1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Sổ tay hàng hải - T2 - Chương 44

20 395 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổn Thất Chung
Trường học Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải
Chuyên ngành Hàng Hải
Thể loại Sổ tay
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 777,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sổ tay hàng hải - Tập 2 - Chương 44: Tổn thất chung

Trang 1

44 TỔN THẤT CHUNG

44.1 Khái niệm tổn thất và phân loại tổn thất trên biển

Tàu chở hàng trong hành trình gặp tai nạn, sự cố ngoài ý muốn gây nên thiệt hại trực tiếp :hoặc gián tiếp đối với tàu và hàng hoá gọi là tổn thất Tuỳ theo tính chất và mức độ tổn thất

có thể phân chia tổn thất ra các loại loại khác nhau

44.1.1 Phân chia theo hình thái của tổn thất

Gồm có tổn thất vật chất và tổn thất chỉ phí Tổn thất vật chất bao gồm tổn thất cụ thể như

tàu và hàng hoá trên tàu do thiên tai ., tổn thất chỉ phí gồm chỉ phí cứu hộ, tàu kéo, phát sinh đo sự cố của tàu

44.1.2 Phân chia theo mức độ tổn thất

Gôm có tổn thất toàn bộ (Total Loss) và tổn thất bộ phận (Partial Loss) Tổn thất toàn bộ có thể là một tấn thất toàn bộ thực tế hoặc tẩn thất toàn bộ ước tính đối vơi tàu và hàng hoá;

tổn thất bộ phận là tổn thất một phan tàu và hàng hoá

1 Tổn thất toàn bộ thực tế (Actual Total Loss)

Một chiếc tàu bị tổn thất toàn bộ thực tế là một chiếc tào hoàn toàn bị phá huỷ hoặc mức độ tổn thất làm cho nó mất đi hình thể hoặc loại hạng như nó được bảo hiểm ban đâu Một chiếc tàu được thông báo mất tích được coi là tổn thất toàn bộ thực tế

2 Tổn toàn bộ ước tính (Constructive Total Loss)

Đó là tổn thất toàn bộ ước tính khi phải từ bỏ đối tượng được bảo hiểm một cách hợp lý vì xét tới một tổn thất toàn bộ thực tế là không thể tránh khỏi hoặc để tránh một tổn thất toàn

bộ mà chỉ phí cho sửa chữa hoặc cứu vấn lớn hơn giá trị của đối tượng sau khi đã sửa chữa hay cứu vẫn

Trong trường hợp tổn thất toàn bộ ước tính thì người được bảo hiểm có thể, hoặc coi như một tổn thất toàn bộ phận hoặc từ bỏ và chuyển đối tượng bảo hiểm cho người bảo hiểm và khiếu nại tổn thất toàn bộ Trong trường hợp người được bảo hiểm chọn cách tử bổ đối tượng bảo hiểm thì họ phải tuyên bố từ bổ và chuyển giao đối tượng đó cho người bảo hiểm, nếu không làm như vậy tổn thất được xử lý như là tổn thất bộ phận

44.1.3, Phan chia theo tính chất tén that

; Gồm tổn thất riêng ( Particular Average — P.) và tổn thất chung ( General Average — G.A)

1 Tổn thất chung (General Average)

Tổn thất chung là một tổn thất khi sự hy sinh hoặc chỉ phí đặc biệt được thực hiện hoặc xảy

‘ra một tách cố tình và hợp lý cho an toàn chung vì mục đích cứu tài sản khỏi hiểm họa

Trang 2

trong một phiêu trình chung Chi phí tổn thất chung được chia cho các bên liên quan cùng gánh chịu

2 Tổn thất riêng (Particular Everage)

Một tổn thất không thuộc tổn thất chung là tổn thất riêng, đó là phần tổn thất mà chỉ do

người sở hữu của chiếc tàu hay người sở hữu hàng hoá phải tự mình gánh chịu Khi phát sinh tổn thất riêng, vì không phương hại đến an toàn chung và lợi ích chung cho nên, khác

với tổn thất chung, chí phí tổn thất riêng không chia cho các bên cùng gánh chịu

44.2 Điều kiện để cấu thành tổn thất chung

Hình thành tổn thất chung phải hội đủ bốn điều kiện sau đây,

Theo quy tắc York Antwerp (xem ở cuối chương này), cấu thành tổn thất chung có bốn điển

kiện cơ bản đưới đây,

44.2.1 Tàu và hàng hoá phải ở trong cùng trạng thái nguy hiểm chung

Nguy hiểm này phải tổn tại trên thực tế mà không phải là ước đoán, nguy hiểm này cũng

phải ở trong trạng thái nguy cấp, không áp dụng các giải pháp kịp thời thì tàu và hàng hoá

sẽ gặp nguy hiểm

Gọi là tổn tại thực tế, không phải là nguy hiểm do suy đoán để áp dụng các giải pháp Ví dụ

khi tàu đang hành trình, thuyển trưởng nhận thấy trong hầm hàng có hiện tượng cháy, để an toàn cho tàu và hàng, thuyển trưởng quyết định cho bơm nước vào hầm hàng để dập lửa,

nhưng sau khi mở hầm không phát hiện thấy bất cứ vết tích cháy nào, điểu này chứng minh rằng thuyền trưởng đã ước đoán sai hoàn toàn, không phải thực tế Vì vậy, hàng hoá trong hầm bị ướt dẫn đến tổn thất hàng hoá không phải là tổn thất chung, phía tầu phải chịu trách

nhiệm đơn phương

Nguy cơ khẩn cấp có nghĩa là tàu gặp nguy hiểm nghiêm trọng như hoá hoạn, mắc cạn,

chạm đá ngầm, những nguy hiểm này không biểu hiện rằng tàu đang trong trạng thái không thể cứu, nhưng nếu áp đụng các giải pháp chậm trễ có thể phát sinh nguy hiểm

44.2.2 Các giải pháp áp dụng phải là vì an toàn chung của tàu và hàng hóa

Phải là vì an toàn chung của tàu và hàng hoá, không đơn thuần chỉ vì an toàn.cho một phần

tài sắn nào Ví dụ, một chiếc tàu mắc cạn không thể nào thoát ra được, trừ khi phải vứt bớt một số hàng hoá để cho tàu nổi và thoát khỏi cạn, tổn thất do hàng hoá bị vứt được coi là tổn thất chung vì nó được hy sinh vì an toàn chung và được chia phần theo tỷ lệ- giữa tàu và

hàng hoá Ngoài ra, việc cứu tàu cũng đấm bảo cho chủ tàu cứu phần cước phí của hàng

hoá, vì vậy cước phí cũng chịu phần tổn thất theo tỷ lệ

Một thí dụ khác, một tàu chở hàng đông lạnh khi chạy qua vùng nhiệt đới, máy lạnh bị hồng, buộc tàu phải ghé cảng để sửa chữa Trong trường hợp như vậy, bất kỳ một sử đe doa

nào về tổn thất cũng chỉ giới hạn trong phạm vi số hàng ướp đông, còn đối với tàu và các

hàng hoá khác thì hành trình hoàn toàn vẫn có thể tiếp tục an toàn Vì vậy, việc tàu quay vào cảng sửa chữa máy lạnh không thể coi là tổn thất chung

Nhưng, nếu nhiều thuyền viên trên tàu đang bị bệnh truyền nhiễm, toàn bộ công việc của

tàu phải dừng lại, tàu buộc phải ghé cảng trung gian để đổi thuyễn viên, toàn bộ chỉ phí cho

việc ghé cảng là tổn thất chung

SO TAY HANG HAI 113

Trang 3

'34.2.3 Tổn thất phải do những giải pháp cố ý và hợp lý gây ra

Ví dụ, một chiếc tàu gặp sóng to gío lớn trên biển, hàng hoá trên tàu có tải trọng quá lớn, có nguy cơ tàu bị chìm, để đầm bảo cho an toàn của sinh mệnh và tài sản, thuyển trưởng quyết định vứt một phần hàng hoá, con tàu từ nguy hiểm trở nên an toàn Vứt hàng hoá trong

trường hợp như vậy là một giải pháp cố ý cho nên đó là một tổn thất chung Nhưng nếu một

con tàu trong sóng to gió lớn chao đảo và nghiêng ngã làm cho một phần hàng hoá bị sóng

lớn kéo xuống biển, tàu cũng trở nên nhẹ và an toàn, loại tổn thất này không phải là tổn thất chung

Sự hy sinh và chỉ phí phải hợp lý, ví dụ, một chiếc tàu sau khi đâm va bị hỏng, để cho tàu khỏi bị chìm, thuyền trưởng quyết định đưa tàu vào cạn, hành động cố ý này hoàn toàn hợp

lý, thuộc tổn thất chung

Một ví dụ khác, vì nước triểu rút làm cho một chiếc tàu bị cạn trên cát, lúc đó thời tiết tốt,

khi thủy triểu lên tà ¡ có thể ra cạn, nhưng thuyễển trưởng quyết định vứt hàng để thoát cạn hoặc quyết định đùng hết tốc lực máy để ra cạn làm cho máy hỏng, hành động đó, tuy cố ý,

nhưng không thể coi là hợp lý, cho nên không thuộc tổn thất chung

44.2.4 Hy sinh hoặc chỉ phí phải có tính chất đặc biệt, dị thường

Ví dụ, một chiếc tàu mắc cạn phải chạy máy lùi để thoát cạn làm cho máy chính quá tải và

hư hồng, đó là hành động có tính chất đặc biệt không bình thường đó là tổn thất chung Nhưng khi hành trình gặp sóng to gió lớn, tàu tăng tốc là chuyện bình thường, vì vậy số

nhiên liệu tăng lên do tăng tốc độ tàu không phải là tổn thất chung

44.2.5 Một số thí dụ về tổn thất chung

Đây là những thí dụ về các loại tai nạn thường đẫn tới việc công nhận tổn thất chung (thực

ra chúng rất da dang khong thé thống kê đây đủ)

1 Về mắc cạn

»„ Hồng vỏ tàu hay máy tàu do những cố gắng làm nổi tàu

- _ Mất hoặc hỏng hàng hoá do phải vứt xuống biển hoặc buộc phải đỡ khỏi tàu

„ _ Chị phí dỡ hàng, lưu kho và xếp hàng trở lại tàu

“ - Chỉ phí vào cảng lánh nạn

2 Về tai nạn cháy

- _ Tổn thất về tàu và hàng do những nổ lực chữa cháy

“ - Chỉ phí vào cảng lánh nạn

3 Thiếu nhiên liệu

» _ Tổn thất về vật liệu trên tàu hay hàng hoá phải đốt cháy thay nhiên liệu

“ _ Chỉ phí vào cảng lánh nạn

4 Thời tiết xấu, biển động

« - Vứt hàng xuống biển

* - Chi phí vào cảng lánh nạn

SO TAY HANG HAI 774

Trang 4

44.2.6 Phân biệt tổn thất riêng và tổn thất chung

Trong các tổn thất, nến không phải là tổn thất chung thì đều là tổn thất riêng Tổn thất riêng

là những tổn thất chỉ liên quan đến một hay một số bên có quyển lợi liên quan trên tàu Hình thành tổn thất riêng không ngoài mấy điểm sau đây,

1 Tổn thất tàu, hàng hoá do lực bất khả kháng của thiên tai và sự cố ngoài dy kiến gây nên

2 Tổn thất do những bất cẩn và sơ suất của phía tàu và phía hàng hoá và các bên liên quan

khác gây ra

ta Những tổn thất và chỉ phí gây nên bởi kết quả của những giải pháp áp dụng vì an toần của đơn phương tàu hoặc hàng hóa

+ Tổn thất gây ra do kết quả của những đặc tính tự nhiên của hàng hoá

Những tổn thất đo những nguyên nhân nói trên dẫn tới tàu chở hàng hoá trên hành trình đột

nhiên mắc cạn, chạm đá ngâm, đâm va, bốc cháy, hoặc do sơ suất, bất cẩn trong việc điểu

khiển và quần lý tàu đều thuộc phạm vi tổn thất riêng

Tổn thất riêng và tổn thất chung thường thường dan xen lẫn nhau cài đặt vào nhau rất phức tạp, tổn thất này phát sinh, phần lớn ở mức độ nào đó, là để cố để phòng hoặc làm giảm thiểu tổn thất kia Ví dụ, tàu chạm đá ngầm, tôn đáy (bao gồm ky tàu) bị hư hỏng, dĩ nhiên

đó là tổn thất riêng, sau khi chạm đá ngầm thì tàu có nguy cơ chìm, đó là một nguy cơ thực

sự tổn tại, phía tàu đã áp dụng giải pháp hợp lý, chủ động cho tau lên cạn khiến cho tôn đáy

lại tiếp tục hư hồng, loại tổn thất này tất nhiên thuộc về tổn thất chung Nhưng để phân biệt

rạch rồi mức độ tổn thất riêng và chung của tôn đáy trước và sau khi lên cạn là một việc

khó khăn Chính vì vậy, sau khi một tàu chở hàng tuyên bố tổn thất chung cần phải tiến

hành hàng loạt công việc giám định mới phân định được đâu là tổn thất chung đâu là tổn

thất chung

Tổn thất riêng do đơn phương gánh chịu, không phân chia cho bên khác Ngoài các nguyên nhân nêu ra ở trên, tổn thất riêng còn bao gồm các khía cạnh sau đây, các khía cạnh này

thường đan xen vào trong các tổn thất chung, cần hết sức chú ý,

1) Tổn thất gián tiếp

Sau khi phát sinh tổn thất chung, thời gian của chuyến bị kéo dài làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chuyến sau, khiến chuyến sau bị tổn thất, hoặc gây nên tổn thất hàng hoá do giá cả thị trường biến động Tất cá tổn thất đó là tổn thất riêng

2) Một số loại hàng hoá, theo tập quán hàng hải, đáng lẻ phải xếp trong hầm, nhưng vì

dung tích hầm hàng không đủ hoặc do những nguyên nhân khác, theo yêu câu của chủ hàng

bằng văn bản, hàng này được xếp trên mặt boong; khi áp dụng các giải pháp cho tén thất chung đã vứt hàng hoá trên boong này xuống biển Loại hy sinh như vậy vẫn là tổn thất

riêng, trừ khi chủ hàng đưa ra bằng chứng, chứng minh loại hàng hoá này xếp trên boong là phù hợp với tập quán hàng hải

3) Tổn thất của các loại hàng hoá khai man

Các loại hàng xếp lên tàu không được người vận tải chấp nhận, hoặc các loại hàng không

mang đúng tên thật của nó, sau khi phải hy sinh không được đến bù bổ sung tổn thất chung, phải tự chịu tổn thất Nhưng, nếu cấc loại hàng hoá này được cứu thì phải chịu tổn thất và chỉ phí của tổn thất chung giống như các hàng hoá khác

SO TAY HANG HAI T15

Trang 5

4) Tổn thất do hy sinh tài sản mà trước đó đã mất giá trị

Vĩ dụ tàu trong hành trình gặp nạn, để cứu tàu và hàng hoá, tàu phải cắt bỏ các phụ kiện đã

bị hư hỏng đo của tàu do hải nạn, vứt bổ hàng hoá đã tự cháy, vứt bổ hàng hoá hư hồng đã

bị ngâm nước đều là tổn thất riêng

5) Trong hành trình gặp sóng to gió lớn, để đảm bảo an toàn cho tầu và hàng hoá, phía tàu

cho tăng tốc máy chính vượt tải thời gian dài, nếu máy tàu bị hỏng thì đó là tổn thất riêng

Đây là công việc bình thường của phía tàu phải thực hiện, tổn thất không phải là đặc biệt Nhưng trường hợp hỏng máy này khác với hỏng máy do tăng tải để thoát cạn, đây là một hành động đặc biệt vì máy tàu không được thiết kế để thực hiện công việc này

44.3 Phân biệt sự hy sinh tổn thất chung và chỉ phí tổn thất chung ~ Phân chia tổn

thất chung

44.3.1 Hy sinh tổn that chung (General Average Sacrifice)

Sự hy sinh tốn thất chung bao gỗm sự hy sinh tau, su hy sinh hàng hoá và sự hy sinh cước

phí

1 Hy sinh tau

Am chỉ sự hy sinh một phần tàu hoặc một phần vật liệu dùng cho tàu Nếu hy sinh toàn bộ tau thì không có khá năng phát sinh đển bù và phân chia tổn thất chung Trong hành trình,

nếu tàu phát sinh những tổn hại ngoài dự kiến hoặc những tổn hại phát sinh do những tiêu hao tự nhiên, bất kể là tổn hại bao nhiêu, đều không thuộc sự hy sinh tổn thất chung Nhưng

trên hành trình gặp nguy hiểm, những tổn thất gây nên cho tau do các hoạt động cứu tàu và

hàng hoá là sự hy sinh tổn thất chung

Vi dy, trong khi hành trình, đo sóng to gió đữ khiến cho tàu bị nứt, tàu bị vào nước ướt hàng,

thuyén viên phải dùng thẩm vải dâu để chặn chỗ dò rỉ, thì tổn hao thầm vải dâu là tổn thất

chung

Ví dụ khác, sau khi tàu mắc cạn, để cho tàu nổi, trong quá trình vứt hàng mặt boong bị hư hồng, mặt khác, thuyển trưởng mệnh lệnh chạy máy lùi để thoát cạn khiến cho các cánh quạt chân vịt bị hư hỏng nặng nê, trục chân vịt bị nứt Đó là tổn thất chung

2 Hy sinh hàng hoá

Gồm có 3 hình thức như sau,

1) Vit hang

Khái niệm tổn thất chung bắt nguồn và phát triển từ hành vi vứt hàng xuống biển, đó là một

sự hy sinh tổn thất chung quan trọng nhất Tuy vậy hiện nay vấn để vứt hàng xây ra không nhiều Chỉ có hàng trên boong, căn cứ vào hàng đó (chẳng hạn, gỗ, các thùng dầu, hàng nguy hiểm) có tập quán xếp trên boong hay không, để xác định có phải là tổn thất chung

hay không Vứt hàng không khai báo hoặc khai báo gian thì không thể là sự hy sinh tổn thất

chung, không thể hưởng đến bù tổn thất chung Nhưng nếu hàng hoá đó chưa bị vứt thì căn

cứ giá trị thật của chúng để phân chia tổn thất chung

2) Hàng bị hư đo nước

SO TAY HANG HAI T16

Trang 6

Chẳng hạn hẳm hàng bị cháy, cho bơm nước vào để dập cháy khiến cho hàng hoá không bị cháy bị hư hỏng do ngấm nước biển đều thuộc tổn thất chung

3) Hàng bị mất

Chẳng hạn, sau khi tàu bị cạn, để cho tàu nổi thoát cạn, cho đỡ một phần hàng trên tầu vào

xà lan, khi đỡ hàng, một phần hàng hoá bị rơi xuống nước Tổn thất này cũng là sự hy sinh tổn thất chung

3 Hy sinh cước phí

Cước phí là thu nhập của phía tàu Khi “cước thu sau”, nếu hàng hoá phải hy sinh tổn thất

chung trên hành trình không thể tới cảng đích, thì cước phí của phía tàu cũng phải hy sinh

Nếu hàng hoá được coi như là tổn thất chung thì cước phí cũng được coi như là tổn thất

chung Khi “cước trả trước” và quy định bất kể hàng hoá có bị rủi ro hay không, cước không hoàn trả Như vậy phía tàu không vì hàng hoá hy sinh mà ảnh hưởng đến thu nhập từ cước, cước không hy sinh, cho nên cước phí trong trường hợp này không thuộc hy sinh tổn thất chung

44.3.2 Chi phí tổn thất chung

Chỉ phí tổn thất chung bao gồm,

1 Chi phí cứu hộ

Chỉ phí cứu hộ là một hình thức phổ biến nhất của chỉ phí tổn thất chung Nhưng cần lưu ý rằng, nếu chỉ phát sinh chỉ phí cứu hộ tàu hoặc chỉ phía cứu hộ hàng hoá thì xử lý theo tổn

2 Chỉ phí cảng lánh nạn

Trên hành trình gặp nguy hiểm để khôi phục khả năng tiếp tục hành trình cần đưa tàu vào

cảng lánh nạn, nếu đủ điều kiện của tổn thất chung thì những chỉ phí sau đây phát sinh trong

cảng lánh nạn có thể xem như là chỉ phí tổn thất chung,

1) Chi phí hành trình từ khi tàu thoát khỏi đường đi ban đầu đến cảng lánh nạn cộng với chi phí hành trình từ khi tàu rời cảng lánh nạn cho đến khi tàu nhập vào đường đi ban đâu (gồm nhiên liệu, dầu bôi trơn, nước ngọt, lương thuyén viên )

2) Chi phí hoa tiêu, tàu kéo, chỉ phí cầu cảng, phao, chỉ phí kiểm dịch, và các chỉ phí khác

của cảng

3) Chỉ phí dỡ và vận chuyển, tôn trữ, bảo quần, chất xếp hàng hoá, nhiên liệu vật liệu để tiến hành sửa chữa tàu

4) Luong, tién thực phẩm, chỉ phí đi lại, lưu trú của thuyễển viên trong thời gian lưu lại ở

cảng lánh nạn

5) Nguyên vật liệu, nhiên liệu tàu sử dụng trong thời gían lưu lại ở cắng lánh nạn

Nếu sau khi vào cảng lánh nạn, tầu tuyên bố bổ hành trình, thì các chỉ phí tổn thất chung

trong cảng lánh nạn tính đến ngày tuyên bố bỏ hành trình

3 Chỉ phí thay thế

SỐ TAY HÀNG HẢI 771

Trang 7

Khi tàu gặp sự cố bất thường, vì lợi ích và an toàn chung, phía tàu nhận thấy, có thể quyết định chỉ phí tổn thất chung với hạn mức tương đối nhỏ so với chỉ phí với hạn mức lớn hơn để tiết kiệm Chi phí với hạn mức nhỏ hơn gọi là chí phí thay thế Khi xử lý tổn thất chung thường xuyên phát sinh chỉ phí thay thế, có mấy loại sau đây,

1) Vì chỉ phí sửa chữa ở cảng lánh nạn quá cao, sau khi cân nhắc, xét thấy thuê tàu kéo kéo tàu bị nạn đến một cảng khác, chỉ phí tàu lai và chỉ phí sửa chữa ở cảng đó thấp hơn chỉ

phí sửa chữa ở cảng dự kiến ban đầu Tiền thuê tàu kéo được gọi là chi phí thay thé

2) Tại cảng lánh nạn, phải đỡ hết hàng hoá lên cảng thì mới có thể tiến hành sửa chữa,

nhưng xét thấy nếu dỡ xuống xà lan rẻ hơn dỡ lên kho cảng, thì tiền dỡ hàng và bảo quần hàng ở xà lan là chỉ phí thay thế

3) Tại cảng lánh nạn tiến hành sửa chữa, nếu tổng chi phí dỡ hàng, gửi kho bảo quần và

bốc lại xuống tàu lớn hơn chỉ phí thuê một chiếc tàu khác chuyển tải hàng hoá đến cảng

đích, thì cước phí thuê chuyển tải gọi là chỉ phí thay thế

4) Để rút ngắn thời gian dừng tàu ở cảng lánh nạn, cần phải tổ chức tăng ca kíp để sửa chữa tàu, nếu chỉ phí tiền tăng ca sửa chữa thấp hơn chỉ phí lương, lương thực, câu bến

phải chỉ trả đo rút ngắn thời gian nhờ tăng ca, thì chỉ phí tăng ca là chỉ phí thay thế

4 Các chỉ phí tính toán, kiểm định, thông tin về tổn thất chung, thủ tục thanh toán tại cing

lánh nạn đều là chi phí tổn thất chung

44.3.3 Phân chia tổn thất chung

Tổn thất và chỉ phí của tổn thất chung phải được chia theo tỷ lệ cho bắn thân con tàu, hàng hoá trên tàu và cước phí cùng gánh chịu Trừ phần tổn thất sẽ được bồi thường bằng đóng góp tổn thất chung, tất cả các tài sản còn lại, kể cả cước phí, đều chịu trách nhiệm đóng góp đối với tổn thất chung Riêng hành lý và để dàng của hành khách và thuyền viên không phải tham gia đóng góp tổn thất chung

Tỷ lệ đóng góp của tàu, hàng hoá, cước phí cho tổn thất chung được tính toán theo quy định như sau,

1 Số tiền đóng góp của phía tàu được tính toán căn cứ vào giá trị hoàn chỉnh của chiếc tàu tại nơi hành trình kết thúc trừ đi phần tổn thất không thuộc vào tổn thất chung

2 Phần đóng góp của hàng hoá được tính toán căn cứ vào giá thị trường của hàng hoá khi đến

cẳng trừ đi phần tổn thất không thuộc tổn thất chung và cước phí mà người vận tải phải chịu rủi ro

3 Phần đóng góp của cước phí được tính toán căn cứ vào cước phí mà người vận tải chịu rủi ro

và nhận được sau sự cố khấu trừ đi tỷ lệ tương ứng do hành trình chưa hoàn thành sau khi

phát sinh sự cố tổn thất chung, cộng thêm phần tổn thất cước phí nằm trong tổn thất chung Việc tính toán đóng góp bồi thường tổn thất chung là một công việc phức tạp và tỷ mỹ được giải quyết căn cứ vào những điều lệ thích hợp do những chuyên viên tính tổn thất (Average

Adjuster) thực hiện

44.4 Quy tắc York-Antwerp

Từ lâu, các quy định về tổn thất chung của các quốc gia không thống nhất, thường phát sinh tranh chấp, gây trở ngại cho sự phát triển vận tải thương mại quốc tế Nhu cầu thống nhất

SO TAY HANG HAI T18

Trang 8

các quy định ngày càng trở nên bức thiết, qua nhiều lần tranh cải, mãi đến năm 1890, các

quốc gia mới thống nhất được các quy định về tổn thất chung và đưa ra “Quy tắc York- Antwerp 1890” gém 18 điều khoản, thống nhất cách phân biệt tổn thất chung và phương pháp tính toán Tuy nhiên, các quy tắc đó cũng chưa bao gồm được tất cả các vấn để mà tổn thất chung còn vướng mắc “Quy tắc York-Antwerp 1924” đã bổ sung thêm bảy nguyên tắc, các nguyên tắc này chổ yếu để đo lường các sự cố phát sinh có thuộc tổn thất chung hay không Sau thế chiến thứ hai, hàng hải thương mại quốc tế phát triển nhanh chóng, “Quy tắc

York-Antwerp 1924” không đáp ứng nhu cầu phát triển của tình thế mới, vì vậy “York-

Antwerp 1950” ra đời trong đó gồm có 7 Nguyên tắc và 22 Điều khoản

Từ sau năm 1950, tình hình chính trị kinh tế toàn cầu lại có những biến động to lớn, khiến

“York-Antwerp 1950” trở nên lỗi thời, không thích hợp với điều kiện phát triển mới, đòi hỏi

phẩi có những quy tắc thích hợp hơn về tổn thất chung Cho nên tháng 4 năm 1974, Hội nghị của Uỷ ban hải sự quốc tế họp tại Hamburg đã thông qua “Quy tắc York-Antwerp 1974”

Gân đây nhất Quy tắc được sửa đổi và bổ sung tại Sydney ngày 8 tháng 10 năm 1994, gọi là

“Quy tắc York-Antwerp 1994” (xem Mục 44.9), bắt đầu áp dụng từ 31.12.1994

* Quy tắc York-Antwerp” không phải là luật vì vậy không có tính cưỡng chế của pháp luật, Bốn bộ quy tắc 1890, 1924, 1950 và 1994 song song tổn tại, sử dụng quy tắc nào tuỳ thuộc các bên thương lượng, thống nhất và ghi chú vào hợp đồng thuê tàu và hợp đồng bảo hiểm

“Quy tic York-Antwerp 1994” gồm có điều gidi thich ( Rule of Interpretation ) va Diéu

Paramount ( Rule Paramount) cing véi 7 Nguyén tac xép theo chif cdi (Lettered Rules) va

22 Diéu dinh d&u bing sé (Numbered Rules) Cac “Lettered Rules” dua ra các nguyên tắc tính toán tổn thất chung, còn các “Numbered Rules” thì liệt kê tất cả các bạng mục cụ thể được coi như là sự hy sinh tổn thất chung và chỉ phi mang tinh truyén thống

44.5 Những việc phía tàu và công ty chủ tàu phải làm khi phát sinh tổn thất chung

44.5.1 Tuyên bố tổn thất chung

Trong hành trình, nếu sự cố phát sinh tổn thất, cần phải căn cứ vào bốn điều kiện trình bày

ở trên để xác định có cấu thành tổn thất chung hay không Khi xác định đúng là tốn thất

chung thì chủ tàu và thuyền trưởng phải nhanh chóng làm các công việc sau đây,

1 Tàu báo cáo với công ty chủ tàu tình bình sự cố, bao gồm hy sinh tổn thất chung tàu, hàng

hoá, dự tính chỉ phí, kiến nghị công ty tuyên bố tổn thất chung hoặc tàu ra tuyên bố tổn thất chung Nếu công ty đồng ý, thì thuyển trưởng hoặc đại lý chủ tàu ở cảng tàu đến đầu tiên sau sự cố ra “Tuyên bố tổn thất chung” (General Average Declaration) bằng văn bản Đại

lý thông báo cho đại lý khác ở các cảng dỡ hàng để công bố cho người nhận bàng, nếu muốn nhận hàng phải gánh chịu mức phân chia tổn thất chung Chủ tàu yêu câu chủ hàng

ký giấy cam kết tổn thất chung (General Average Bond), ký quỹ tổn thất chung (General

Average Deposit) hoặc Thư bảo lãnh tổn thất chung (General Average Guarantee), yêu cầu chỉ định cơ quan giám định và chuyên viên phân chia tổn thất chung Hạn mức ký quỹ phải

do chuyên viên phân chia tổn thất tính toán, chuyên viên này do công ty lựa chọn và chỉ định

2 Tàu phải lập báo cáo sự cố bằng văn bản gửi cho công ty chủ tàu, cho chuyên viên tổn thất

chung và cho phía hàng hoá

SO TAY HANG HAI 179

Trang 9

3 Báo cáo sự cố phải được công chứng tại cơ quan công chứng hoặc nhà chức trách cảng đầu

tiên sau sự cố

4 Sau khi tàu đến cảng đầu tiên sau sự cố, phía tàu phải mời nhân viên kiểm tra tổng hợp

(General Surveyor) kiém tra tàu, thuyền trưởng căn cứ vào nhật ký hàng hải trình bày cho nhân viên kiểm tra tình hình sự cố, yêu cầu nhân viên kiểm tra giám định tình hình hư hỏng tàu, sự cố, nguyên nhân tổn thất, lập báo cáo kết quả kiểm tra

44.5.2 Các văn bản, chứng từ cần thiết phải chuẩn bị cho phân chia tổn thất chung

Thuyén trưởng và chủ tàu phải thu thập đây đủ văn bản chứng từ cần thiết cho thủ tục tuyên

bố tổn thất chung và tính toán tổn thất chung, tuỳ từng sự cố cụ thể, nói chung gồm các hổ

Sơ sau đây,

— Bản tuyên bố tổn thất chung;

Kháng nghị hàng hải, trích sao nhật ký boong, máy có công chứng;

Hợp đồng thuê tàu, bản lược khai hàng hoá, vận tải đơn;

Đơn bảo hiểm thân tàu, các hồ sơ liên quan gid tri con tau;

Hoá đơn thu cước vận chuyển;

Biên bản kiểm tra giám định tàu và hàng hoá;

Chứng từ vé chi phi cho nhân viên kiểm định, chuyên viên phân bổ tổn thất

Biên nhận các loại chỉ phí sửa chữa liên quan tốn thất chung;

Biên nhận các loại chi phí như cảng phí, đại lý phí, hoa tiêu phí, nhiên liệu, lương thực,

lương thuyền viên, phụ cấp liên quan tổn thất chung:

10 Chỉ phí đỡ hàng làm nổi tàu, chỉ phí xà lan, sắp xếp hàng hoá và các chi phí phát sinh có liên quan;

11 Hợp đồng cứu hộ và chỉ phí cứu hộ;

12 Giấy cam kết tổn thất chung, ký quỹ tổn thất chung

13 Các chứng từ liên quan đến hàng hoá như bản khai giá trị hàng hoá, giấy bảo hiểm hàng hoá

44.6 Giấy cam kết tổn thất chung và Thư bảo lĩnh tổn thất chung

44 6.1 Giấy cam kết tổn that chung (General Average Bond)

Là bản cam kết, theo đó chủ hàng đồng ý để cho chủ tàu chỉ định nhân viện kiểm định và chuyên viên phân chia tổn thất chung giám định và phân chia tổn thất chung

Trước khi giao hàng, phía tàu yêu cầu người nhận hàng ký vào văn bản này Ký văn bản có

nghĩa là chủ hàng đã thừa nhận tổn thất gây ra do sự cố này là tổn thất chung, đồng ý trách

nhiệm đóng góp và ký Quỹ tổn thất chung (General Average Deposit) hoặc người bảo hiểm hàng hoá phải đưa ra Thư bảo lãnh tổn thất chung (General Average Guarantee) Sau

khi ký Giấy cam kết tổn thất chung thì có thể giao hàng

SO TAY HANG HAI 780

Trang 10

Giấy cam kết tổn thất chung được người nhận hàng ký trước khi xác định mức tỷ lệ đóng

góp tổn thất chung, cũng có khi những người nhận hàng cùng ký, có khi từng người ký riêng

Nhưng, nếu trước khi nhận hàng, người nhận hàng đã ký quỹ ổn thất chung hoặc người bảo hiểm hàng hoá đưa ra thư bảo lãnh tổn thất chung thì không nhất thiết phải ký giấy cam kết tốn thất chung Trong vận tải thương mại quốc tế thường dùng mẫu General Average Bond

ctia Lloyds’

Ký Quỹ tốn thất chung (General Average Deposit) 1a chitng tiv bién nhận về số tiền mà chủ hàng phải nộp cho chủ tàu tương ứng với giá trị đóng góp tổn thất chung ước tính của chủ hàng

,Căn cứ vào tập quán quốc tế, nếu người nhận hàng chưa đóng góp phần tiền được phân bổ cho tổn thất chung thì không thể giao hàng Người vận tải có quyển áp dụng quyền lưu giữ

hàng hoá khi chưa nhận được sự đóng góp của người nhận hàng

Tuỷ nhiên, có những lô hàng, chỉ khi nào kiểm đếm xong thì mới xác định được tỷ lệ đóng

góp tổn thất chung, đòi hỏi thời gian kéo dài Nếu đợi phân chia phần đóng góp xong mới

giao hàng thì có khả năng phát sinh tổn thất trực tiếp do hàng hoá hư hỏng, chỉ phí bảo

quan hoặc do giá cả thị trường biến động gây bất lợi cho người nhận hàng, trong trường hợp đó, người nhận hàng có thể ký quỹ (đặt cọc) tổn thất chung để nhận hàng, có nghĩa là

dùng phương thức ký quỹ đặt cọc để thay thế cho việc lưu giữ hàng hoá

Quỹ đặt cọc tổn thất chung xác định dựa trên dự toán phân chia tổn thất chung, thông thường đều vượt quá số tiền đóng góp, sau khi tính toán xác định số tiên đóng góp chính xác

thì phần dư thừa được hoản trả lại

44.6,2 Thư bảo lĩnh tổn thất chung (General Average Guarantee)

Vì hàng hóa chuyên chở đều được mua bảo hiểm, phần phân bổ tổn thất chung của hàng hoá do người bảo hiểm bổi thường Vì vậy, Thư bảo lĩnh tổn thất chung là văn bản do người bảo hiểm hàng hoá cam kết và bảo lãnh với phía tàu về số tiền đóng góp tổn thất chung

theo tính toán của chuyên viên phân chia tổn thất chung, thay thế cho việc ký quỹ tổn thất

chung

Tuy nhién, General Average Guarantec được đưa ra trên cơ sở trách nhiệm bổi thường tổn

thất trong hợp đồng bảo hiểm của nhà báo hiểm, người bảo hiểm không thể chỉ ra số tiền

đóng góp tổn thất chung vượt qua giới hạn trách nhiệm của họ Vì vậy, General Average Guarantee không hoàn toàn hiệu quả như General Average Deposit

General Average Guarantee mà Công ty bảo hiểm đưa ra có hai loại,

1 Bao linh gidi han ( Limited Guarantee)

Tién phân bổ đóng góp vào tổn thất chung và tiền bảo hiểm hàng hoá mà người bảo hiểm phải trả thường không giống nhau Nếu tiền đóng góp tổn thất chung nhỏ hơn tiền bởi thường bảo hiểm thì công ty bảo hiểm chỉ trả toàn bộ tiền đóng góp tổn thất chung, ngược lại thì công ty bảo hiểm chỉ bổi thường một phần theo tỷ lệ, phân còn lại phía hàng hoá gánh chịu Limited Guarantee là một loại đảm bảo chỉ trả phần đóng góp phân bổ tổn thất chung theo tỷ lệ giữa tiền bồi thường bảo hiểm với tiền đóng góp tổn thất chung lấy tiễn bổi

thường bảo hiểm làm giới hạn

2 Bảo lãnh không giới hạn ( Unlimited Guarantee)

SO TAY HANG HAI 781

Ngày đăng: 03/10/2012, 15:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Khoản tiền ký. quý đó cùng với khoản lãi cộng dồn, nếu có, sẽ dược coi như một hình thức đảm bảo thanh  toán  cho  các  bên  có  quyển  được  hưởng  thanh  toán  đối  với  tổn  thất  chung,  cứu  hộ  hoặc  các  chỉ  phí  đặc  biệt  có  thể  thanh  toán  b - Sổ tay hàng hải - T2 - Chương 44
ho ản tiền ký. quý đó cùng với khoản lãi cộng dồn, nếu có, sẽ dược coi như một hình thức đảm bảo thanh toán cho các bên có quyển được hưởng thanh toán đối với tổn thất chung, cứu hộ hoặc các chỉ phí đặc biệt có thể thanh toán b (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN