Theo địa lý tự nhiên Tây Nguyên Việt Nam là vùng cao nguyên gồm 5 tỉnh,được sắp xếp theo thứ tự từ bắc xuống nam: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, và Lâm Đồng. Nam Bộ bao gồm 18 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía Nam và hai thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ. Các tỉnh Miền Tây hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây Nam Bộ. Nhưng theo cách gọi ngắn gọn của người Nam Việt là Miền Tây bao gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương gồm có: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau.....xem tiếp để hiểu
Trang 2Danh sách 63 tỉnh thành trên cả nước
Trang 3Theo địa lý tự nhiên
Tây Nguyên Việt Nam là vùng cao nguyên gồm 5 tỉnh,được sắp xếp theo thứ tự từ bắc xuống nam: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, và Lâm Đồng
Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc
Campuchia Kon Tum có biên giới phía tây giáp với Lào và Campuchia
Trang 4Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông thì chỉ có chung đường biên giới với Campuchia Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề
Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên Mdrak cao khoảng 500m, Đắk Lắk cao khoảng 800m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, Lâm Viên cao khoảng 1500m và Di Linh cao khoảng 900-1000m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam)
Tây Nguyên có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai), Trung Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam
Với đặc điểm đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ
Tây Nguyên là khu vực ở Việt Nam có nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn
Khí hậu
Khí hậu được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400-500 m khí hậu tương dối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên
1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới
Dân cư, văn hóa Nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia
Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông
Lịch sử Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số,
chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa nhằm cướp bóc nô lệ Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của vương quốc Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Ðá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Ðá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay
Tuy có sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn Thời Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789)
Sang đến triều Nguyễn, quy chế dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, chủ yếu người Việt vẫn
Trang 5chú ý khai thắc miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các
bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ)
Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên
Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayrena sang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số Ông ta thành lập vương quốc Sédan có quốc kỳ,
có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayrena về châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng quang” thay Mayrena Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý của Công
sứ Quy Nhơn Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải tán
Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Liang Biang Ông đã
đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này
Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam Vì vậy, năm 1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung kỳ Năm 1898, vương quốc Sédan bị giải tán Một tòa đại lý hành chính được lập ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây
Năm 1900, Toàn quyền Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo Những thực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các
đồ điền đồng thời cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được
Các tỉnh
Từ 1976 đến đầu thập kỷ 1990, Tây Nguyên gồm 3 tỉnh là Gia Lai-Công Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng Sau đó tỉnh Gia Lai-Công Tum được chia thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum (thay đổi cả cách viết chính thức tên tỉnh) Tỉnh Đắc Lắc chia thành hai tỉnh: Đắk Lắk và Đắk Nông
Hiện tại, địa bàn Tây Nguyên có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng
Nam Bộ bao gồm 18 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía Nam và hai thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh
và thành phố Cần Thơ
Trang 6Khu vực này chia làm 2 vùng chính:
Vùng Đông Nam Bộ có 5 tỉnh và 1 thành
phố:
5 tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai,
Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu
Thành phố Hồ Chí Minh
Vùng đồng bằng sông Cửu Long, còn gọi là
Tây Nam Bộ hay miền Tây, có 12 tỉnh và 1
thành phố:
12 tỉnh: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang,
An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu
Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà
Mau
Thành phố Cần Thơ
Dựa trên cách phân chia vùng theo địa lý kinh tế thì miền Nam Việt Nam, còn được gọi là Nam Bộ, bao gồm các tỉnh ở phía nam Tây Nguyên và phía tây tỉnh Ninh Thuận Vùng lãnh thổ này còn được chia thành 2 vùng lãnh thổ nhỏ là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Khái niệm này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay Đây là cách chia Việt Nam thành 3 miền: Bắc (Bắc Bộ), Trung (Trung Bộ) và Nam (Nam Bộ)
13 tỉnh Miền Tây Nam Bộ
Các tỉnh Miền Tây hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây Nam Bộ Nhưng theo cách gọi ngắn gọn của người Nam Việt là Miền Tây bao gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương gồm có: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau
Trang 7ĐBSCL có đường bờ biển dài trên 700 km với khoảng 360.000km² khu vực đặc quyền kinh tế Phía Tây Bắc giáp Campuchia Phía Đông Bắc tiếp giáp Vùng Đông Nam Bộ Phía Đông giáp biển Đông Phía Nam giáp Thái Bình Dương Phía Tây giáp vịnh Thái Lan Đây là vị trí thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Giới thiệu sơ nét về 13 tỉnh ở Miền Tây như sau:
Khí hậu nóng ẩm quanh năm
G i là chín r ng là do có chín c a sông ọ ồ ử đổ ra bi n ó là:ể đ
- Sông Ti n có lòng sông r ng v i nhi u cù lao gi a dòng, ch y qua Tân Châu (An Giang), H ng Ng ề ộ ớ ề ở ữ ả ồ ự
và Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến Cai L y (Ti n Giang) thì chia làm b n sông ậ ề ố đổ ra bi n b ng sáu c a:ể ằ ử
Sông M Tho, ch y qua t nh l t nh Ti n Giang là thành ph M Tho và phía nam Gò Công, ra bi n b ng ỹ ả ỉ ỵ ỉ ề ố ỹ ể ằ
C a Ti u (1) qua ử ể đường sông C a Ti u và C a ử ể ử Đại (2) qua đường sông C a ử Đại
Sông Ba Lai ch y qua phía b c t nh B n Tre (tên c Ki n Hòa), ra C a Ba Lai (3).ả ắ ỉ ế ũ ế ử
Sông Hàm Luông, ch y qua phía nam t nh B n Tre, ra C a Hàm Luông (4).ả ỉ ế ử
Sông C Chiên, làm thành ranh gi i t nh B n Tre-Trà Vinh (tên c V nh Bình), ổ ớ ỉ ế ũ ĩ đổ ra bi n b ng C a C ể ằ ử ổ
Diện tích: 4491,9km²
Dân số (năm 2013): 1.469.900 người
Phân chia hành chính gồm: 1 thành phố, 1 thị xã, 13 huyện
2/ Tiền Giang:
Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc vùng ĐBSCL, vừa nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN), cách TP Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và cách TP Cần Thơ 90 km về hướng Bắc Về ranh giới hành chính, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An và TP Hồ Chí Minh
Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện Trong đó có với 173 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 8 thị trấn, 28 phường và 139 xã
Trang 8bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang
Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 1 thị xã và 6 huyện Trong đó có 5 thị trấn, 10 phường và 94 xã
Tỉnh Bến Tre hiện có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố và 8 Huyện), Trong đó có với 164 đơn
Campuchia, phía nam giáp An Giang và Cần Thơ có đường biên giới giáp với Campuchia có chiều dài hơn
50 km với 4 cửa khẩu,trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế là Thường Phước và Dinh Bà
Diện tích: 3.378,8 km²
Dân số (năm 2013): 1.680.300 người
Tỉnh Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện Trong đó có 9 thị trấn, 17 phường và 119 xã
6/ Trà Vinh:
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Cần Thơ 95 km Được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cung Hầu và Định An nên giao thông đường thủy có điều kiện phát triển.Trà Vinh là tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Vĩnh Long, phía Nam giáp Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre, có 65 km bờ biển
Tỉnh Trà Vinh có tổng số xã/phường/thị trấn: 106; xã: 85, phường: 11, thị trấn: 10
Phía bắc giáp tỉnh An Giang, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang
Trang 9Thành phố Cần Thơ được chia làm 9 đơn vị hành chính gồm 5 quận và 4 huyện Tổng số thị trấn, xã, phường là 85, trong đó có 5 thị trấn, 44 phường và 36 xã.
Hậu Giang có 8 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 5 huyện Với 76 đơn vị hành chính cấp
xã, trong đó có 12 phường, 10 thị trấn & 54 xã:
Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã , 5 huyện , trong đó có 63 đơn
vị hành chính cấp xã, gồm có 10 phường, 5 thị trấn và 49 xã
Diện tích: 2.526 km²
Dân số (năm 2013): 876.800 người
11/ Sóc Trăng:
Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 231 km, cách Cần Thơ 62
km, nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Hậu Giang, Thành phố Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau Địa giới hành chính của Sóc Trăng ở phía bắc và tây bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía tây nam giáptỉnh Bạc Liêu, phía đông bắc giáp tỉnh Trà Vinh, Phía Đông và đông nam giáp Biển Đông
Tỉnh Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 Thành phố, 2 thị xã, 08 huyện, trong đó có 17 phường, 12 thị trấn và 80 xã
Tỉnh có 2 thị xã, 11 huyện, 111 phường, xã, thị trấn và hai huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải
Trang 10Tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 8 huyện Trong đó có 9 thị trấn, 10 phường và 82 xã.
Diện tích: 5.294,9 km²
Dân số (năm 2013): 1.219.900 người
VÙNG ĐÔNG NAM BÔ
Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là: TP Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu Phía bắc- tây bắc giáp Campuchia, phía nam giáp biển Đông, phía tây-tây nam giáp Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long, phía đông-đông nam giáp Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Vùng có diện tích tự nhiên 23.605 km2, chiếm 7,1% diện tích cả nước Theo
số liệu tổng điều tra dân số tại thời điểm 01/4/2009, Vùng Đông Nam Bộ có khoảng 14 triệu người, chiếm 16,3% dân số cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh chiếm 51% Mật độ dân số của Vùng là 594 người/km2, gấp gần 2,3 lần mật độ dân số chung của cả nước Vùng có tỷ lệ tăng dân số cao nhất cả nước (3,2%/năm), do thu hút nhiều dân nhập cư từ vùng khác đến sinh sống
Vùng Đông Nam Bộ có vị thế địa chính trị và an ninh quốc phòng quan trọng hàng đầu ở khu vực phía nam Việt Nam Bên cạnh đó, Vùng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của cả nước; hội tụ phần lớn các điều kiện và lợi thế nổi trội để phát triển công nghiệp, dịch
vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa–hiện đại hóa; đặc biệt là phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu ứng dụng và triển khai khoa học- công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao,…
Trang 11Vùng Đông Nam Bộ là khu vực phát triển kinh tế năng động với mức tăng trưởng cao, nơi tập trung nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp thương mại, dịch vụ, khoa học–kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế, có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề cao, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ; có hệ thống đô thị phát triển, các khu công nghiệp phát triển mạnh trở thành trung tâm và đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, được gắn kết bởi đường bộ, đường biển, đường hàng không, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội Vùng cũng như mở rộng các quan hệ kinh tế liên vùng và quốc tế.
Các lợi thế của Vùng bao gồm:
- Thế mạnh về vị trí: Đông Nam Bộ có cửa ngõ phía tây liên hệ với Campuchia và các nước Thái Lan,
Malaysia thông qua mạng đường bộ xuyên Á, cửa ngõ phía đông liên hệ với các nước trên thế giới thông qua hệ thống cảng biển Sài Gòn, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thị Vải Việc hình thành cửa ngõ phía đông
và phía tây đã tạo lập hành lang kinh tế đông–tây, nơi diễn ra nhiều hoạtđộng kinh tế sôi động trong Vùng, đồng thời tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào Vùng Ngoài ra, vùng này nằm kề đồng bằng sông Cửu Long–vùng lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước
-Thế mạnh về giao thông: Trước hết, đó là hệ thống các trục giao thông đường bộ, đường sắt, đường
biển và đường hàng không khá tốt; ngoài ra còn có đầu mối giao thông và các tuyến giao thông quan trọng mang ý nghĩa cả nước và quốc tế như: sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (tương lai cả sân bay Long Thành, tỉnh Đồng Nai), hệ thống cảng Sài Gòn, Vũng Tàu-Thị Vải, đường xuyên Á nối liền các nước Đông Nam Á, đường sắt Bắc–Nam, quốc lộ 1A, quốc lộ 51, QL 13, QL 14 nối với Tây Nguyên Hệ thống
hạ tầng giao thông này tạo điều kiện thuận lợi cho vùng có thể mở rộng quan hệ kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải Miền Trung trong việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm
- Thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên: Đông Nam Bộ có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhất và rất
quan trọng đối với cả nước là dầu mỏ và khí đốt, tập trung ở vùng biển Bà Rịa-Vũng Tàu; trữ lượng dầu mỏ chiếm khoảng 93,3% trữ lượng dầu đã xác minh của cả nước; trữ lượng khí chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước Dầu mỏ và khí đốt là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng hiện nay và là nguồn nguyên, nhiên liệu cho công nghiệp hóa dầu, công nghiệp điện trong tương lai
Các vùng đất bazalt khá màu mỡ chiếm tới 40% diện tích của Vùng, nối tiếp với miền đất bazalt của Nam Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ Đất xám bạc màu (phù sa cổ) chiếm tỉ lệ nhỏ hơn chút ít, phân
bố thành vùng lớn ở các tỉnh Tây Ninh và Bình Dương Đất phù sa cổ tuy nghèo dinh dưỡng hơn đất basalt, nhưng thoát nước tốt Nhờ có khí hậu cận xích đạo, đất đai màu mỡ và mạng lưới thủy lợi được cải thiện, Đông Nam Bộ có tiềm năng to lớn để phát triển các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, điều, hồ tiêu), cây ăn quả và cả cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía, thuốc lá,…) trên quy
mô lớn