Sổ tay hàng hải - Tập 2 - Chương 47: Bảo hiểm hàng hải
Trang 147 BẢO HIỂM HÀNG HAI
47.1 Những đặc điểm của bảo hiểm hàng hải
Nguyên tắc khái quát của luật bảo hiểm định nghĩa bảo hiểm là một giao kèo hợp pháp
giữa người bảo hiểm (một các nhân hay một tổ chức) với người được bảo hiểm (cá nhận hay
tổ chức) trong đó người được bảo hiểm đông ý đóng góp một khoản tién để đổi lấy những
cam kết về khoản tiền bồi thường cho những rũi ro có thể xây ra đối với đối tượng được bảo
hiểm Bảo hiểm hàng hải có những đặc điểm sau đây:
47.1.1 Trách nhiệm bảo hiểm chỉ giới hạn trên mặt nước
Trong bảo hiểm hàng hải, trách nhiệm báo hiểm là những tổn thất gây nên bởi những rủi ro phát sinh khi tàu thuyền chạy biển hay neo đậu, những rủi ro đó bất kể tàu thuyền chạy hay
neo đậu, nói chung đều giới hạn trên mặt nước Tuy nhiên cũng có ngoại lệ, như xưởng đóng tàu nhận đóng tàu mới, từ sau khi đặt sóng đáy cho đến trước lúc hạ thuỷ, hay khi thân tàu còn nằm trên triển đà thì những rủi ro có thể xảy ra trên lục địa Xưởng đóng tàu trong
quá trình đồng tàu, để để phòng những bất trắc, cũng có thể mua bảo hiểm tàu thuyền trên
mặt nước để được bồi thường rủi ro
47.1.2 Phạm vỈ bảo hiểm bao gồm bôi thường tổn thất và trách nhiệm đối với bên thứ ba
Bảo hiểm tàu thuyển, ngoài việc gánh vác trách nhiệm đối với những tổn thất của bản thân tàu thuyén theo các điểu kiện bảo hiểm quy định còn phải gánh vác trách nhiệm đối với bên thứ ba phát sinh do tàu thuyển được bảo hiểm đâm va với tàu thuyền của họ Ngoài ra
còn phải trầ chỉ phí cứu trợ và các chi phí cần thiết khác
47.1.3 Bảo hiểm khi chuyển giao quyền sở hữu tàu thuyền
Khi chuyển giao quyển sở hữu tàu thuyển thì không thể đồng thời chuyển giao hợp đồng bảo hiểm Trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, khi tàu thuyển được bán hoặc chuyển
nhượng, trừ khi có thông báo trước và được người bảo hiểm đồng ý, trách nhiệm bảo hiểm
của người bảo hiểm sẽ tự nhiên kết thúc từ khi tàu thuyển được bán hay chuyển nhượng,
hợp đồng bảo hiểm không còn hiệu lực
47.2 Hợp đồng bảo hiểm hang hai (Marine Insurance Contract)
Theo Điễu 224 Bộ luật hàng hải VN 2005 thì “Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng
bảo hiểm các rủi ro hàng hải, theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cách thức và điều kiện
đã được thoả thuận trong hợp đồng”
47.2.1 Đơn bảo hiểm tàu biển theo chuyến (Voyage Policy)
Đơn báo hiểm chuyến là một hợp đồng bảo hiểm những rủi ro cho từng chuyến đi từ một
cảng đến một hoặc vài cảng khác không kể thời gian của hành trình đài hay ngắn Đơn bảo hiểm chuyến có thể dùng cho từng chuyến riêng biệt cũng có thể dùng cho nhiều chuyến
nối tiếp nhau, chẳng hạn cả chuyến đi và chuyến về, tuỳ theo quy định của đơn Loại đơn
SO TAY HANG HAI 826
Trang 2bảo hiểm này thông thường được đùng để bảo hiểm hàng hoá, đôi khi dùng để bảo hiểm cước phí vận chuyển, ngày nay rất ít khi dùng để báo hiểm thân tàu
47.2.2 Đơn bảo hiểm tàu biển dinh han (Time Policy)
Hợp đồng (đơn) bảo hiểm định hạn là một hợp đồng chỉ bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm trong một thời gian xác định nào đó, ví dụ từ 0 giờ ngày 1 tháng 5 năm 2006 đến 0 giờ ngày
1 tháng 5 năm 2007 Thông thường, loại hợp đồng bảo hiểm này không kéo đài quá 12 tháng, muốn kéo dài thời hạn người ta dùng “Điều khoản gia hạn” (Continuation Clause), theo điều khoắn này trong trường hợp hợp đẳng đã hết hạn 12 tháng mà tàu còn đang trên
biển hoặc ở cảng ghé, cầng lánh nạn thì người bảo hiểm thoả thuận tiếp tục bảo hiểm cho
tới khi tàu đến cảng đích và phải nộp thêm một khoản phí bảo hiểm tương Ứng (pro rate
premium) và người được bảo hiểm phải có thông báo cho người bảo hiểm
Đơn bảo hiểm định hạn thường được sử dụng trong trường hợp bảo hiểm thân tàu, Nhưng cũng có trường hợp chủ tàu chọn cách bảo hiểm tàu của họ theo từng chuyến riêng biệt
47.2.3 Don bao hiém hén hgp (Mixed Policy)
Đơn bảo hiểm hỗn hợp (Mixed Policy) là đơn bảo hiểm trong đó kết hợp đơn bảo hiểm chuyến và định hạn (Voyage and Time Policy) Với loại don này thân và máy tàu được bảo hiểm trong một chuyến xác định và một khoắn thời gian xác định sau khi tàu đến cảng
đích, chẳng hạn bảo hiểm chuyến từ cảng A đến cảng B và bảo hiểm định hạn 60 ngày sau
khi đến cảng B
47.2.4 Bon bao hiểm bao (Floating policy)
Đơn bảo hiểm bao là một loại hợp đồng nhận bảo hiểm cho một khối lượng hàng hoá được vận chuyển cho nhiều chuyến kế tiếp nhau mà khi ký hợp đồng bảo hiểm, cả đôi bên — người được bảo hiểm và người bảo hiểm — chưa biết chính xác khối lượng hàng hoá đó là bao nhiêu Trong hợp đồng quy định rõ cứ mỗi lần vận chuyển hàng hoá trong khối lượng nói trên người được bảo hiểm khai báo đẩy đứ các chỉ tiết cần thiết, người bảo hiểm ký chấp nhận vào giấy báo và coi như chuyến hàng đó đã được bảo hiểm Người được bảo
hiểm đắm bảo trả đủ phí bảo hiểm cho người bảo hiểm Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm
bao đơn giản và đành mọi sự dễ dàng cho người được bảo hiểm
Trong đơn bảo hiểm bao còn có đơn bảo hiểm mở hay đơn bảo hiểm bao định hạn (Open Policy, Open Cover) Với loại đơn bảo hiểm này, người bảo hiểm nhận bảo hiểm cho toàn
bộ số hàng của người được bảo hiểm trong thời gian xác định
47.2.5 Nội dung chính của đơn bảo hiểm tàu thuyền
Trong đơn bảo hiểm tàu thuyền thường có các nội dung sau day,
= Tén ngudi dude bao hiém + Phạm vi chuyến đi
„_ Cảng đăng ký «Phi bdo hiém
Trang 3_ Gía trị bảo hiểm - Tên người bảo hiểm
© Số tiển bảo hiểm - - Ký tên, Ngày tháng năm
„ Điều kiện bảo hiểm
47.2.6 Mật vài thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm hàng hải
1 Người bảo hiểm (Insurer)
Người chịu trách nhiệm bảo hiểm cho người khác, thu phí bảo hiểm và bỗi thường cho người khác nếu có rủi ro Người bảo hiểm bao gồm là Công ty bảo hiểm (Insurance Company) hoặc người bảo hiểm (Unđerwriter)
2 Người được bảo hiểm ( Insured/Assured)
Là người đem bảo hiểm đối tượng bảo hiểm của mình, đóng phí bảo hiểm và được bổi
thường khi xảy ra rủi ro đối với đối tượng bảo hiểm
3 Đối tượng bảo hiểm ( Subject Matter Insured)
Vật chất hay quyền lợi vật chất có thể bi de doa bởi các rủi ro gây nên tổn thất phải được bảo hiểm Trong bảo hiểm hàng hải, đối tượng bảo hiểm rất rộng Tất cả tài sản hoặc quyền
lợi tham gia vào vận tải trên biển có thể quy ra tiễn đều là đối tượng bảo hiểm hàng hải,
Theo đặc tính có thể chia làm mấy loại sau đây,
a) Tàu, hàng hoá, và các tài sản có liên quan khác,
b) Cước phí, tiễn hoa hồng, các lợi ích chờ đợi ở cảng, lương thuyền viên
c) Trách nhiệm bổi thường của chủ tàu đối với tổn thất của bên thứ ba do hải tổn hoặc sự
cố gây nên
đ) Tái bảo hiểm
4 Người tái bảo hiểm ( Reinsurer)
Người nhận bảo hiểm lại đối tượng bảo hiểm của một nhà bảo hiểm khác
5 Người được tái bảo hiểm
Người bảo hiểm đem đối tượng mà mình bảo hiểm tái bảo hiểm cho người khác
47.2.7 Giá trị bảo hiém ( Insured Value)
Một trong những nội dung cơ bản của đơn bảo hiểm là phải ghi giá trị tài sản được bảo
hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm do người được bảo hiểm khai báo và người bảo hiểm
chấp nhận
Giá trị bảo hiểm của tàu biển là tổng giá trị của tàu biển vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm gồm máy móc, trang bị, phụ tùng cộng với phí bảo hiểm
Đối với hàng hoá, trị giá hàng boá bảo hiểm là trị giá hàng hoá được khai báo Hoá đơn của
hàng hoá là một bằng chứng để xác định trị giá hàng hóa cộng với tiễn cước
Ngoài trị giá hàng hoá tại cảng đỡ hàng, người bảo hiểm còn bảo hiểm cả số lãi ước tính
của hàng hoá nghĩa là tiền chênh lệch giữa trị giá hàng hoá ở cắng xuất phát và trị giá hàng hoá ở cảng đến cuối cùng, tức số tiền lẩi mà người có hàng trù tính thu được khi bán hàng
SO TAY HANG HAI 828
Trang 4Giá trị bảo hiểm tién cước vận chuyển là tổng số tiền cước vận chuyền cộng với số tiễn bảo hiểm
47.2.8 Số tiền bảo hiểm (Sum Insured)
Đó là khoản tién nhất định ghỉ trong đơn bảo hiểm để xác định trách nhiệm của người bảo
hiểm khi bồi thường Đồ là mức tối đa mà người bảo hiểm có thể chỉ trầ cho người được bảo
hiểm và cũng là căn cứ để tính phí bảo hiểm Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm người được
bảo hiểm phải kê khai số tiễn cần bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm
47.2.9 Phí bảo hiểm (Primium)
Phí bảo hiểm là số tiền mà người mua bảo hiểm trả cho người bảo hiểm về việc họ bảo
hiểm cho tài sản của mình Trong bảo hiểm hàng hải phí bảo hiểm được quy định theo một
tỷ lệ nhất định của giá trị được bảo hiểm, tỷ lệ này lấy căn cứ theo giá biểu phí bảo hiểm được các tổ chức bảo hiểm tính toán và công bố trên cơ sở số liệu thống kê về các rủi ro
cũng như mức độ tổn thất ở nhiều dạng khác nhau trong một khoản thời gian nhất định nào
đó
Trong tính toán của mình, người bảo hiểm gọi phí bảo hiểm này là phí bảo hiểm mộc (Gross premium) Phí bảo hiểm mộc gồm hai thành phần,
a Phí bảo hiểm tịnh (Net premium) là số tiển mà người bảo hiểm thu nhằm lập quỹ bêi
thường tổn thất
b Khoản phụ thu (Loading of the premium) bling một số phân trăm của phí bảo hiểm tịnh nhằm trang trải các phí quần lý, hành chính của người bảo hiểm đảm bảo có mức lãi kinh
doanh nhất định để lập quỹ dự phòng trong trường hợp phải bồi thường những tổn thất vượt
quá dự tính
47.2.10 Miễn bêi thường (Franchise)
Đã từ lâu hình thành một nguyên tắc trong hàng hải rằng nếu người được bảo hiểm cam kết
chịu một phân trách nhiệm đối với các rủi ro thì họ hành động một cách thận trọng hơn để tránh rủi ro so với khi toàn bộ rủi ro đều được bù đắp bởi người bảo hiểm Áp dụng nguyên
tắc này, người ta gọi cách quy định miễn bi thường những khiếu nại tổn thất riêng tương
đối nhỏ do người được bảo hiểm đưa ra là “miễn bồi thường” (Franchise)
Có bai loại miễn giảm bồi thường: miễn giảm có trừ và miễn giảm không trừ,
4) Hàng hoá được bảo hiểm với mức “miễn bồi thường có trừ” (Exess, hoặc Deductible
franchise) : là khi tổn thất vượt quá mức quy định miễn bồi thường thì người bảo hiểm chỉ
bồi thường phân vượt quá mức miễn bồi thường Tất nhiên khi tổn thất thấp hơn mức miễn giảm trở xuống thì người bảo hiểm sẽ không đến bù Ví dụ, trong đơn bảo hiểm quy định
mức miễn bồi thường 5% có trừ, chẳng hạn khi tổn thất 9% thì người bảo hiểm chỉ đến bù 4% tức là bị trừ đi 5%
b) Khi hàng hoá được bảo hiểm với mức “miễn bổi thường không trừ” (Non - deductible) :
là khi mức tổn thất vượt quá tỷ lệ bồi thường thì người bảo hiểm đến bù tất cả phần tổn thất
Trường hợp này theo ví dụ đưa ra ở trên, khi tổn thất hàng hoá là 9% thì người bảo hiểm
đền bù cả 9%, chỉ miễn bồi thường khi tổn thất dưới 5%
47.3 Bảo hiểm thân tàu (Hull Insurance)
Trang 5Tàu thuyền trong quá trình hoạt động trên biển có thể chịu những tổn thất xảy ra do tai hog
tự nhiên và sự cố bất ngờ, những tổn thất đó khó có thể hoàn toàn tránh khỏi Nói chung khi bị tổn thất đều thông qua phương thức bảo hiểm để nhận được sự bù đấp về mặt kinh tế, 47.3.1 Đối tượng và quyền lợi bảo hiểm
Bảo hiểm thân tàu là loại hình bảo hiểm đối với tổn thất hư hồng, mất mác thân vỏ tàu và máy tàu khi hoạt động trên biển Ở một số quốc gia có thể bảo hiểm máy và bảo hiểm thân
vỗ tàu riêng biệt Sau khi người mua bảo hiểm nhận được đơn bảo hiểm do người bảo hiểm
ký phát thì trách nhiệm đôi bên được xử lý theo quyển và nghĩa vụ quy định trong đơn bảo
hiểm mà đôi bên đã thoã thuận
Quyền lợi được bảo hiểm là quyền lợi được bôi thường khi có tổn thất xây ra
47.3.2 Gia trj bdo hiểm và số tiên bảo hiểm
Là tổng giá trị của con tàu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm bao gồm thân vỏ, máy móc, thiết bị, phụ tùng thiết bị dự trữ, bao gồm cả phí bảo hiểm con tàu (tuỳ theo hợp đồng)
Giá trị bảo hiểm là giá trị của chiếc tàu do người được bảo hiểm khai báo, được goi 1a tri giá bảo hiểm thoã thuận (Agreed Insured Value) Khi người được bảo hiểm khai giá trị tài
sẵn thấp hơn giá trị thực tế thì lúc bêi thường người bảo hiểm áp dụng bôi thường theo tỷ lệ
giữa trị giá bdo hiểm và trị giá thực tế Như vậy, việc khai báo không đúng trị giá tài sản trong đơn bảo hiểm coi như là một dạng bảo hiểm mà trong đó chỉ bảo hiểm một phan tài
sản được bảo hiểm mà thôi
Số tiền bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm bôi thường của người bảo hiểm đối với con tau, được thể hiện là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm của con tàu, là căn cứ để xác định
số tiễn bồi thường của người bảo hiểm cho người được bảo hiểm đối với mỗi vụ tai nạn hay
tổn thất
47.3.3 Các điều kiện bảo hiểm thân tàu
Trong hợp đồng bảo hiểm có những điều kiện bảo hiểm khác nhau trong đó quy định những loại rủi ro được bảo hiểm, người mua bảo hiểm có thể tùy ý chọn lựa những điều kiện thích
hợp với loại tàu, tình hình sử dụng, tính chất hàng hoá vận chuyển để mua bảo hiểm Nội dung của các điều kiện bảo hiểm thường được thể hiện bằng văn bản trong các điều khoản bảo hiểm (Institute Clause) khác nhau trong đơn bảo hiểm Dưới đây là một vài điểu kiện bảo hiểm thân tàu thông dụng
1 Bảo hiểm tổn that toan b6 (Total Los Only- TLO)
Tén thất toàn bộ do các nguyên nhân sau đây gây ra đối với tàu thuyển được bảo hiểm, thi người bảo hiểm bôi thường,
1) Những rồi ro do thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ
2) Những ẩn tật của thân tàu hoặc máy tàu
3) Sơ suất của thuyền trưởng, thuyền viên hoặc hoa tiêu
Nghĩa là tổn thất phải đạt tới mức độ zổn thất toàn bộ thực tế hoặc tổn thất toàn bộ ước tính thì người được bảo hiểm mới có thể đòi bồi thường Còn lại đối với những tổn thất khác như tổn thất bộ phận, trách nhiệm đâm va, phần phân bổ trong tổn thất chung, chi phí cứu hộ đều do người được bảo hiểm tự mình gánh chịu
Trang 6Bảo hiểm tổn thất toàn bộ là một dạng bảo hiểm có phạm vi hẹp nhất trong bảo hiểm tàu thuyén
2 Bảo hiểm mọi rủi ro (AlI Risk)
Với hình thức này người bảo hiểm chịu bổi thường cho tổn thất toàn bộ và tổn thất bộ phận
đo,
1) Thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ,
2) Ấn tật 4a thân tàu hoặc máy tàu
3) Sơ suất của thuyền trưởng, thuyên viên hoặc hoa tiêu gây ra đối với tàu thuyển được bảo hiểm,
4) Ngoài ra người bảo hiểm còn bồi thường những trách nhiệm và chỉ phí sau đây do những nguyên nhân nói trên gây ra:
a) Phần phân bổ tổn thất chung
b) Trách nhiệm đâm va
Về trách nhiệm đâm va, tuỳ theo các điểu khoản bảo hiểm tàu thuyễn quốc tế, người bảo hiểm có thể bổi thường 3⁄4, cũng có thể bổi thường 4/4 tổn thất và chỉ phí cho người được
bảo hiểm, nhưng trách nhiệm bổi thường trong trường hợp thứ nhất không vượt quá 3⁄4 giá trị của chiếc tàu được bảo hiểm, trong trường hợp sau, không vượt quá giá trị chiếc tàu bảo hiểm
c) Chỉ phí cứu hộ bao gồm chi phí cứu hộ (Salvage Charge) trả cho bên thứ ba tiến hành cứu
hộ khi tàu được bảo hiểm có sự cố rủi ro và những chỉ phi phát sinh do người được bảo hiểm
tự mình cứu nạn (Sue and Labour Charge)
đ) Chỉ phí tự cầu bên thứ ba, chí phí xác định tổn thất trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
và chỉ phí giám định đáy tàu sau khi tàu mắc cạn
e) Ngoài các các điểu kiện bảo hiểm trên, còn có các điều khoản bảo hiểm rủi ro chiến tranh, đình công ., hoặc cũng có thể mua đồng thời bảo hiểm tổn thất toàn bộ và bảo hiểm mọi rủi ro
47.3.4 Các rủi ro chính được bảo hiểm trong bảo hiểm thân tàu (Hull insurance)
Bảo hiểm tàu bao gồm bảo hiểm thân vỏ chiếc tàu và toàn bộ các trang thiết bị khác của chiếc tàu, những rủi ro chính được bảo hiểm như sau: `
“ Tai nạn đâm va các phương tiện tàu bến, thiết bị, công trình trên bờ
“ Tai nạn lúc xếp đỡ, xử lý hàng hoá trên tàu, khi tiếp nhiên liệu
- Nổ trên tàu
- _ Vỡ nổi hơi, gãy trục máy hay do ẩn tật của vỏ tàu, máy tàu
“ - Va chạm với máy bay
+ So sudt (negligence) cia thuyén trưởng, thuyền viên hay hoa tiêu
» _ Phần phân bổ tổn thất chung
_ Biển động, núi lửa, sét đánh
Trang 747.3.5 Những trường hợp người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường
Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bổi thường những tổn thất chỉ phí và trách nhiệm sau đây:
» _ Những tổn thất gây nên bởi tàu được bảo hiểm không có đủ khả năng đi biển
» - Những tổn thất gây nên do sơ suất của chủ tàu hay người đại diện cho họ, tổn thất gây nên bởi những lỗi của chủ tàu, người đại điện cho ho va thuyén trưởng
« - Chỉ phí duy tu, sửa chữa bình thường, chi phí sơn đáy tàu
- _ Chỉ phí do chậm trễ và chi phí gián tiếp
- - Chi phí dọn kênh luồng
47.4 Bảo hiểm hàng hoá
Hàng hoá thuộc đối tượng bảo hiểm chỉ bao gồm hàng hoá được xác định trong các hợp đồng buôn bán ngoại thương
47.4.1 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
1 Giá trị bảo hiểm là giá gốc của hàng hoá cộng với chi phí xếp đỡ vận chuyển, chỉ phí bảo
hiểm Phân lãi dự tính bao giờ cũng được tính gộp vào giá trị bảo hiểm
Số tiễn bảo hiểm
Tuỳ người yêu câu bảo hiểm, số tiễn bảo hiểm có thể là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm
Phí bảo hiểm
Là khoản tiền hợp lý mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm dựa trên tỷ lệ
phần trăm giá trị bảo hiểm do người bảo hiểm đưa ra
Phí bảo hiểm cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố như điều kiện bảo hiểm, tính chất đặc điểm hàng hoá, bao bì, tuyến hành trình, tuổi tàu, quốc tịch tàu, chủ tàu
47.4.2 Các điều kiện bảo hiểm hàng hoá
Trong bảo hiểm hàng hoá, tùy theo tính chất của những rủi ro được đến bù, thường áp dụng những điều kiện sau:
Bảo hiểm “mọi rủi ro” (All Ricks — A.R)
Người bảo hiểm chịu trách nhiệm đến bù mọi tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ của biển
và những tai nạn khác gây nên Nhưng không chịu trách nhiệm bổi thường về tổn thất hay chỉ phí do chậm trễ hay do bản chất của vật được bảo hiểm trực tiếp gây nên Tiền bởi thường theo điều kiện này không có tỷ lệ miễn giảm
Bảo hiểm “Với tổn thất riêng” (With Average — W.A hay With Particular Averege — W.P.A) Theo điều kiện này người bảo hiểm nhận bổi thường tổn thất chung và những tổn thất riêng khi tổn thất riêng này đạt tới mức phần trăm nhất định nào đó trở lên, mức đó gọi là mức
“miễn bồổi thường” (Franchise) Ví dụ trong điểu khoản “miễn giảm bôi thường” ghi “Trả tổn thất riêng khi vượt quá 5%” (To pay average in exess of 5 per cen, nghĩa là những tổn thất dưới mức 5% người bảo hiểm không phải béi thường Tuy nhiên, đối với những tổn thất
Trang 8riêng sau đây, người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ: tàu hay sà lan bị mắc cạn đắm, cháy mất cả kiện hàng khi đỡ hàng, tổn thất do phương tiện vận tải chạm phải ngoại vật, chỉ phí
dỡ hàng cảng lánh nạn
3 Bảo hiểm miễn tổn thất riêng” (Free from Particular Average ~ F,P.A)
Theo điều kiện này người bảo hiểm không cần phải bồi thường tổn thất riêng, trừ những tổn thất do mắc cạn, đắm, hoặc cháy hoặc những tổn thất gây nên bởi những lý do quy định trong điều khoắn E.P.A chẳng hạn, các kiện hàng bị mất hoàn toàn, đỡ hàng tại cảng bị nạn,
chỉ phí cứu nạn, đóng góp tổn thất chung, hàng tổn thất toàn bộ hay toàn bộ ước tính,
47.5 Khái niệm về những rủi ro trên biển
Trong hợp đồng bảo hiểm, người ta quy định người bảo hiểm bai thường những tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra Rủi ro được bảo hiểm phải là những tai nạn bất ngờ, những hiểm hoạ của biển chứ không phẩi rải ro trên biển Cần phân biệt những rúi ro của biển (peril of the sea) và những rải ro trên biển (peril on the sea), rủi ro trên biển thì có thể rất
nhiều nhưng bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường những tai nạn bất ngờ xảy ra mà
thôi Tai nạn bất ngờ có nhiều dang khác nhau trong hành trình trên đường biển, dưới đây hãy tìm hiểu một số rủi ro được bảo hiểm và những rủi ro loại trừ, đồng thời cũng xét tới
một số rủi ro đặc biệt không thuộc rủi ro hàng hải mà là những rủi ro về hàng hoá thường được gọi là những rủi ro đặc biệt (extraneous risks),
’ 47.5.1 Mắc cạn (Stranding)
Mắc cạn là một trong những rủi ro lớn gây ra tốn thất đáng kể đối với tàu biển và hàng hoá,
Mắc cạn nghĩa là đáy tàu sát liên với đáy biển hoặc chạm phải một chướng ngại vật khác làm cho tàu không chạy được nữa và thường phải nhờ đến sự viện trợ của bên ngoài
Nếu một con tàu chỉ chạm đáy rồi tiếp tục chạy (touch and go) thì không gọi là bị mắc cạn Tàu bị vướng hay mắc cạn theo con nước định kỳ thì không thể coi là một tai nạn bất ngờ và
bảo hiểm không chịu trách nhiệm về những thiệt hại do điều đó xảy ra Tầu bị cạn ở một số
vùng sông lạch, kênh (có quy định trong bảo hiểm tàu biển) hoặc kéo lê qua bãi bùn cũng không gọi là mắc cạn
Muốn gọi một con tàu là bị mắc cạn thì việc mắc cạn đó phải xây ra do hậu quả của một sự kiện ngẫu nhiên hoặc không bình thường làm cho tàu chạm phải đất hoặc một chướng ngại vật khác và phải đứng lại ở đó chờ sự giúp đỡ của bên ngoài
Để tránh bão, thuyển trưởng đưa tàu vào cảng lánh nạn, lúc thuỷ triểu xuống, tàu bị chạm đầy hoặc thuyển trưởng tự đưa tau vào bãi cạn để khỏi bị chìm đều xem như là tàu mắc cạn
và được người bảo hiểm bổi thường tổn thất
Theo tập quán tế, nếu hàng hoá được bảo hiểm theo điểu kiện W.A, khi tổn thất hàng hoá
do mắc cạn gây ra thì việc miễn bồi thường hết hiệu lực, người bảo hiểm sẽ đến bù toàn bộ tổn thất Tổn thất bộ phận vẫn được bồi thường theo điều kiện F.P.A khi tàu rhắc cạn
Môi chiếc tàu bị cạn hàng hóa không hỏng Tuy nhiên, sau đó gặp thời tiết xấu hàng bị hồng nhiều, người bảo hiểm vẫn chịu trách nhiệm đển bà, dù tổn thất không phải do cạn gây ra trực tiếp
47.5.2 Dim (Sinking)
Trang 9Đắm tức là phương tiện vận chuyển chìm hẳn xuống nước và không còn chạy được nữa, nếu tau chỉ bị ngập một phần hoặc còn bap bénh trên mặt nước thì không gọi là đấm, trừ khi người ta chứng minh được rằng do tính chất của hàng hoá nên tàu không thể chìm sâu hơn
Đối với rủi ro đắm tàu, trách nhiệm bảo hiểm hàng hoá cũng giống như trong trường hợp
mắc cạn nghĩa là tổn thất toàn bộ vẫn được bổi thường khi tham gia mua bảo hiểm theo
điễu kiện E.P.A và không tính tỷ lệ phân trăm với điều kiện W.A
47.5.3 Cháy (Fire)
Nói chúng, cháy là do lửa gây nên Theo quan niệm thông thường trong bảo hiểm thì lửa
phải nghiêm trọng đến một mức độ nào đó, chẳng hạn đến mức làm cho hành trình của tàu
bị gián đoạn, thì mới gọi là cháy, Lửa chỉ làm hỏng một phần cơ cấu của tàu thì chưa đủ để
gọi là cháy
Người bảo hiểm chỉ bồi thường những tài sản phát hiện cháy bất ngờ do nguyên nhân khách
quan gay ra
Cũng có trường hợp lửa chỉ cháy ngầm không phát ra ánh sáng hoặc cháy mà không tìm ra nguyên nhân, cho nên cháy to, cháy nhỏ đều thuộc phạm vỉ bôi thường của bảo hiểm Ngoài ra, bảo hiểm cũng nhận bổi thường những trường hợp cháy do sơ suất hay vô ý của
thuyén trưởng hay thuyền viên
Nhưng bảo hiểm không bồi thường trong trường hợp hàng bốc cháy tự phát, trong trường hợp đó người bảo hiểm phải chứng minh là hàng hoá đã xếp lên tàu trong tình trạng không thích hợp Tuy nhiên hàng bốc cháy tự phát mà cháy sang hàng hoá khác thì bảo hiểm chịu bồi thường về những hàng bị cháy lan Những tổn thất do chữa cháy gây ra cũng được bảo
hiểm bồi thường
47.5.4 Dam va (Collision)
Đâm va tức là phương tiện vận chuyển đâm va với các vật thể chuyển động hay cố định
khác Nhưng theo quy định của điểu khoản đâm va (Collision Clause hay Running - Down
Clause) thì tai nạn đâm va chỉ hạn chế trong trường hợp tàu này đâm va vào tàu khác Tuy
vậy, ta phải hiểu một cần trục nổi, một chiếc tàu bị chìm, tàu kéo, tàu mới hạ thuỷ mà va chạm vào tàu thì cũng gọi là đâm va theo ý nghĩa của điều khoản này Va chạm vào neo của một chiếc tàu, vì neo là một bộ phận của cón tàu nên cũng gọi là đâm va Nhưng nếu
va vào lưới của chiếc tàu đánh cá thì không gọi là đâm va vì lưới không phải là bộ phận của con tầu
Trong điêu khoản đâm va cần phải hiểu rõ hai khái niệm khác nhan,
1 Rủi ro đâm va (Collision risks) là nói đến trách nhiệm của bảo hiểm đối với bản thân con
tàu và hàng hoá tham gia bảo hiểm bị tổn thất
2 Trách nhiệm đâm va (Collision Liabiuly) là trách nhiệm đối với bên thứ ba, liên quan đến
con tàu khác, hàng hoá khác Về trách nhiệm đâm va có ba trường hợp,
1) Không bên nào có lỗi
Chẳng hạn hai tau đậu gân nhau cũng bị bão va chạm vào nhau thì tổn thất bên nào bên ấy
chịu
2) Một bên có lỗi
SO TAY HANG HAI 834
Trang 10Bên có lỗi phải bồi thường cho bên kia
3) Hai bên cùng có lỗi
Có thể do sơ suất của cả hai trong việc điều khiển tàu
Hiện nay theo tập quán quốc tế trong trường hợp đâm va hai bên cùng có lỗi thì được giải quyết theo trách nhiệm chéo (Cross Liabitily) Chẳng hạn tàu A lỗi 1⁄4 tàu B lỗi 3/4 thì cứ theo tỷ lệ đó hai bên sẽ đến bù cho nhau theo tỷ lệ tổn thất mà mỗi bên phải chịu Nếu tàu
có mưa bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ bổi thường theo điều khoắn đâm va, tức bồi thường 100% đối với tổn thất của tàu mình bảo hiểm và 3/4 của tổn thất mà tàu mình bảo hiểm phải bổi thường với tau kia
47.5.5 Tàu mất tích (Missing Ship)
Khi một chiếc tàu không đến cảng quy định và sau một thời gian hợp lý mà không nhận được tin tức gì về tàu đó thì coi như tàu đã bị mất tích theo ý nghĩa của bảo hiểm Tuy nhiên thế nào là một thời gian hợp lý thì còn phải tùy thuộc vào loại tàu, hàng hoá, loại hàng, tính chất hành trình và đường đi dài ngắn khác nhau, ngoài ra cũng còn tùy thuộc vào luật lệ của
mỗi nước Tàu bị mất tích thì bảo hiểm chịu trách nhiệm bổi thường theo như các rủi ro bảo
hiém (peril insured against)
47.5.6 Vứt hàng xuống biển (Jettision)
“Vứt hàng xuống biển” là hành động ném hàng hoá hoặc một phần thiết bị của tàu xuống biển nhằm làm nhẹ tàu, cứu tàu khi gặp nạn Đó là sự hy sinh mang tính chất tự nguyện, khi
tàu gặp nguy cơ, để bảo vệ tàu và hàng hoá còn lại, Những trường hợp vứt hàng xuống biển
như vậy đều được bảo hiểm bổi thường Tuy nhiên, bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bổi thường những trường hợp vứt hàng xuống biển vì hàng hư hỏng do nội tỳ hay tính chất của hàng hoá
Khi tàu gặp nạn, thường hàng hoá bị vứt xuống biển trước tiên là hàng xếp trên boong Nếu hàng hoá đó được xếp trên boong theo đứng với tập quán thương mại hay được bảo hiểm riêng trên hợp đồng bảo hiểm (thường ghỉ trên hợp đồng “Including jettision and washing overboard”) thi sé được bảo hiểm bổi thường Nếu hàng xếp trên boong trái với tập quán quy định, chủ tàu phải tự gánh chịu tổn thất khi vứt hàng xuống biển
ẩn?
“Vứt hàng xuống biển” là một hình thức của tổn thất chung, nhưng trách nhiệm của bảo hiểm không phụ thuộc vào điều kiện là liệu hành động đó có mang tính chất của tổn thất chung hay không Cho nên sau khi bồi thường tổn thất cho chủ hàng, người bảo hiểm được
hưởng mọi quyển lợi và nghĩa vụ của người được bảo hiểm Chẳng hạn, hoa quả chở trên
tàu nhưng do thuyền trưởng sơ suất không thông gió làm cho hàng hoá bị hấp hơi nóng và
hàng bị thối, nên phải vứt xuống biển Bảo hiểm sẽ thanh toán tổn thất vứt hàng xuống biển
và thế quyền người được bảo hiểm đòi lại người vận tải
47.5.7 Mất cắp (Theft, pilferage)
Mất cắp, mất trộm có ý chỉ sự mất cắp nguyên cả kiện hàng hoặc hàng bên trong bao bì Đó
là một hành động lấy hàng có tính chất lén lút Tổn thất do bị mất cắp có thể được bảo hiểm bằng cách có thể ghi từng rủi ro cụ thể thêm vào các điêu khoản W.A hoặc F.P.A hoặc bảo hiểm chung vào các điểu khoản “mọi rủi ro” thì người bảo hiểm phải bồi thường
cả rủi ro mất cắp