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm tạo điều kiện cho việc đối phó có hiệu quả với các ảnh hưởng mang tính khu vực như nguồn nước, dịch bệnh

Các ảnh hưởng của BĐKH tác động đến nhiều ngành kinh tế quốc dân, đòi hỏi nỗ lực phối hợp liên ngành, liên bộ để đối phó

Cần có các nguồn vốn cấp thiết dành cho nghiên cứu, nhằm hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của BĐKH, đặc biệt là nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương Phát hiện các biện pháp hiệu quả và rẻ tiền nhằm thích ứng và giảm nhẹ ảnh hưởng của BĐKH

Khủng hoảng kinh tế là cơ hội để tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát thải thấp trên cơ sở đổi mới công nghệ

Trang 6

Một số giải pháp, chính sách cụ thể ứng phó BĐKH:

Các chính sách của Chính phủ góp phần làm giảm nhẹ tác nhân BĐKH, đó là giảm phát thải hiệu ứng nhà kính:

Áp dụng công nghệ, sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng

Tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo: điện mặt trời, điện gió

Trồng rừng và bảo vệ rừng

Cải tiến kỹ thuật tưới tiêu trong nông nghiệp

Bên cạnh đó, xu hướng Trái đất ấm lên là khó có thể đảo ngược Các chính sách nhằm thích ứng với BĐKH cần được thực hiện:

Thay đổi kỹ thuật canh tác (giống, thời vụ,…)

Nâng cấp công trình (thủy lợi, giao thông, )

2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam

a Tác động tới yếu tố tự nhiên và môi trường

Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn Năm 2010, nhiệt độ có khả năng tăng khoảng 0,3 - 0,50C và mực nước biển tăng thêm 9cm; tương tự, từ 1,1 - 1,80 C và 45cm vào năm 2100 Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,30C/thập niên So với hiện nay, vào năm 2070, dòng chảy sông/năm biến đổi trong khoảng từ +5,8 đến -19% đối với sông Hồng và từ +4,2 đến -14,5% đối với sông Mê Kông; dòng chảy kiệt biến đổi trong khoảng từ -10,3 đến -14,5% đối với sông Hồng và từ -2,0 đến -24, 0% đối với sông Mê Kông; dòng chảy lũ biến đổi trong khoảng từ +12,0 đến 0,5% đối với sông Hồng và từ +15,0 đến 7,0% đối với sông Mê Kông Xâm nhập mặn nước sông có thể lấn sâu nội địa tới 50 - 70km, tiêu diệt và phá huỷ nhiều loài sinh vật nước ngọt, 36 khu bảo tồn; trong đó, có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong diện tích bị ngập Hệ thống sinh thái cũng bị tác động tiêu cực; tại 2 vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các hệ sinh thái rừng và đất ven biển sẽ chịu nhiều thiệt hại

Trang 7

b Tác động tới phát triển kinh tế

BĐKH tác động đến hầu hết các ngành kinh tế, trong đó ngành nông - lâm nghiệp ảnh hưởng nhiều nhất

Có thể nêu ra hai khía cạnh bị tác động lớn nhất

Tần suất xuất hiện ngày càng nhiều các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, mưa lũ tăng tạo nguy cơ ngập lụt đối với các vùng đất thấp, điển hình như đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng nhiễm mặn, nhiễm phèn trên diện rộng làm thiệt hại đến mùa màng; hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng, có thể dẫn tới làm chết cây trồng hàng loạt Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, trong mùa khô, độ

ẩm của đất ở các vùng không có cây che phủ chỉ bằng 1/3 so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng che phủ, nhiệt độ trên bề mặt đất có thể tăng cao tới 50-60oC vào buổi trưa hè Những đặc điểm cơ lý của đất như độ tơi xốp, độ liên kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không thích hợp với trồng trọt Hàng triệu héc ta đất trống, đồi trọc mất rừng lâu năm, đất mặn bị biến đổi cấu tạo và lý hoá tính, trở nên

dễ bị xói lở, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện tượng kết vón và đá ong hoá, đất loại này hoàn toàn mất sức sản xuất nông, lâm nghiệp Chỉ tính riêng đợt rét kéo dài 33 ngày đầu năm 2008, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã có 33.000 con trâu, bò, 34.000 ha lúa đã cấy, hàng chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm nuôi tôm ở tất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ

đã chết và ước tính thiệt hại lên tới hàng ngàn tỉ đồng Hệ sinh thái rừng bị ản hưởng theo các chiều hướng khác nhau, nước biển dâng làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến rừng tràm, rừng trồng trên đất nhiễm phèn ở các tỉnh Nam Bộ Ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển, nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như trầm hương, hoàng đà, pơ mu, gỗ đỏ, lát hoa, gụ mật… có thể bị suy kiệt Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh… Qũy đất canh tác nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nói riêng bị thu hẹp đáng kể vì phần lớn đất trồng lúa nằm ở vùng đất thấp tại đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất lương thực; mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sinh nước ngọt, cùng với nguy cơ

Trang 8

nguồn nước sông bị suy giảm về lưu lượng, dẫn đến việc giảm năng lực nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long BĐKH cũng gây nhiều tác động tiêu cực tới trữ lượng các bãi cá và nghề đánh bắt trên các vùng biển nước ta Cường độ mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian ngắn dẫn đến sinh vật nước lợ và ven bờ, đặc biệt là loài nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò…) bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi Các loại cá nhiệt đới kém giá trị kinh tế tăng, ngược lại các loại cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm hoặc mất hẳn Thay đổi nhiệt độ còn là dịch bệnh xảy ra cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, cùng với môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại

c Tác động đối với đời sống - xã hội

Ở nước ta trong những năm gần đây, số lượng người mất nhà cửa và kinh tế lâm vào khó khăn sau mỗi trận bão, lũ lụt… là rất lớn Điển hình là cơn bão số 4 năm

2008 đã làm 162 người chết, làm sập, hỏng 11.500 căn nhà, trường học, gây ngập úng 27.200 ha lúa và hoa màu, làm sạt trôi và bồi lấp 2,3 triệu khối đất đá trên các công trình giao thông, thủy lợi và các khu nuôi trồng thủy sản, làm chết 28.000 gia súc, gia cầm, thiệt hại lên tới 1.900 tỉ đồng Hậu quả của thiên tai không chỉ dừng lại ở đó, ảnh hưởng của chúng còn tồn tại sau một thời gian dài, chất lượng sống con người ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu ăn, thiếu nhà ở, y tế và giáo dục không đảm bảo

Mới đây, theo báo cáo của Uỷ ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định, BĐKH gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng

nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… nhiều bệnh, dịch gia tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh sống, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian, như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường ruột và các bệnh khác… Những bệnh này, đặc biệt phát tán nhanh ở các vùng kém phát triển, đông dân cư

và có tỉ lệ đói, nghèo cao thuộc các nước đang phát triển Nước ta, trong thời gian qua cũng đã xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh…), nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra nhiều thiệt hại đáng kể

Về giao thông vận tải, thông tin liên lạc bị gián đoạn, các cơ sở hạ tầng, mạng

Trang 9

thông tin bị hư hại nghiêm trọng sau những trận thiên tai Việc củng cố, khắc phục sau các sự cố do BĐKH gây ra hết sức khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và kinh phí

3 Các giải pháp ứng phó với thiên tai do tác động của biến đổi khí hậu

a Để ứng phó với bão, lũ lụt trên toàn lãnh thổ và nước dâng do bão ở các vùng ven biển cần thực thi một số giải pháp:

- Thực hiện đầy đủ và có hiệu quả phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ)

- Tăng cường công tác dự báo thời tiết trên cơ sở hiện đại hoá ngành khí tượng thủy văn (cả về con người và cơ sở vật chất)

- Tăng cường công tác thông tin thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là hệ thống phát thanh để đến được các vùng sâu, vùng xa, ngư trường, hải đảo…

- Tăng cường cơ sở vật chất và mạng lưới cứu hộ thiên tai bão, lũ, đặc biệt là vùng núi, ven biển, hải đảo và các ngư trường biển

- Nhà nước quy hoạch, xây dựng các khu vực tránh bão, tránh lũ, vận động người dân (có điều kiện kinh tế) xây nhà kiên cố, nhà cao tầng nhằm hạn chế tối đa tổn thất về người và của Từng địa phương, vùng có phương án, tổ chức diễn tập theo phương án và tổ chức tốt cho người dân di chuyển đến nơi cao và an toàn trước các trận bão và lũ lụt, nước dâng có cường độ lớn

- Nhà nước có kế hoạch từng bước nâng cấp hệ thống đê biển, đê sông, trồng cây chắn sóng, trồng rừng ngập mặn ngoài đê để hạn chế tác động của bão, lũ và nước dâng

- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục vận đồng người dân nâng cao nhận thức và áp dụng các kĩ thuật giảm nhẹ, thích ứng với tình huống

Trang 10

- Thực hiện huy động kinh phí của xã hội và các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho các khu dân cư xây dựng các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả

- Tiến hành các giải pháp giảm thiểu tác động của xói lởi như điều tra hiện trạng, xây dựng giải pháp kĩ thuật phòng chống xói lở, đầu tư kiên cố hoá một số đoạn đê xung yếu, quy hoạch các điểm dân cư, các dự án kinh tế - xã hội vùng có nguy cơ xói lở, tổ chức và huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ, duy tu

đê điều hàng năm; đối với khu vực không có đê, cần tổ chức di dân ra khỏi vùng có nguy cơ sạt lở trong mùa mưa bão

b Các giải pháp ứng phó với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn, có thể áp dụng giải pháp trực tiếp và giải pháp hỗ trợ:

- Về nhóm giải pháp trực tiếp bao gồm:

+ Xây dựng các hệ thống đê bao và bờ ngăn chống lũ và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, kiên cố hoá và nâng cao đê biển, đê chắn lũ ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Trung Bộ

+ Thúc đẩy ngư nghiệp thông qua ươm, nuôi, đa dạng hoá các mô hình thực tiễn nuôi các loài thủy sản có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các vùng khác

+ Mở rộng diện tích rừng ngập mặn ở vùng ven biển, ven sông có sự tham gia của cộng đồng địa

phương

+ Xây dựng các trạm khai thác nước sạch và cung cấp nước sạch cho các cộng đồng vùng ven biển với

các phương án công nghệ: khai thác nước ngầm tầng sâu ở vùng đồng bằng ven biển; xây dựng các hồ chứa nước ngọt ở vùng cao liền kề; lọc nước mặn bằng công nghệ thẩm thấu ngược

Ngày đăng: 21/04/2016, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w