Khu vực mậu dịch tự do asean
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
===============
TIỂU LUẬN KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN
Bộ Môn : Đầu Tư Quốc Tế Giảng viên : Trần Thanh Phương
Nhóm thực hiện: Pháp 2 – Khối 2 Kinh tế - K50
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, trên thế giới đã xuất hiện nhiều tổ chức hợp tác trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… trong đó phải kể đến các tổ chức lớn như tổ chức thương mại thế giới GATT (tiền thân của WTO), liên minh châu Âu EU hay diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương APEC Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, các tổ chức quốc tế càng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế quốc tế cũng như duy trì hòa bình thế giới Không nằm ngoài xu thế
đó, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ra đời với mục đích tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa các nước thành viên nói riêng và tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các đối tác quốc tế nói chung Riêng đối với Việt Nam, việc gia nhập tổ chức này đă tạo điều kiện cho đất nước phát huy thế mạnh của mình, dần dần chuyển tứ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường năng động tạo đọng lực cho sự phát triển của đất nước Tuy vậy, việc mở cửa thị trường đối với các thành viên ASEAN cũng tạo ra nhiều khó khăn đối với Việt Nam chẳng hạn như nguy cơ bị phụ thuộc quá nhiều về kinh tế dẫn tới sự bất ổn định về chính trị
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về lịch sử cũng như hoạt động của ASEAN nói chung và của các nước thành viên nói riêng là hết sức cần thiết nhằm giúp cho Việt Nam có thể tận dụng hết được lợi ich khi tham gia vào tổ chức này đồng thời hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của việc mở cửa nền kinh tế Có như vậy, Việt Nam mới có thể phát huy được hết các thế mạnh của mình và đạt được những bước phát triển như mong đợi Vì nhứng lí do trên, các tác giả đã chọn đề tài “Khu vực tự do ASEAN” cho bài tiểu luận của mình Bài tiểu luận gồm 4 phần Trong phần 1, tác giả sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành cũng như các nguyên tắc hoạt động của tố chức Phần 2 sẽ tập trung nghiên cứu các hoạt động của ASEAN mà cụ thể là hoạt động đối nội và đối ngoại Tiếp đó, tác giả sẽ ngiên cứu khu vực tự do mậu dịch ASEAN (AFTA) Ở phần cuối bài tiểu luận, tác giả đưa ra thêm một số thông tin về quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN
Dù đã rất cố gắng nhưng bài tiểu luận này không thể tránh được những thiếu sót, các tác giả rất mong nhận được sự góp ý từ giảng viên và các bạn sinh viên
Trang 4Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Trước bối cảnh tình hình chiến tranh căng thẳng trên thế giới, một trong những động cơ cho sự ra đời của ASEAN là để các thành viên giới cầm quyền có thể tập trung cho việc xây dựng và củng cố sức mạnh quốc gia Không giống nhưLiên minh châu Âu, ASEAN được thiết
kế để phục vụ chủ nghĩa quốc gia
Ngày nay, ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều mặt với các Đối tác trong
và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như ASEAN+1 (hợp tác ASEAN với từng Đối tác); ASEAN+3 (với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á (với 3 nước Đông Bắc Á và Ấn Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân); Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF)…
Hiện nay, tổ chức này gồm 10 quốc gia thành viên được liệt kê theo ngày gia nhập:
Quốc gia Ngày gia nhập ASEAN Thủ đô Diện tích (km2)
Trang 6Singapore 08/08/1967 Singapore 697
Brunei Darussalam 08/01/1984 Bandar Seri Begawan 5765
Ngoài ra, ASEAN hiện có hai quan sát viên và ứng cử viên là Papua New Guinea (quan sát viên của ASEAN) và Đông Timo (ứng cử viên của ASEAN)
1.2 Mục tiêu hoạt động của ASEAN
− Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực trên tinh thần bình đẳng hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hoà bình và thịnh vượng
− Thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyện tắc luật pháp của các nước trong vùng và hiến chương Liên Hiệp Quốc
Trang 7− Thúc đẩy việc giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trên các lĩnh vực văn hoá,
xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hành chính
− Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hành chính
− Cộng tác có hiệu quả hơn, để sử dụng tốt hơn nền nồn nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch
− Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á
− Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực
1.3.Bộ máy tổ chức của ASEAN
Hiến chương ASEAN quy định bộ máy tổ chức của ASEAN gồm các cơ quan:
− Cấp cao ASEAN : Cơ quan hoạch định chính sách tối cao của ASEAN, bao gồm những người đứng đầu Nhà nước hoặc Chính phủ các quốc gia thành viên Hội nghị Cấp cao ASEAN được tổ chức mỗi năm 2 lần
− Hội đồng Điều phối ASEAN (ACC) : gồm các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, họp ít nhất 2 lần một năm, có nhiệm vụ điều phối các hoạt động hợp tác ASEAN nói chung và chuẩn bị cho các Hội nghị Cấp cao
− Các Hội đồng Cộng đồng ASEAN : bao gồm Hội đồng Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSCC), Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AECC) và Hội đồng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCCC), họp ít nhất 2 lần một năm, do Bộ trưởng có liên quan của quốc gia đang giữ cương vị Chủ tịch ASEAN chủ trì, có nhiệm vụ theo dõi và điều phối hợp tác ASEAN trên từng trụ cột Cộng đồng mình phụ trách
− Ủy ban các Đại diện thường trực ASEAN (CPR) đặt tại Jakarta, đóng vai trò là cơ quan đầu mối, theo dõi và điều phối các hoạt động hợp tác hàng ngày của ASEAN
− Tổng thư ký ASEAN và Ban thư ký ASEAN đặt tại Jakarta, đóng vai trò là cơ quan hỗ trợ hành chính cho các hoạt động hợp tác ASEAN
− Ban thư ký ASEAN Quốc gia, nằm trong Bộ Ngoại giao của các nước thành viên, chịu trách nhiệm theo dõi và điều phối các hoạt động hợp tác ASEAN ở cấp quốc gia
Trang 82 Hoạt động của ASEAN
2.1.Quan hệ kinh tế nội khối
2.1.1 Hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp
Hợp tác nông nghiệp ASEAN bắt đầu từ khoảng thời gian 1968, không lâu sao khi ASEAN được thành lập Mục tiêu ban đầu là đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm giữa các nước trong khối Đến năm 1977, quan hệ hợp tác này được mở rộng sang lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp Đến hiện nay, các lãnh vực cụ thể trong quan hệ hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp bao gồm: cây trồng, an toàn thực phẩm, chăn nuôi, ngư nghiệp, đào tạo và hợp tác nông nghiệp, hợp tác khai thác các sản phẩm rừng
và nông nghiệp
Mục tiêu chính của Hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp là tăng cường
và thực hiện các hoạt động hợp tác nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông lâm thủy sản ASEAN cũng như thúc đẩy thực hiện an toàn thực phẩm trong khu vực và hướng ra thế giới
− Cam kết danh vực dành cho cá nhân từ cơ quan quản lý Hải quan các nước thành viên
− Áp dụng chế độ một cửa bao gồm hệ thống xử lý tài liệu thương mại tự động cho từng quốc gia và khu vực
Vì thế các quan chức Hải quan các nước ASEAN hợp tác xây dựng Bản hướng dẫn định
giá Hải Quan ASEAN (ACVG - the ASEAN Customs Valuation Guide) và thống nhất những vấn
Trang 9đề về kĩ thuật hải quan, tên gọi, chuẩn hóa thông tin, hài hòa những thông lệ hải quan theo phương pháp định giá chung của WTO/GATT
Hiện nay, ASEAN đang xây dựng một Danh mục biểu thuế hài hòa chung ASEAN
(AHTN) Danh mục biểu thuế này sẽ dựa trên dựa trên phiên bản mới nhất của hệ
thống Hài Hòa miêu tả và mã số hàng hóa mới nhất do Tổ chức Hải quan Thế giới
Trang 102, Các liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV – ASEAN Industrial Joint Venture) bắt đầu từ
1/1983
3, Bổ sung công nghiệp ASEAN (AIC – ASEAN Industrial Complementation) đưa ra 6/1991
4, Liên kết sản xuất chung nhãn mác (BBC – Brand to Brand Complementation) khởi đầu từ
10/1988
5, Chương trình hợp tác công nghiệp (ASEAN Industrial Cooperation Scheme – AICO)
được kí tại Singapore 27/4/1996 , chính thức có hiệu lực từ ngày 1/11/1996 dùng để thay thế cho BBC và AIJV
Mục đích chủ yếu của AICO là khuyến khích liên kết sản xuất giữa các xí nghiệp của các nước ASEAN, kể cả các xí nghiệp vừa và nhỏ, và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của ASEAN
Các sản phẩm được sản xuất bởi các xí nghiệp tham chương trình AICO được hưởng mức ưu
đãi thuế quan tối đa là 0-5% và các khuyến khích phi thuế quan do từng nước quy định.
Tổng kết những ứng dụng được phê chuẩn của các nước thành viên AICO (nguồn http://www.aseansec.org/)
2.1.4.Chương trình hợp tác đầu tư :
ASEAN là một trong khu vực thu hút đầu tư hàng đầu thế giới vì thế cộng đồng ASEAN luôn khẳng định cam kết cung cấp cho các nhà đầu tư một môi trường cạnh tranh và hấp dẫn cho nhà đầu tư và các hoạt động kinh doanh
Vào tháng 7/1998 ASEAN kí hiệp định thành lập khu đầu tư ASEAN (AIA – ASEAN
Investment Area) để cung cấp một môi trường tự do kinh doanh, đầu tư, công nghệ và nhân
lực chất lượng cao Mục tiêu chính của AIA là :
Trang 11− Hợp tác để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN từ các nguồn trong và ngoài ASEAN.
− Dành nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – National Treatment) cho các nhà đầu tư
ASEAN vào năm 2010 và tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020
− Mở cửa tất cả các ngành công nghiệp cho cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020
− Thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệ giữa các nước thành viên ASEAN
Hiệp định AIA ngày nay đã mở rộng sang các ngành : sản xuất, nông nghiệp, khai khoáng, nông lâm nghiệp, và dịch vụ (có giới hạn một số ngành), góp phần đảm bảo cung cấp thông tin minh bạch trong chính sách, luật, thủ tục hành chính đầu tư ; xóa bỏ hàng rào đầu tư và tự do hóa luật và chính sách đầu tư của tất cả những khu vực được quy định trong Hiệp định
Để thực hiện nội dung của Hiệp định AIA, ASEAN đề ra 3 chương trình :
1, Chương trình hợp tác và thuận lợi hóa
Trang 12Bảng tỷ lệ các ngành trong GDP của các nước ASEAN (nguồn http://www.aseansec.org/)
Dịch vụ là một lĩnh vực khá quan trọng trong khối ASEAN Để phát triển tự do hóa thương mại dịch vụ trong khối, 12/1995 Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN trong Hội nghị cao cấp ASEAN lần V đã thông qua Hiệp định khung dịch vụ ASEAN (AFAS).
AFAS nhằm mục tiêu xóa bỏ mọi rào cản thương mại dịch vụ trong những
quốc gia ASEAN để tăng khả năng cạnh tranh của những nhà cung cấp dịch vụ ASEAN AFAS cung cấp sự hướng dẫn rộng rãi cho các nước thành viên ASEAN để cải thiện khả năng tiếp cận thị trường và đảm bảo Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia trong quốc gia
Trang 13ASEAN Tất cả các quy định của AFAS đều bám sát luật quốc tế được quy định bởi GATS và WTO.
2.1.6.Hợp tác tài chính ngân hàng
Chương trình nổi bật đầu tiên của ASEAN trong lĩnh vực tài chính ngân hàng là
Thỏa thuận trao đổi (Swap Arrangment) giữa các ngân hàng trung ương và các cơ quan
tiền tệ ASEAN được kí kết tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ II (1977) nhằm cung cấp kịp thời các khoản tín dụng quốc tế ngắn hạn cho các nước thành viên đang gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế Thỏa thuận này hết hạn vào năm 1992 và được gia hạn thêm 5 năm đến 1997
Hiện nay các nước đang đàm phán về hoạt động tiếp theo nhằm thiết lập một diễn đàn giữa các ngân hàng trung ương của các nước thành viên Các nước ASEAN cũng đã nhất trí tiếp tục công tác theo dõi các vấn để tài chính quốc tế có thể có ảnh hưởng đến ASEAN để kịp thời có biện pháp xử lý
Trong giai đoạn sau 1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã có nhiều tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế ASEAN vì thế các nước ASEAN đã tích cực hợp tác
để hỗ trợ nhau trong cuộc khủng hoảng và đề phòng cũng như dự báo các cơn khủng hoảng kinh tế khác trong tương lai
Nhằm mục tiêu trên, tại hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN vào 2004, chương
trình Tiến trình giám sát ASEAN (ASEAN Surveillance Process - ASP) đã được thành lập
ASP bao gồm những mục tiêu sau :
1, Sự giám sát phát triển kinh tế và tài chính quốc gia, khu vực cũng như toàn cầu với
mục đích: theo dõi tiến trình phục hồi và phát hiện bất cứ dấu hiệu nào của việc tái phát tính dễ bị tổn thương trong các nền kinh tế ASEAN Kết quả của tiến trình giám sát được thông báo cho các bộ trưởng tài chính hai năm một lần
2, Xét duyệt công bằng (Peer review), cung cấp một diễn đàn trong đó các Bộ trưởng tài
chính ASEAN có thể trao đổi các quan điểm và thông tin về những phát triển tại các nền
Trang 14kinh tế trong nước, bao gồm các cả biện pháp chính sách đã được thực hiện và tiến trình cải cách cơ cấu Sự xét duyệt tạo ra một cơ hội cân nhắc các hành động tập thể hoặc đơn phương nhằm phản ứng trước những mối đe doạ tiềm năng đối với một nền kinh tế thành viên bất kỳ
ASP có vai trò như một cơ chế cảnh báo sớm.
Các nhà lãnh đạo ASEAN cũng vach ra lộ trình hội nhập tài chính ASEAN nhằm hiện
thực hoá Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) nhằm thiết lập một thị trường thống nhất và một
nền tảng sản xuất được đặc trưng bằng sự luân chuyển tự do hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và các luồng vốn AEC sẽ tạo điều kiện cho sự thuyên chuyển các nhà kinh doanh, lao động có kỹ năng
và các nhân tài trong khu vực
Ngoài ra, ASEAN cũng hướng đến thành lập một Cộng đồng kinh tế theo như mô hình cộng đồng kinh tế của EU Cũng giống như EU, việc thông qua một đồng tiền chung ASEAN khi đạt đủ các điều kiện thích hợp sẽ là giai đoạn cuối của một Cộng đồng kinh tế ASEAN Tuân theo lộ trình này, các cách tiếp cận và các mốc phát triển được xác định là:
− Quyền sở hữu trí tuệ
− Khoáng sản và dịch vụ năng lượng
− Doanh nghiệp vừa và nhỏ
− Tiêu chuẩn và thống nhất tiêu chuẩn
− Du lịch
− Giao thông vận tải
Trang 152.2.Quan hệ của ASEAN với các quốc gia và tổ chức trên thế giới
2.2.1.ASEAN + 3
Với sự ra đời của ASEAN +3, các nước Đông Á, vốn có những khác biệt về lịch sử văn hoá, trình độ phát triển và chế độ chính trị, đã liên kết với nhau thông qua các thể chế hợp tác Hợp tác ASEAN +3 được triển khai qua 2 kênh:
Kênh Ilà kênh chính thức của các chính phủ ASEAN +3 Ở kênh này, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN +3 là cơ quan quyền lực cao nhất; tiếp đến là các hội nghị cấp bộ, hội nghị các quan chức cao cấp
Kênh IIthu hút sự tham gia của giới học giả, các nhà nghiên cứu chiến lược, đại diện giới doanh nghiệp và xã hội dân sự Nhiệm vụ của kênh này là tư vấn cho Hội nghị thượng đỉnh ASEAN +3 và các hội nghị cấp bộ trong quá trình hoạch định chính sách phát triển của hợp tác ASEAN +3 Các thể chế chính trong kênh này bao gồm: Nhóm Tầm nhìn Đông Á, Nhóm nghiên cứu Đông Á, Diễn đàn Đông Á, Hội đồng kinh doanh Đông Á Thông qua các thể thể hợp tác này, quan hệ hợp tác đa phương giữa các nước Đông Á đã phát triển nhanh chóng và toàn diện
Sự ra đời của ASEAN +3 đã và đang thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương giữa ASEAN
và các nước Đông Bắc Á : Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
Quan hệ ASEAN - Trung Quốc chính thức thiết lập từ năm 1991, được thể chế hoá từ tháng 12/1997 Hằng năm, các nhà lãnh đạo hai bên gặp gỡ thường xuyên, trao đổi về các vấn
đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm
Nếu trong những năm đầu mới thiết lập quan hệ, hợp tác an ninh là một lĩnh vực nhạy cảm mà cả ASEAN và Trung Quốc đều né tránh, thì từ năm 1997, hai bên đã quyết định hợp tác trong lĩnh vực này, trước hết là trong các vấn đề an ninh phi truyền thống Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc lần thứ III tổ chức ở Singapore (tháng 11/2000), hai bên đã
ký “Tuyên bố chung về hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống” với mục tiêu tăng
Trang 16cường năng lực, thúc đẩy ổn định và phát triển, bảo vệ hoà bình và an ninh trong khu vực Ở giai đoạn hiện nay, những ưu tiên trong lĩnh vực này tập trung chủ yếu vào chống buôn bán
ma tuý, buôn bán người, cướp biển, hoạt động khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế
Tronghợp tác kinh tế,hoạt động quan trọng nhất của ASEAN và Trung Quốc từ 2002 tới nay là triển khai xây dựng Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, thực hiện Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN- Trung Quốc, ký kết Hiệp định về mậu dịch hàng hoá và Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp định khung
Với tư cách một khối, trong năm 2006, tổng kim ngạch buôn bán ASEAN - Trung Quốc
đạt 160,8 tỉ USD, mức cao nhất từ trước tới nay và tăng 23% so với mức 2005 Trong năm
2007, kim ngạch buôn bán giữa hai bên ước đạt 170 tỉ USD
Về đầu tư,nguồn FDI từ Trung Quốc vào ASEAN ngày càng tăng Chỉ tính riêng năm
2004, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các nền kinh tế ASEAN tăng 283,86% so với năm 2003; năm 2006 lên tới 1,3 tỉ USD Đầu tư trực tiếp của ASEAN sang Trung Quốc tiếp tục gia
tăng Trong 9 tháng đầu năm 2004, đã có 1.825 dự án đầu tư trực tiếp của ASEAN vào Trung
Quốc
Hợp tác ASEAN và Trung Quốc trong các tổ chức hợp tác đa phương ngày càng chặt chẽ Trong Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), ASEAN và Trung Quốc có chung lập trường về phương hướng và nhịp độ phát triển của tiến trình; Trung Quốc kiên quyết ủng hộ ASEAN nắm vai trò lãnh đạo tại tổ chức này Hợp tác ASEAN - Trung Quốc trong tiến trình ASEM cũng đạt được những thành tựu rõ rệt
Hai bên cùng hợp sức thúc đẩy hợp tác ASEAN +3 nói riêng và hợp tác Đông Á nói chung Với sự ủng hộ mạnh mẽ của Trung Quốc, ASEAN duy trì vai trò lãnh đạo trong tiến trình ASEAN +3 và Thượng đỉnh Đông Á
ASEAN và Nhật Bản thiết lập quan hệ không chính thức từ năm 1973 Năm 1977, hai bên
đã chính thức hoá quan hệ với việc thiết lập Diễn đàn ASEAN - Nhật Bản
Trang 17Với việc thiết lập hợp tác ASEAN +3, quan hệ ASEAN - Nhật Bản có nhiều hứa hẹn, tuy nhiên, cho tới trước năm 2002, quan hệ hai bên chưa thực sự có bước đột phá mới, chủ yếu chỉ tập trung vào hợp tác kinh tế và phát triển.
Từ đầu năm 2002, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Nhật Bản (tháng 11/2003), hai bên
đã ra Tuyên bố chung về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) với mục
tiêu cung cấp thị trường rộng lớn hơn cho các nền kinh tế ASEAN và Nhật Bản
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Nhật Bản kỷ niệm 30 năm ngày thiết lập quan hệ
(tháng 12/2003), hai bên đã ra “Tuyên bố Tokyo về quan hệ đối tác năng động và bền vững
ASEAN - Nhật Bản trong thế kỷ XXI” Đây là văn kiện rất quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa
hai bên, là nền tảng pháp lý để phát triển một cách toàn diện quan hệ giữa ASEAN - Nhật Bản trong thế kỷ XXI Trong văn kiện, hai bên chủ trương thúc đẩy hợp tác kinh tế, chính trị- an ninh, hợp tác song phương, đa phương trong các tổ chức khu vực và quốc tế ASEAN và Nhật Bản đã đề ra 7 chiến lược hành động chung, gồm:
− Đẩy mạnh AJCEP
− Hợp tác về tài chính, tiền tệ
− Củng cố nền tảng cho phát triển kinh tế và sự thịnh vượng
− Tăng cường hợp tác và quan hệ đối tác về chính trị và an ninh
− Tạo thuận lợi, thúc đẩy giao lưu giữa nhân dân các nước và phát triển nguồn nhân lực
− Tăng cường hợp tác về văn hoá và các quan hệ công cộng, làm sâu sắc hơn hợp tác Đông Á vì một cộng đồng Đông Á
− Hợp tác để giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu
Về chính trị,trong các cuộc gặp gỡ cấp cao, hai bên đã trao đổi quan điểm, thảo luận về những vấn đề cùng quan tâm Trong Tuyên bố chung ở Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Nhật Bản lần thứ 10 (tháng 1/2007), hai bên đã bày tỏ quan điểm kêu gọi CHDCND Triều Tiên dỡ bỏ
vũ khí hạt nhân cũng như các chương trình hạt nhân, thực hiện Nghị quyết 1695 và 1718 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề này
Trong lĩnh vực an ninh,hai bên xúc tiến các hoạt động hợp tác trong vấn đề an ninh phi truyền thống Tháng 10/2004, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác chống chủ nghĩa khủng bố Đây là văn kiện hợp tác an ninh đầu
Trang 18Trong lĩnh vực kinh tế,ASEAN và Nhật Bản tập trung triển khai kế hoạch AJCEP Quan
hệ mậu dịch và đầu tư giữa hai bên tăng lên nhanh chóng Trong năm 2005, tổng kim ngạch buôn bán giữa ASEAN và Nhật Bản tăng 7,9% Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào ASEAN cũng
tăng từ 3,12 tỉ USD năm 2004 lên 3,16 tỉ USD vào năm 2005 Nhật Bản tiếp tục là nguồn cung
cấp FDI lớn thứ ba cho ASEAN.
Trong lĩnh vực phát triển,ASEAN tiếp tục là ưu tiên trong các hoạt động ODA của Nhật Bản Để hỗ trợ cho tiến trình hội nhập ASEAN, chính phủ Nhật Bản đã ủng hộ Quỹ Phát triển ASEAN 7,5 tỉ Yên (70 triệu USD) thông qua Quỹ phát triển ASEAN và các quỹ hợp tác ASEAN - Nhật Bản
Trong lĩnh vực văn hoá - xã hội,tại Hội nghị Cebu, Nhật Bản đưa ra Sáng kiến giao lưu thanh niên trên quy mô lớn với tổng kinh phí lên tới 315 triệu USD Sáng kiến này được thực hiện trong vòng 5 năm với dự kiến mỗi năm có 6000 thanh niên từ ASEAN tới thăm Nhật Bản
Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn đề xuất sáng kiến “Con tàu thanh niên Đông Á” nhằm kỷ
niệm 40 năm ngày thành lập ASEAN
Quan hệ ASEAN - Hàn Quốc được chính thức thiết lập vào năm 1989 Sau hai năm hợp tác với tư cách là một đối tác chức năng của ASEAN, tháng 7/1991, Hàn Quốc trở thành đối tác đối thoại của ASEAN Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN không chính thức lần thứ IV (năm 2000) tổ chức ở Singapore, hai bên đã xác định các lĩnh vực ưu tiên hợp tác như công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực, trao đổi văn hoá, viện trợ y tế và phát triển hạ lưu sông
Mekong ASEAN và Hàn Quốc đã thành lập Quỹ đặc biệt ASEAN - Hàn Quốc (SCF), Quỹ các dự
án hợp tác hướng tới tương lai (FOCPE) Quan hệ ASEAN - Hàn Quốc đã có bước tiến đột phá
vào năm 2004, nhân kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ giữa hai bên Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Hàn Quốc lần thứ 8 (tháng 10/2004), các nhà lãnh đạo hai bên đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác hợp tác toàn diện trong thế kỷ XXI Trong bản tuyên bố, hai bên đã đề
ra phương hướng hợp tác trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và phát triển, đặc biệt
là thoả thuận xây dựng Khu mậu dịch tự do ASEAN- Hàn Quốc