2.3.1 Thế mạnh về mặt chi phí Trong quá trình triển khai marketing điện tử vào hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp đã tạo ra được một kệnh giao dịch trực tuyến rất hiệu quả với những
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
YẾU TỐ 4P TRONG MARKETING ĐIỆN TỬ VÀ
VIỆC TRIỂN KHAI TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Vũ Sỹ Tuấn
Hà Nội – Tháng 06/2008
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 6
NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING ĐIỆN TỬ VÀ 6
YẾU TỐ 4P TRONG MARKETING ĐIỆN TỬ 6
I Khái niệm về marketing điện tử 6
1 Định nghĩa về marketing điện tử 6
2 Đặc điểm và thế mạnh của marketing điện tử 7
2.3 Thế mạnh của marketing điện tử 10
2.3.2 Thế mạnh về mặt hiệu quả 11
2.3.3 Thế mạnh về tính linh hoạt 13
3 Các hình thức chủ yếu của marketing điện tử 13
3.1 Trang web (website) 13
3.2 Thư điện tử (e-mail) 16
3.3 Dải băng quảng cáo (banner) 18
3.4 Công cụ tìm kiếm (search engine) 19
3.5 Marketing lan tỏa (viral marketing) 20
3.6 Những câu hỏi thường gặp (FAQs – Frequently Asked Questions) 20
II Khái niệm về yếu tố 4P trong marketing điện tử 21
1 4P là gì? 21
2 Vai trò của yếu tố 4P trong một chiến lược marketing 21
3 Các thành phần của yếu tố 4P trong marketing điện tử 22
3.1 Sản phẩm – Product 22
3.2 Giá cả - Price 25
3.3 Phân phối – Place 27
3.4 Hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh – Promotion 29
CHƯƠNG 2 33
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI YẾU TỐ 4P TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 33
I Những tiền đề nhằm phát triển hoạt động marketing điện tử tại Việt Nam 33
1 Nhận thức về marketing điện tử 33
1.1 Nhận thức của các doanh nghiệp 33
1.2 Nhận thức của người tiêu dùng 35
2 Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước 36
3 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin 39
4 Nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin 41
5 Hệ thống thanh toán điện tử 43
6 Khả năng bảo mật và an toàn thông tin 45
II Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong hoạt động marketing điện tử tại Việt nam 47
1 Sản phẩm 47
2 Giá cả 51
Trang 34 Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh 57
III Đánh giá chung về việc triển khai yếu tố 4P trong hoạt động marketing điện tử tại Việt Nam 61
1 Kết quả đạt được 61
2 Những vướng mắc còn tồn tại 63
2.1 Mức độ khai thác thông tin của website còn yếu 64
2.2 Hệ thống thanh toán điện tử còn kém phát triển 65
2.3 Khả năng bảo mật thông tin chưa cao 66
2.4 Những bất cập trong hoạt động quảng cáo trực tuyến 68
CHƯƠNG 3 71
GIẢI PHÁP NHẰM HỖ TRỢ VIỆC TRIỂN KHAI YẾU TỐ 4P TRONG MARKETING ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 71
I Định hướng phát triển thương mại điện tử và marketing điện tử tại Việt Nam đến năm 2010 71
II Những giải pháp đề xuất nhằm hỗ trợ cho việc triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử tại Việt Nam 74
1 Giải pháp từ phía nhà nước 74
1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lí và nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử 74
1.2 Tập trung hoàn thành chỉ tiêu về phổ cập Internet 76
1.3 Phát triển hệ thống thanh toán điện tử 77
1.4 Xây dựng hệ thống an toàn thông tin trên mạng 77
2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 78
2.1 Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của hoạt động marketing điện tử 78
2.2 Xây dựng chiến lược phát triển hoạt động marketing điện tử 80
2.3 Đầu tư thiết kế website phong phú về nội dung và hình thức 80
2.4 Đẩy mạnh các dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử 82
3 Giải pháp từ phía người tiêu dùng 83
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 4
MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1 Tỉ lệ doanh nghiệp có website năm 2007 ……… 35
Bảng 2 Số lượng người sử dụng internet tại Việt Nam từ 2001 – 2007 ……….37
Bảng 3 Một số văn bản pháp qui liên quan đến thương mại điện tử ban hành trong hai năm 2006 – 2007 ………39
Bảng 4 Hình thức truy cập internet của doanh nghiệp ……… 41
Bảng 5 Một số trường đại học có đào tạo về thương mại điện tử ……….44
Bảng 6 Số lượng ngân hàng triển khai dịch vụ internet banking ……… 45
Bảng 7 Các sản phẩm, dịch vụ cung cấp trên các website ……….49
Bảng 8 Doanh số bán hàng trên sàn giao dịch B2C www.25h.com.vn 51
Bảng 9 Các phương thức giao hàng áp dụng trong doanh nghiệp ………… 57
Bảng 10 Các tính năng của website tại Việt Nam ……… 65
Bảng 11 Tần suất cập nhật thông tin trên các website của doanh nghiệp …… 66
Bảng 12 Kết quả khảo sát về chính sách bảo vệ thông tin cá nhân trên các website về thương mại điện tử ………69
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, những ứng dụng của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại đã trở nên rất phổ biến trong cuộc sống của đại bộ phận người dân Việt Nam Cùng với việc thay đổi thói quen sinh hoạt của người dân, các ứng dụng này, đặc biệt là mạng Internet đã đóng một vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực kinh tế quốc dân Internet đã làm thay đổi nhận thức của các doanh nghiệp và cũng làm thay đổi cách thức kinh doanh truyền thống với việc hình thành và phát triển một hình thức thương mại mới, thương mại điện tử Cùng với sự thay đổi này, hoạt động marketing cũng có những bước tiến mới để phù hợp với điều kiện khách quan và hình thành nên khái niệm mới là marketing điện
tử Mô hình marketing hỗn hợp với yếu tố 4P cổ điển cũng có những biến đổi về chất để thích ứng với sự phát triển của hạ tầng kinh tế nói chung và các phương pháp marketing mới này đã thay đổi phương thức các doanh nghiệp vẫn dùng để tìm hiểu khách hàng của mình
Tại các nước phát triển như Mỹ và EU, các hoạt động marketing điện tử đã trở nên rất phổ biến trong việc xúc tiến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, từ việc điều tra thị trường, xác định nhu cầu của người tiêu dùng cho đến khâu phân phối và quảng cáo Tuy nhiên tại Việt Nam, do các ứng dụng công nghệ mới chỉ hình thành trong xã hội một cách rộng rãi trong khoảng mười năm trở lại đây nên các hoạt động marketing điện tử mới chỉ trong giai đoạn hình thành và bước đầu phát triển Hiện nay, tại Việt Nam, các phương tiện truyền thông hiện đại nói chung và mạng Internet nói riêng thường được sử dụng cho mục đích giới thiệu và quảng bá thông tin cho doanh nghiệp, nhìn chung các lợi ích tiềm năng của Internet chưa được các doanh nghiệp khai thác một cách triệt
để vào các khâu của quá trình kinh doanh như tìm hiểu nhu cầu thị trường, sản xuất hay phân phối Luận văn này được thực hiện nhằm mục đích mang lại một
Trang 6cách nhìn khái quát về hoạt động marketing điện tử nói chung và mô hình marketing hỗn hợp 4P trong đó nói riêng, đồng thời khảo sát phần nào thực trạng triển khai các yếu tố 4P trong hoạt động marketing điện tử tại Việt Nam, qua đó đánh giá những thành quả đã đạt được và những tồn tại cần khắc phục trong việc triển khai các yếu tố của mô hình marketing hỗn hợp trong môi trường điện tử này
Về mặt kết cấu, ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn này được cấu thành từ ba phần chủ yếu sau:
Chương 1: Những lí luận chung về marketing điện tử và yếu tố 4P trong marketing điện tử
Chương 2: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm hỗ trợ việc triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử
Trong quá trình thực hiện luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ chuyên môn rất tận tình của giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Vũ Sĩ Tuấn Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế và thời gian thực hiện ngắn, luận văn này không tránh khỏi còn những thiếu sót Em xin chân thành mong đợi sự đóng góp ý kiến
từ các thầy cô và các bạn để có thể hoàn thiện luận văn này hơn nữa
Hà Nội, tháng 6 năm 2008
Bùi Kim Điệp
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING ĐIỆN TỬ VÀ
YẾU TỐ 4P TRONG MARKETING ĐIỆN TỬ
***
Marketing điện tử, hay thường được biết đến với cái tên e-marketing (electronic marketing) từ khi mới xuất hiện đã và đang là một chủ đề gây ra nhiều bàn luận, bởi lẽ cho đến nay chưa có ai đưa ra được một khái niệm thống nhất trong số rất nhiều những lí thuyết xoay quanh vấn đề này Tuy nhiên, tất cả các lí thuyết đều thống nhất tại một quan điểm rằng marketing điện tử đã xuất phát từ khi các công ty bắt đầu sử dụng các công nghệ mới trong việc tiêu thụ sản phẩm của họ qua mạng Internet từ đầu những năm 90
Philip Kotler đã định nghĩa “Marketing điện tử là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và Internet”
Một chuyên gia khác trong lĩnh vực tiếp thị, Joel Reedy đã định nghĩa
“Marketing điện tử bao gồm tất cả các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng thông qua Internet và các phương tiện điện tử”
Theo từ điển trực tuyến Wikipedia tiếng Anh, marketing điện tử được định nghĩa như sau: “Marketing điện tử là một dạng của thương mại điện tử có thể được định nghĩa như việc đạt được các mục tiêu marketing thông qua việc sử dụng các công nghệ giao tiếp điện tử như Internet, e-mail, e-books, dữ liệu hoặc điện thoại di động… “.[12]
Trang 8Còn có thể liệt kê ra rất nhiều những định nghĩa khác nhau về khái niệm marketing điện tử từ các chuyên gia marketing nổi tiềng trên thế giới, tuy nhiên
có thể thấy tuy rằng hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác về marketing điện
tử nhưng các lí thuyết về vấn đề này đều thống nhất tại các điểm sau:
Môi trường: marketing điện tử chính là hoạt động marketing tại môi
trường Internet
Mục tiêu: đạt được các mục tiêu marketing
Phương tiện: các phương tiện điện tử và các công nghệ truyền thông
được kết nối vào môi trường Internet
Marketing điện tử marketing) là một phần của thương mại điện tử commerce) và kinh doanh điện tử (e-business) Hai khái niệm này đôi khi hay nhầm lẫn là một, tuy nhiên thực chất chúng có sự khác biệt: E-commerce chỉ các hoạt động mua bán thông qua các phương tiện điện tử, trong khi E-business nhằm nói đến tất các các hoạt động kiếm tiền qua mạng, từ việc bán hàng hóa, dịch vụ cho đến tư vấn, đầu tư…
(e-Trong giao tiếp hàng ngày, đôi khi chúng ta bắt gặp các cụm từ online marketing (marketing trực tuyến), Internet marketing (marketing qua mạng) được
sử dụng với ý nghĩa tương tự như e-marketing Trên thực tế, online marketing và Internet marketing chỉ là một phần của e-marketing với ý nghĩa là quảng cáo trực tuyến
Như vậy marketing điện tử là hoạt động marketing được diễn ra dưới sự hỗ trợ của những phương tiện truyền thông điện tử hiện đại như Internet, điện thoại, máy fax… Trong khuôn khổ của luận văn này sẽ tập trung vào phương tiện phổ biến nhất và hiệu quả nhất, đó là mạng Internet và các ứng dụng triển khait rên môi trường Internet
Trang 92.1 Đặc điểm của marketing điện tử
Bản chất của marketing điện tử là diễn ra trong môi trường Internet Marketing điện tử sử dụng Internet và các phương tiện thông tin được kết nối vào Internet Tuy vẫn mang bản chất của marketing nói chung là nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng nhưng marketing điện tử vẫn có những đặc điểm khác với marketing truyền thống do khách hàng trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay có điều kiện và khả năng tiếp cận thông tin nhanh chóng và chính xác nên đã hình thành nên tập quán và thói quen mua hàng khác với người tiêu dùng truyền thống
Nhìn từ góc độ truyền thông, e-marketing có các đặc điểm cơ bản sau:
Tính tương tác: trong môi trường thông tin như Internet, người tiêu
dùng có thể trao đổi thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng vào bất cứ lúc nào
Tính đa phương tiện: có khả năng liên kết và kết hợp các phương tiện
khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh, các đoạn phim…
Khả năng phổ biến rộng rãi: Internet đã xóa bỏ các khoảng cách về
không gian và thời gian E-marketing có thể hoạt động liên tục tại mọi thời điểm, mọi địa điểm, không có thời gian chết và không phụ thuộc vào khoảng cách địa lí
2.2 So sánh giữa marketing điện tử và marketing truyền thống
Marketing điện tử và marketing truyền thống tuy có sự khác nhau về hình thức nhưng trong thực tế vẫn luôn được các doanh nghiệp sử dụng đồng thời để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nhìn chung, hai hình thức marketing này giống nhau ở điểm cốt lõi nhất, đó là chúng đều mang bản chất của hoạt động marketing, tức là tìm hiểu và khai thác nhu cầu của khách hàng để qua đó, doanh nghiệp có thể hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhất
Tuy nhiên, do đặc thù của marketing điện tử là ra đời như một hệ quả tất yếu của thời đại công nghệ thông tin nên hình thái marketing này cũng có những khác
Trang 10biệt nhất định so với hoạt động marketing truyền thống Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức marketing này, đó là marketing điện tử diễn ra trong môi trường điện tử nói chung hay môi trường internet nói riêng, do đó các hành vi marketing điện tử cũng chịu sự chi phối của các đặc tính chủ yếu của môi trường này Biểu hiện của sự khác biệt giữa marketing điện tử và marketing truyền thống thể hiện ở hai mặt, đó là chủ thể và phương tiện tiến hành
Khác với marketing truyền thống, trong đó các doanh nghiệp là chủ thể tiến hành các hoạt động marketing thì trong môi trường internet, chủ thể có thể là doanh nghiệp như trong mô hình giao dịch B2B, B2C, cũng có thể là người tiêu dùng như trong mô hình C2C Vì đặc thù này mà trong marketing điện tử, hoạt động marketing diễn ra không đơn thuần là một chiều, với sự tiếp nhận thông tin một cách thụ động như trước Trong marketing truyền thống các hoạt động marketing như nghiên cứu thị trường, phân phối sản phẩm , xúc tiến hỗ trợ kinh doanh… được thực hiện thông qua các phương tiện chủ yếu như điện thoại, fax, truyền hình, tờ rơi, báo, tạp chí, các cửa hàng bán buôn và bán lẻ … Những phương tiện này phần lớn chỉ thực hiện được khả năng tương tác một chiều giữa doanh nghiệp và khách hàng, do đó sự phối hợp giữa các hoạt động marketing thường tốn nhiều thời gian và chi phí
Internet ra đời kéo theo nó là sự ra đời của thương mại trực tuyến, marketing cũng diễn ra trong môi trường mới, môi trường internet, do vậy những hoạt động của e-marketing cũng diễn ra chủ yếu trong môi trường này, và diễn ra chủ yếu thông qua máy tính điện tử Chỉ cần có một máy tính nối mạng, doanh nghiệp có thể tiến hành được hầu hết các hoạt động của marketing như nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin về sản phẩm và dịch vụ, quảng cáo, thu thập ý kiến phản hồi từ người tiêu dùng… Cũng trong môi trường này, các thông tin của chủ thể thực hiện hoạt động marketing có tính tương tác rất cao
Trang 112.3 Thế mạnh của marketing điện tử
Với những đặc điểm nổi bật kể trên, marketing điện tử đã thể hiện những thế mạnh nhất định so với hình thức marketing truyền thống
2.3.1 Thế mạnh về mặt chi phí
Trong quá trình triển khai marketing điện tử vào hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp đã tạo ra được một kệnh giao dịch trực tuyến rất hiệu quả với những thông tin phản hồi từ phía khách hàng rất nhanh chóng và chính xác Đống thời, doanh nghiệp có thể thu thập được các số liệu thống kê trực tuyến, đánh giá ngay được hiệu quả chiến dịch marketing của mình thông qua các công cụ như thăm dò khách hàng, mức độ phổ biến của website hay mức độ phản hồi trong các diễn đàn hoặc FAQs… Đây là điều không thể làm được trong hoạt động marketing truyền thống Mặt khác, hoạt động marketing truyền thống cần vận dụng nhiều nguồn lực hơn, trong khi đó lại đạt được hiệu quả chậm hơn Một chiến dịch quảng cáo qua truyền hình cần có sự đầu tư lớn về mặt hình ảnh và chi phí truyền thông, trong khi người tiêu dùng lại bị hạn chế về thời gian theo dõi
So sánh với việc thuê một công ty chuyên về mạng để đưa quảng cáo của công ty lên Internet với chi phí rẻ hơn hẳn và người tiêu dùng có thể theo dõi bất cứ khi nào có nhu cầu, ta có thể thấy rõ ưu điểm về chi phí của hoạt động marketing điện
tử
Trong hoạt động marketing truyền thống, để đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng thì hàng hóa phải trải qua rất nhiều các khâu phân phối như nhà bán buôn, nhà bán lẻ, các đại lí, môi giới… Giao dịch qua trung gian buộc doanh nghiệp phải chia sẻ lợi nhuận và do đó, giá thành hàng hóa khi đến tay người tiêu dùng đã bị tăng thêm Tuy nhiên trong e-marketing thì doanh nghiệp
có thể bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng, bỏ qua các khâu trung gian Một cách tự nhiên, việc này đã hiện đại hóa hệ thống bán lẻ của nền kinh tế Thay
Trang 12vì phải đến tận cửa hàng để được nhìn và tiếp xúc với sản phẩm, giờ đây khách hàng có thể ngồi tại nhà, tra cứu trên Internet về bất kì đặc điểm nào của sản phẩm mà anh ta mong muốn, đồng thời lại dễ dàng so sánh giá cả và tính năng với các sản phẩm cạnh tranh khác trên thị trường, và sau đó chỉ bằng một cú click, hàng hóa sẽ được gửi đến tận nơi Một hệ thống giao dịch đơn giản như vậy sẽ dần thay thế cho hệ thống các đại lí và cửa hàng bán lẻ cồng kềnh như hiện nay, hạn chế chi phí sản xuất cho doanh nghiệp và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở mức tối đa.Việc phân phối qua Internet mà không thông qua bất kì một kênh phân phối nào khác (đối với các sản phẩm số hóa) còn giúp tránh được rủi ro không tìm thấy khách hàng và giảm chi phí lưu kho hàng hóa
Ngoài ra, do việc ứng dụng các công nghệ truyền thông hiện đại nên các quá trình đàm phán, kí kết hợp đồng có thể thực hiện qua điện thoại, máy fax, e-mail … mà không cần thiết phải gặp mặt trực tiếp Việc này ngoài ý nghĩa làm tăng sự thuận tiện cho cả hai bên, còn có tác dụng giảm chi phí giao dịch
2.3.2 Thế mạnh về mặt hiệu quả
Với đặc tính nối bật của Internet là không bị phụ thuộc vào không gian cũng như thời gian, e-marketing mang lại những hiệu quả nổi bật sau đây
Tiếp cận khách hàng nhanh hơn và tập trung hơn
Marketing điện tử là hình thức marketing có khả năng truyền thông tin về sản phẩm tới người tiêu dùng một cách nhanh chóng nhất, khách hàng có thể tiếp cận những thông tin này một cách nhanh nhất, đồng thời tính tương tác cao của Internet cho phép người tiêu dùng có thể phản hồi thông tin bất cứ lúc nào Do vậy, doanh nghiệp có khả năng nắm bắt thông tin về nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất và chính xác nhất Trong marketing thông thường, hàng hóa khi đến tay người tiêu dùng đã phải trải qua nhiều khâu trung gian nên thông tin phản hồi thường không chính xác, đầy đủ và nếu có thì cũng mất rất nhiều thời gian
Trang 13mới đến tay doanh nghiệp Ngày nay, với các phương tiện như website, e-mail, các diễn đàn thảo luận … doanh nghiệp có thể thực hiện các giao dịch trực tiếp và đảm bảo nhận được thông tin phản hồi một cách xác thực nhất
Thời gian hoạt động hiệu quả hơn
Môi trường hoạt động của marketing điện tử là Internet, một môi trường hoạt động liên tục 24/7 và không tồn tại khái niệm thời gian chết (death of time) Đây là điểm vượt trội so với marketing thông thường, các hình thức marketing truyền thống có hiệu quả đến đâu cũng không thể phát huy tối đa tác dụng như các hình thức ứng dụng Internet
Môi trường trực tuyến giúp các doanh nghiệp rút ngắn thời gian tiến hành các hoạt động marketing, rút ngắn được thời gian và chi phí giao dịch Ngay khi nội dung thông tin được hoàn thiện, nó sẽ được truyền đi ngay lập tức và người nhận có thể tiếp nhận nội dung thông tin gần như ngay sau đó Một nghiên cứu chỉ ra rằng thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua fax và bằng 0.05% thời gian giao dịch qua đường bưu điện
Có khả năng thâm nhập thị trường trên phạm vi toàn cầu
Với đặc tính là xóa bỏ mọi rào cản về khoảng cách địa lí (death of distance), marketing qua Internet có khả năng thâm nhập đến khắp mọi nơi trên thế giới, khoảng cách giữa các thị trường ngày càng trở nên mờ nhạt điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không còn bị bó hẹp bởi phạm vi không gian thị trường trong nước mà có thể mở rộng ra phạm vi toàn cầu và do cậy lượng khách hàng sẽ tăng lên rất nhiều chỉ cần một website giao dịch, doanh nghiệp đã có thể tiến hàng chào hàng, giới thiệu sản phẩm, kí kết hợp đồng và duy trì quan hệ khách hàng cũng như thiết lập hình ảnh của mình trên thị trường bất kì quốc gia nào
Khắc phục tính khác biệt về văn hóa, luật pháp, kinh tế
Trang 14Về văn hóa, do không còn biên giới địa lí và việc sử dụng ngôn ngữ của trang web dẫn đến sự khác việt về đặc thù văn hóa giảm đáng kể Về luật pháp,
Bộ luật mẫu về Thương mại điện tử tạo nền tảng cho Luật thương mại điện tử và Luật giao dịch điện tử của các nước Các qui định về chữ điện tử và giao dịch điện tử cũng có sự thống nhất cao trên thế giới Vì vậy các doanh nghiệp sẽ phải tuân theo các qui tắc đã được thừa nhận chung trong cộng đồng quốc tế
2.3.3 Thế mạnh về tính linh hoạt
Người tiêu dùng có thể tùy biến truy cập thông tin, đặt hàng hay gửi ý kiến phản hồi tới doanh nghiệp mà không gặp một trở ngại nào về không gian cũng như thời gian Tính chất đa phương trong giao tiếp, tính tương tác và cởi mở của mạng Internet cho phép người tiêu dùng tiếp nhận thông tin từ nhiều chiều, từ đó trở nên linh hoạt trong việc đưa ra quyết định [10]
3.1 Trang web (website)
Website là hình thức phổ biến nhất của các hoạt động marketing điện tử Một website là một dãy các trang web liên kết với nhau và liên kết với các site khác Các trang web chứa văn bản (text), đồ họa, các dải băng quảng cáo (banner)
và đôi khi cả video và audio Website trong thương mại điện tử được coi như một cửa hàng trực tuyến hay cửa hàng ảo Một website gồm hai phần cơ bản là Trang chủ (Homepage), trang đầu tiên khi nạp một URL, trang chủ chứa các liên kết đến vùng riêng trong website và Trang web (webpage), các trang web chứa các thông tin và được liên kết từ trang chủ đến
Website là một showroom trên mạng Internet – nơi trừng bày và giới thiệu thông tin, hình ảnh về doanh nghiệp và sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp hay giới thiệu bất kì thông tin nào khác cho mọi người trên toàn thế giới truy cập
Trang 15bất cứ lúc nào Để một website hoạt động được cần phải có tên miền (domain), lưu trữ (hosting) và nội dung (các trang web hoặc cơ sở dữ liệu thông tin)
Đặc điểm tiện lợi của website là thông tin dễ dàng được cập nhật, thay đổi, đồng thời khách hàng có thể xem thông tin ngay tức khăc, ở bất kì nơi nào Ưu thế của website so với các hình thức truyền tải thông tin truyền thống là tiết kiệm được chi phí in ấn, chi phí gửi bưu điện và không giới hạn nội dung, không giới hạn độ trang… và không giới hạn phạm vi địa lí
Một website thường có những nội dung cơ bản sau:
Trang chủ (homepage): là nơi liệt kê các liên kết đến các trang khác của
website, trang chủ thường dùng để trưng bày những thông tin mới nhất mà doanh nghiệp mới giới thiệu đầu tiên với người xem
Trang liên hệ (contact us): trưng bày thông tin liên hệ với doanh nghiệp và
thương có một form liên hệ để người xem trao đổi thông tin lập tức với doanh nghiệp
Trang thông tin giới thiệu về doanh nghiệp (about us): người xem khi đã
xem website thường có nhu cầu tìm hiểu về nhà cung cấp, mặt khác đây cũng là một cơ hội để quảng bá doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp cần có một trang giới thiệu về mình và nêu ra những thế mạnh của mình so với các đối thủ cạnh tranh
Trang giới thiệu về sản phẩm hay dịch vụ: đây là nội dung chính của một
website, là nơi giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ với các thông tin và hình ảnh minh họa Những thông tin này phải thỏa mãn được nhu cầu tìm hiểu của khách hàng và thuyết phục họ đi đến quyết định mua sản phẩm
Trang hướng dẫn dùng để cung cấp thông tin cho người xem trong trường
hợp họ muốn mua hay đặt hàng, dịch vụ Thông tin trên trang này nếu được trình bày tốt sẽ tạo ấn cho người xem ấn tượng về tính chuyên nghiệp của doanh nghiệp
Trang 16Hiện nay, trên thế giới có hơn 40 triệu website với hơn 8 tỉ trang liên kết trong đó Hàng ngày số các trang web không ngừng tăng lên, nội dung và hình thức của các website cũng ngày càng được cải tiến Trong số các website được sinh ra nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh tồn tại các mô hình điển hình như sau:
Cửa hàng điện tử, siêu thị điện tử (e-shop): nổi tiếng nhất ở dạng này là
website www.amazon.com, chuyên bán lẻ sách, CD, ứng dụng phần mềm, đồ chơi… qua mạng Mô hình này hoạt động tương tự như một siêu thị hay cửa hàng truyền thống, cho phép người mua chọn lựa hàng hóa, thay đổi số lượng món hàng, tính tiền, thanh toán và nhận hàng sau đó
Đấu giá trực tuyến (online auction): trong số các mô hình đấu giá trực
tuyến thì www.ebay.com dẫn đầu về sự nổi tiếng Website đấu giá trực tuyến mô phỏng quy trình bán đấu giá vật dụng, tức là người bán đưa ra giá sàn, sau đó những người mua lần lượt trả giá cao hơn Đến thời điểm nhất định, ai trả giá cao nhất sẽ là người có quyền mua món hàng
Sàn giao dịch B2B: một sàn giao dịch điển hình là www.alibaba.com, là nơi các doanh nghiệp tham gia giới thiệu về mình, đăng tải các yêu cầu mua bán, tìm đối tác Vì là B2B nên các sàn giao dịch này không phục vụ việc bán lẻ và thanh toán qua mạng vì không cần thiết
Cổng thông tin (portal): giống như danh bạ điện thoại liệt kê thông tin liên
lạc của các công ty theo ngành nghề, những cổng thông tin này liệt kê những địa chỉ website theo phân loại ngành nghề, ví dụ như www.dir.yahoo.com
Website thông tin phục vụ việc quảng bá, quảng cáo: là những trang web
trưng bày nhiều thông tin thời sự, giải trí, du lịch, văn hóa … để tạo cộng đồng người xem đông đúc và từ đó có doanh thu từ những đối tượng có nhu cầu đăng quảng cáo
Trang 17Website giới thiệu thông tin doanh nghiệp: đây là dạng website đơn giản
nhất, chỉ để giới thiệu thông tin về doanh nghiệp, dịch vụ, sản phẩm cung cáp và cho phép người xem liên lạc với doanh nghiệp qua website này Doanh nghiệp có thể bán sản phẩm của mình thông qua website giới thiệu thông tin này
3.2 Thư điện tử (e-mail)
Bên cạnh website, e-mail cũng là một công cụ có hiệu quả cao và thường được sử dụng trong việc triển khai các hoạt động marketing, không chỉ với mục đích thông tin cho khách hàng mà còn để nhận những phản hồi từ khách hàng Khi muốn thông tin về những đợt khuyến mại đặc biệt hay những đặc điểm mới của sản phẩm, dịch vụ hoặc sự ra mắt của một sản phẩm, dịch vụ mới, công tu chỉ cần chủ động thông báo qua e-mail, vừa nhanh chóng, vừa hiệu quả E-mail còn giúp tạo dựng mối quan hệ khách hàng Do đó, nhiều công ty đã sử dụng e-mail như là một công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện chiến lược marketing thu hút khách hàng
Thông qua e-mail, nhà marketing có thể dễ dàng thu thập được các thông tin về khách hàng, làm giàu thêm cơ sở dữ liệu của mình để chiến dịch marketing được hiệu quả hơn Về mặt hình thức, e-mail nên được trình bày đẹp để thu hút sự chú ý của khách hàng, ngoài ra trong e-mail nhất thiết phải có đường dẫn đến website chính thức của công ty để qua đó, người quản lí marketing có thể dễ dàng theo dõi được có bao nhiêu khách hàng đã ghé qua website của công ty theo đường dẫn đó, từ đó đánh giá được mức độ thành công của chiến dịch marketing
Thư điện tử cũng đang trở thành một phần không thể thiếu trong việc tạo lập và duy trì các mối quan hệ với khách hàng Thư điện tử có thể bổ trợ thêm cho các phương tiện truyền thông khác trong việc nhắc lại các thông điệp quảng cáo, thông báo về sản phẩm mới, lịch hội thảo hay các thông tin về triển lãm thương mại…
Trang 18Các loại e-mail được sử dụng trong hoạt động marketing điện tử có thể chia thành hai loại chính như sau:
E-mail marketing được sự cho phép của người nhận (Opt-in e-mail)
Đây là hình thức gửi e-mail đến người nhận với điều kiện đã được sự cho phép của người nhận những thông tin về địa chỉ e-mail thường được thu thập thông qua quá trình đăng kí của người tiêu dùng tại các website của doanh nghiệp hay thông qua quá trình khảo sát điều tra thị trường những thông tin này được người tiêu dùng cung cấp một cách tự nguyện, do đó những nội dung quảng cáo trong e-mail nằm trong nhu cầu tìm hiểu thông tin của người tiêu dùng và do đó hoàn thành nhiệm vụ truyền bá thông tin của doanh nghiệp Opt-in e-mail do đó
là một hình thức quảng cáo hiệu quả, có khả năng gây dựng uy tín của doanh nghiệp và phát triển mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng
E-mail marketing không được sự cho phép của người nhận (Spam)
Đây là hình thức gửi e-mail cho người nhận trong khi người nhận không hề đăng kí một cách tự nguyện để nhận được các e-mail đó Những thông tin về địa chỉ e-mail của người nhận spam thường được thuê từ một nhà cung cấp trung gian hoặc từ một phần mềm dò tìm địa chỉ thư điện tử trên mạng Đây là hình thức e-mail thường bị người tiêu dùng phản đối rất gay gắt vì họ không hề mong đợi nhận được hàng loạt các thư quảng cáo về những sản phẩm không mong muốn Người gửi spam thường không quan tâm đến việc tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp, và trên thực tế spam thường tạo ấn tượng rất xấu về doanh nghiệp sử dụng hình thức này Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp khéo léo kết hợp các hình thức
hỗ trợ cho e-mail như gài thêm các nội dung về chương trình khuyến mại, ưu đãi… thì có thể gây được sự chú ý của người nhận và đạt được một số hiệu quả nhất định Ngoài ra, khi gửi e-mail không nằm trong sự cho phép của người nhận,
Trang 19người gửi cần đảm bảo trong e-mail có nội dung Opt-in option, cho phép người nhận tùy chọn có nhận e-mail quảng cáo nữa không
3.3 Dải băng quảng cáo (banner)
Hình thức dải băng quảng cáo banner là một trong những hình thức quảng cáo phổ biến nhất trên Internet hiên nay Dải băng quảng cáo là một hình thức quảng cáo dưới dạng đồ họa trên các trang web Dải băng quảng cáo có thể được tạo dựng dưới nhiều kích cỡ khác nhau, và tùy theo ý muốn của doanh nghiệp mà
sẽ có những hiệu ứng đi kèm về âm thanh, hình ảnh
Hình 1 Một số banner trên mạng Internet Mục tiêu của doanh nghiệp khi sử dụng các banner là để thu hút sự chú ý của người sử dụng Internet, do vậy banner thường có nội dung rất ngắn gọn, thường chỉ là một slogan (khẩu hiệu) được thiết kế bắt mắt nhằm tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp và xây dựng ý thức của người tiêu dùng về tên tuổi của doanh nghiệp Mục đích cuối cùng của banner là thuyết phục được người tiêu dùng truy cập vào trang web chính để tìm hiểu thêm chi tiết, do đó các banner thường chứa một liên kết với trang web chính của doanh nghiệp
Các banner truyền thống ở trong trạng thái tĩnh, tức là một cột thông tin được đặt cố định tại một vị trí trong website nên để tăng thêm sức thu hút cho
Trang 20người truy cập, các công ty thường hay sử dụng một hình thức banner động là pop-up Pop-up là một khung cửa sổ được cài sẵn trong website để khi khách hàng truy cập vào website đó, nó sẽ tự động hiện ra như chính tên gọi của nó (pop up) Hình thức quảng cáo này có ưu điểm là đánh thẳng vào sự chú ý của người tiêu dùng, nhưng nó cũng có nhược điểm là gây cảm giác khó chịu cho người tiêu dùng khi họ cảm thấy bị làm phiền bởi sự xuất hiện của quá nhiều những quảng cáo mà họ không mong đợi Khi sử dụng loại hình quảng cáo này, doanh nghiệp nên chú ý đặt tính năng tùy chọn (opt in) để người dùng có thể tự quyết định việc các pop-up có xuất hiện không Nếu được sử dụng một cách khéo léo, đây là một hình thức quảng cáo rất hữu hiệu
Hình 2 Hình ảnh của pop-up trên màn hình
3.4 Công cụ tìm kiếm (search engine)
Trang 21Công cụ tìm kiếm là một phần mềm cho phép người dùng tìm kiếm và đọc các thông tin có trong bộ phần mềm đó trên một trang web, một tiền miền hay toàn bộ Internet Vì đây là một công cụ rất hữu hiệu để tìm kiếm thông tin nên các doanh nghiệp rất chú trọng đến việc nâng cao thứ hạng website của mình trên các
cỗ máy tìm kiếm (search engine optimization)
Hiện nay, công cụ tìm kiếm chiếm thị phần lớn nhất là Google (45,9%), Yahoo (23,2%) và MSN (11,4%) [17]
3.5 Marketing lan tỏa (viral marketing)
Marketing lan tỏa là một chiến lược marketing hoạt động dựa trên nguyên tắc lây lan của các virus Hình thức marketing này khuyến khích người tiêu dùng chuyển các thông điệp marketing đến những người khác, có nghĩa là doanh nghiệp nhờ khách hàng của mình quảng cáo bằng cách cho họ sử dụng những công cụ, dịch vụ miễn phí như e-mail, nhắn tin, thiếp điện tử và trong mỗi e-mail, tin nhắn hay mỗi bức thiệp gửi đi sẽ kèm theo một dòng địa chỉ website để người nhận biết đến dịch vụ này và nếu họ thích thú thì sẽ gửi tiếp cho người khác Theo cách này, thông tin lan truyền theo những người quen biết nhau nên xác suất người đọc tiếp sẽ rất cao Ví dụ như Yahoo cung cấp dịch vụ tin nhắn trực tuyến Yahoo Messenger, những người sử dụng thấy thích thú sẽ thông tin cho bạn bè của họ, và những người này nếu muốn sử dụng dịch vụ sẽ lại đăng kí tài khoản tại trang chủ của Yahoo Đây là một hình thức marketing khá phổ biến trên thế giới và được nhiều công ty áp dụng
3.6 Những câu hỏi thường gặp (FAQs – Frequently Asked Questions)
FAQs là một danh sách những câu hỏi phổ biến mà khách hàng hay hỏi nhất và giải đáp của công ty về những vấn đề đó Mục tiêu của FAQs là thu hút khách hàng thông qua việc tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau Khách hàng khi đã sử
Trang 22dụng đến dịch vụ này có nghĩa là họ thực sự có nhu cầu tìm hiểu thêm về thông tin sản phẩm, dịch vụ mà công ty cung cấp, do đó các doanh nghiệp cần nhanh chóng trả lời những câu hỏi này và qua đó củng cố lòng tin của khách hàng về mức độ tin cậy và uy tín của doanh nghiệp.một trang FAQs tốt có thể nâng cao tầm hiểu biết thông tin và dịch vụ của người sử dụng, giảm nhu cầu về đội ngũ nhân viên hỗ trợ và quan trong hơn hết là tạo ra một kênh thông tin hai chiều giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng
II Khái niệm về yếu tố 4P trong marketing điện tử
1 4P là gì?
4P là mô hình tiếp thị hỗn hợp (marketing mix) với nguyên tắc là hiểu khách hàng và phục vụ nhu cầu của họ thông qua việc giải mã 4 chữ P (Product, Price, Place, Promotion) Ý tưởng về mô hình 4P bắt nguồn từ năm 1948 khi James Culliton cho rằng các quyết định marketing cần phải được đưa ra dưới dạng kết quả của một công thức Năm 1960, nhà marketing nổi tiếng E Jerome McCarthy đưa ra mô hình 4P và cho đến nay đã trở nên rất phổ biến và được nhiều chuyên gia marketing nổi tiếng ủng hộ như Philip Kotler hay Dave Chaffey
Mặc dù một số chuyên gia marketing đã bày tỏ quan điểm mở rộng mô hình này nhưng về cơ bản mô hình marketing hỗn hợp 4P bao gồm các yếu tố sau: Product (sản phẩm) – Price (giá) – Place (phân phối) – Promotion (hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh)
2 Vai trò của yếu tố 4P trong một chiến lược marketing
Chiến lược marketing là một quá trình cho phép doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực bị hạn chế vào các mục tiêu để tăng doanh số bán hàng và đạt được lợi thế cạnh tranh Chiến lược marketing cũng là cách mà doanh nghiệp thực hiện để đạt được các mục tiêu marketing
Trang 23Chiến lược marketing về mặt cơ bản giải quyết những vấn đề sau:
Thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh là gì (xác định thị trường)
Khách hàng của công ty là ai (xác định khách hàng trọng tâm)
Sản phẩm/dịch vụ của công ty sẽ được định vị như thế nào? Tại sao khách hàng phải mua hàng của công ty mà không phải là hàng của đối thủ cạnh tranh? (định hướng chiến lược cạnh tranh)
Công ty sẽ thực hiện những cải tiến, thay đổi gì liên quan đến sản phẩm, giá, kênh, truyền thông (marketing mix)
Yếu tố 4P thường được dùng để triển khai cụ thể chiến lược marketing vào từng phân khúc thị trường thông qua sản phẩm, kênh phân phối, truyền thông và giá, cụ thể là
Product: các chính sách chung về nhãn hiệu sản phẩm, định vị, hủy bỏ, sữa
chửa, bổ sung, thiết kế mẫu mã, bao bì v.v
Place: chính sách chung về kênh phân phối và cấp dịch vụ khách hàng Price: chính sách chung về giá cần được tuân theo đối với từng nhóm sản
phẩm cho từng phân khúc thị trường
Promotion: chính sách chung về truyền thông, các hoạt động tiếp xúc với
khách hàng như là quảng cáo, đội ngũ bán hàng, khuyến mãi, quan hệ cộng đồng, hội chợ triển lãm, thư tín, trung tâm dịch vụ khách hàng, Internet v.v
3 Các thành phần của yếu tố 4P trong marketing điện tử 3.1 Sản phẩm – Product
Sản phẩm là tập hợp những lợi ích mà người bán cung cấp cho người mua, bao gồm cả yếu tố hữu hình và vô hình như nhãn hiệu, uy tín của sản phẩm hay những lợi ích dịch vụ đi kèm Khách hàng mua sản phẩm là mua sự thỏa mãn, mua những chức năng của sản phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu của họ
Cấu trúc của sản phẩm thông thường được chia làm ba cấp độ
Trang 24 Sản phẩm cốt lõi: lợi ích mà sản phẩm đem lại
Sản phẩm hiện thực: kết cấu sản phẩm
Sản phẩm bổ sung: dịch vụ kèm theo, lợi ích bổ sung thêm
Trong hoạt động marketing điện tử, các cấp độ của sản phẩm được thể hiện như sau:
Sản phẩm cốt lõi: chính là việc trao đổi thông tin thuận tiện, nhanh chóng
và mang tính toàn cầu, khả năng quảng bá, đàm phán, giao dịch, trao đổi trên khắp thế giới, cập nhật thông tin hàng ngày hay chia sẻ các tài nguyên số hóa…
Sản phẩm hiện thực: e-mail, website, catalogue điện tử, games online, các
diễn đàn để chia sẻ phần mềm, các mô hình kinh doanh điện tử…
Sản phẩm bổ sung: các dịch vụ sau bán hàng, các dịch vụ công của nhà
nước, chương trình đào tạo phổ biến kiến thức trên mạng hay các dịch vụ ngân hàng điện tử…
Sản phẩm trong marketing điện tử được chia làm hai loại: loại thứ nhất gồm các sản phẩm hoàn toàn mới, được hình thành khi Internet phát triển và loại thứ hai gồm các sản phẩm truyền thống được thêm các tính năng mới từ Internet Một sản phẩm, dịch vụ được đánh giá là phụ hợp với môit rường Internet hay không phụ thuộc vào các yếu tố như giá so với giá của hàng hóa tiêu dùng thông thường, mức độ mua sắm thường xuyên so với việc mua hàng tiêu dùng, khả năng giới thiệu đầy đủ lên mạng thông tin về sản phẩm, khối lượng thông tin cần thiết
để ra quyết định, khả năng cá biệt hóa sản phẩm để phù hợp với các nhu cầu khác nhau, tầm quan trọng của dịch vị đối với việc mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ…
Nhìn chung, trong môi trường Internet, sản phẩm cần được tiêu chuẩn hóa
do việc mua bán hàng hóa qua mạng có hạn chế bởi tính chất ảo của hàng hóa khi lựa chọn Nếu sản phẩm không được tiêu chuẩn hóa và không có sự quản lí chất
Trang 25lượng, sẽ không có gì đảm bảo khách hàng chắc chắn mua được sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng như mô tả trên catalogue Ngoài những mặt hàng dễ tiêu chuẩn hóa như sách báo, băng đĩa nhạc còn có những sản phẩm chưa có tiêu chuẩn cụ thể hoặc khó tiêu chuẩn như hàng thủ công mỹ nghệ… Đối với những mặt hàng loại này, để đảm bảo khách hàng lựa chọn đúng hàng hóa mình cần mua, các doanh nghiệp cần tổ chức mục hỗ trợ trực tuyến tư vấn giúp khách hàng Ngoài ra, dịch vụ hỗ trợ khách hàng còn cần chú trọng nâng cấp các tính năng tìm kiếm, giúp cho khách hàng tìm được sản phẩm mong muốn nhanh nhất
Nhìn chung, Internet đóng một số vai trò sau trong chính sách sản phẩm:
- Khảo sát ý kiến khách hàng để phát triển sản phẩm mới: ngày nay Internet đã trở thành một công cụ đắc lực để thu thập ý kiến khách hàng về việc sản xuất và hoàn thiện các sản phẩm mới Hãng xe hơi danh tiếng Wolkswagen khi đưa ra sản phẩm xe Beetle cải tiển năm 1998 đã tiến hành điều tra ý kiến khách hàng trong suốt 18 tháng qua website và sản phẩm mới đã thực sự thành công Gần đây, tại Việt Nam, nhà xuất bản Kim Đồng trước khi xuất bản các bộ truyện mới đã tham khảo ý kiến độc giả tại diễn đàn truyện tranh lớn nhất nước là
www.accvn.net về cách dịch và hình thức truyện Kêt quả thu được rất khả quan
và đã giúp nhà xuất bản Kim Đồng tạo được lợi thế về mặt uy tín trước đối thủ cạnh tranh là nhà xuất bản Trẻ
- Xây dựng và phát triển thương hiệu qua Internet: Internet giúp quảng
bá, giới thiệu, củng cố quan hệ và tạo dựng sự tin tưởng của khách hàng với sản phẩm Thương hiệu là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định mua hàng của khách hàng trong môi trường thương mại điện tử Để nhãn hiệu trở nên có uy tín, công việc trước hết là phải đăng kí nhãn hiệu, thương hiệu để được pháp luật bảo
vệ, nhưng nhãn hiệu này có được người tiêu dùng biết đến hay không còn phụ
Trang 26thuộc vào sự quảng cáo, khuyếch trương và do bản thân doanh nghiệp gây dựng
uy tín cho nó trong quá trình hoạt động kinh doanh [14]
3.2 Giá cả - Price
Giá là một thành phần quan trọng trong giải pháp tổng hợp và cần phải được quản trị một cách thông minh như là cách mà công ty quản trị những thành phần khác Nhìn chung giá là một phần đi kèm với kế hoạch sản phẩm/thị trường
và không phải là một thực thể riêng lẻ Giá là yếu tố “P” duy nhất trong chiến lược hỗn hợp mà công ty có thể thu lại giá trị cho mình từ những giá trị đã tạo ra cho khách hàng
Các chiến lược định giá truyền thống thường đưa ra giá dựa trên chi phí sản xuất, mức giá khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm và có cân nhắc dựa trên mức giá của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường trước khi đưa ra quyết định Đối với một môi trường mở và có tính chất đa chiều như Internet, chính sách giá của các công ty chịu ảnh hưởng rất lớn của giá cạnh tranh vì mọi mức giá đều có thể được công bố công khai trên mạng (high price transperancy), do đó khách hàng có thể tiếp cận nhiều người thông tin để đánh giá về lợi ích cũng như chi phí đối với các quyết định mua hàng của họ
Hiện nay có hai quan điểm về vấn đề Internet ảnh hưởng đến giá cả như thế nào Quan điểm thứ nhất cho rằng việc giảm giá hàng hóa là cần thiết và không thể tránh được khi tiến hành kinh doanh trong môi trường Internet Internet làm tăng lượng thông tin của khách hàng do mức độ minh bạch của giá cả, bởi lẽ đã trở nên dễ dàng hơn trước rất nhiều để so sánh các mức giá thông qua các website của công ty Quan trọng hơn là việc các khách hàng sử dụng các trang web so sánh giá để tìm ra một mức giá hợp lí nhất Trên thế giới có những trang web như Kelkoo (www.kelkoo.com) hay Barclaycard Shopsmart (www.shopsmart.com) cho phép người tiêu dùng có thể nhanh chóng tìm thấy giá tốt nhất trong những
Trang 27mức giá của nhà cung cấp từ những sản phẩm như sách, CDs cho đến đồ điện gia dụng Quan điểm thứ hai lại cho rằng tuy Internet cho phép người dùng có điều kiện so sánh và tham khảo giá tại nhiều địa chỉ khác nhau nhưng đa số người tiêu dùng không dành nhiều thời gian vào việc nghiên cứu giá cả trước khi đưa ra quyết định mua hàng Một khảo sát đã chỉ ra rằng có khoảng 89% người mua sách đã đưa ra quyết định mua hàng tại trang web đầu tiên họ tham khảo và chỉ có khoảng 10% là những người có thói quen khảo giá kĩ càng Internet đã khiến cho mức độ minh bạch trong chính sách giá của các công ty trở nên rất cao và do đó, không còn nhiều sự chênh lệch trong mức giá của các sản phẩm cạnh tranh Đây
là nguyên nhân chính khiến cho khách hàng yên tâm khi quyết định đặt mua hàng qua mạng
Chính sách giá trong marketing điện tử thường được đưa ra dựa trên việc kết hợp các yếu tố sau:
- Giá thành
- Phần ưu đãi (discount)
- Các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ đi kèm
- Chính sách bảo hành
- Chính sách hoàn trả tiền khi có vấn đề về sản phẩm
- Các điều khoản về việc hủy đặt hàng
Ngoài ra, trong môi trường điện tử hình thức bán đấu giá đã trở nên khá phổ biển so với môi trường kinh doanh thông thường Lí do chính là sự phổ cập của Internet đã khiến cho người tiêu dùng trở nên thuận tiện hơn rất nhiều trong việc tham gia vào các phiên bán đấu giá Bán đấu giá từ lâu đã là một hình thức kinh doanh, mua bán quen thuộc đối với các nền kinh tế phát trển trên thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng Internet, bán đấu giá đã phát triển đến một tầm vóc mới: hình thức đấu giá qua mạng
Trang 28Cũng giống như một cuộc đấu giá truyền thống, một website đấu giá đòi hỏi phải có người bán đấu giá và người mua Có hai hình thức người bán tham gia trên website đấu giá Thứ nhất, chủ website cũng chính là chủ những mặt hàng được đấu giá trên website đó Thứ hai, chủ hàng thuê không gian tại website để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình Trên thế giới hiện nay,
www.eBay.com là trang web đấu giá nổi tiếng nhất với doanh thu trong năm 2007 lên tới 30 tỉ USD và vẫn đang tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2008
3.3 Phân phối – Place
Phân phối là một khâu quan trọng trong hoạt động marketing Phân phối là quá trình chuyển tiếp sản phẩm từ nhà sản xuất cho tới người tiêu dùng thông qua các trung gian phân phối Trong hoạt động marketing truyền thống, hoạt động phân phối thường diễn ra theo các kênh sau đây
Nhà sản xuất Đại lí Nhà bán buôn Nhà bán lẻ Người tiêu dùng cuối cùng
Trong hoạt động marketing điện tử, hoạt động phân phối diễn ra theo hai hình thức như sau
Với các hàng hóa số hóa được (digital product): Với các sản phẩm loại này,
việc phân phối có thể thực hiện một cách hoàn hảo qua mạng
Với các hàng hóa hữu hình Internet được sử dụng để hỗ trợ và nâng cao
hiệu quả Internet cho phép nhà kinh doanh và nhà phân phối hình thành một cơ chế phối hợp hiệu quả, tăng khả năng kiểm soát hàng hóa trong quá trình phân phối
Một điểm quan trọng khi xem xét chính sách phân phối trong marketing điện tử là vai trò của các trung gian trong hệ thống phân phối Ta có thể đánh giá điều này qua việc so sánh việc phát hành các sản phẩm âm nhạc trong hai kênh khác nhau
Trang 29 Theo kênh phân phối truyền thống: Ca sĩ, ban nhạc Hãng phát hành
Cửa hàng bán buôn Cửa hàng bán lẻ Khách hàng
Theo kênh phân phối qua mạng: Ca sĩ, ban nhạc Hãng phát hành
Đại lí bán buôn Website mp3 và cửa hàng ảo Khách hàng
Âm nhạc là một sản phẩm có đặc thù là số hóa được (digital), do đó có khả năng phân phối một cách hoàn hảo qua mạng Với Internet, qui trình phân phối truyền thống đã có những thay đổi nhất định và có sự thêm, bớt, và tái lập các trung gian trong kênh phân phối Trong trường hợp trên đây, ta thấy không còn cửa hàng bán lẻ trong kênh phân phối (hiện tượng loại bỏ hay bớt trung gian), thay vào đó là các cửa hàng ảo trên mạng (hiện tượng tái lập trung gian dưới dạng thức mới) và xuất hiện các website mp3 như một trung gian bắt buộc trong kênh phân phối chứ không chỉ đơn thuần là một công cụ thuần túy (hiện tượng thêm trung gian) Ngoài ra trong mô hình phân phối mới này, quyền lựa chọn của khách hàng đã được mở rộng đáng kể Khách hàng có thể tải từ trang chủ của ban nhạc hoặc của cửa hàng ảo hay catalogue mp3 một số bài hát của ban nhạc mà mình ưa thích dưới dạng tệp dữ liệu mp3 để nghe thử, sau đó có thể đặt mua đĩa nhạc đó qua website, cửa hàng ảo, tại trang chủ của các đại lí bán buôn hoặc từ trang chủ của hãng phát hành Tất nhiên việc thêm, bớt hay tái lập các trung gian phân phối mới chỉ mang tính chất tương đối và mô hình các kênh phân phối sẽ không giống nhau đối với các sản phẩm, ngành nghề vì còn phụ thuộc vào thói quen mua hàng và vào tương quan lực lượng sản xuất và phân phối của mặt hàng
cụ thể đó. [10]
Nhìn chung, trong môi trường điện tử, sự hỗ trợ của Internet và các phương tiện truyền thông đã kéo gần khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giảm bớt sự cồng kềnh của các trung gian trong hệ thống phân phối và do đó giảm bớt chi phí giá thành sản phẩm, mang lại mức giá hợp lí nhất đến với người
Trang 30tiêu dùng Đó cũng là lí do tại sao đa phần các mặt hàng phân phối qua Internet đều có mức giá rẻ hơn so với các mặt hàng phân phối tại các kênh truyền thống Đây là một vấn đề cần được xem xét để tránh sự xung đột với các kênh phân phối truyền thống
3.4 Hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh – Promotion
Hoạt động hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh trong thương mại điện tử là cách thức dùng các phương tiện điện tử để giới thiệu, mời chào, cung cấp thông tin về sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyết phục người tiêu dùng đi đến quyết định mua hàng Thông qua các công cụ của marketing điện tử như website, e-mail… doanh nghiệp tiến hàng các hoạt động giới thiệu, quảng bá về sản phẩm cũng nhưu uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, đặc biệt là xây dựng hình ảnh doanh nghiệp cho những người thường xuyên truy cập Internet và trao đổi thư từ điện tử
Như vậy, hoạt động hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh trong marketing điện tử thực chất là cách thức các doanh nghiệp vận dụng các khả năng của Internet nhằm mục đích cuối cùng là phân phối được sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đến thị trường tiêu thụ Các công cụ chủ yếu được sử dụng trong hoạt động hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh trong marketing điện tử là:
Catalogue điện tử: hầu hết các công ty tham gia thương mại điện tử đều sử
dụng công cụ này
Newsletter và FAQs: giúp quảng bá thông tin và nắm bắt được ý kiến phản
hồi của khách hàng về sản phẩm và doanh nghiệp, qua đó hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp
Các hệ thống bảo mật thông tin: nhằm tạo sự an tâm cho khách hàng khi
tham gia vào các hoạt động trên Internet
Trang 31Hệ thống thanh toán điện tử: tạo sự thuậnt tiện cho khách hàng trong quá
trình mua sắm qua mạng
Các hình thức quảng cáo trực tuyến: banner, pop-up, viral marketing……
Trong số các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh trong marketing điện
tử, quảng cáo trên Internet là một trong những hình thức có mặt sớm nhất và cho đến nay tỏ ra là có hiệu quả nhất quảng cáo được định nghĩa là mọi hình thức trình bày gián tiếp và khuếch trương ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ Quảng cáo trên mạng giúp người tiêu dùng có thể tương tác với quảng cáo Mặt khác quảng cáo trên mạng còn tạo cơ hội cho nhà quảng cáo nhằm chính xác vào khách hàng của mình tốt hơn các phương tiện khác Quảng cáo trên Internet là sự kết hợp giữa quảng cáo truyền thống và tiếp thị trực tuyến
Hình thức quảng cáo này có rất nhiều ưu điểm so với quảng cáo truyền thống chúng không những có thể được truyền tải 24/24 mỗi ngày, mà còn có thể được cập nhật hay hủy bỏ bất cứ lúc nào, không gây tốn kém như trong quảng cáo truyền thống đặc biệt, quảng cáo trên Internet thường chứa những đường liên kết đến trang chủ của doanh nghiệp, do đó khách hàng không những nhìn thấy sản phẩm mà còn có thể tương tác với sản phẩm, có thể ghé thăm trang chủ của doanh nghiệp để tìm hiểu thông tin và gửi thông tin phản hồi nếu có yêu cầu không có loại hình thông tin đạ chúng nào có thể dẫn khách hàng từ lúc tìm hiểu thông tin đến khi mua sản phẩm mà lại không gặp trở ngại nào như mạng Internet
Ưu điểm nổi bật của quảng cáo trên Internet là khả năng định hướng và theo dõi khách hàng tốt hơn Đồng thời, trong môi trường Internet tính linh hoạt được đề cao, quảng cáo trên Internet có tính tương tác cao, có phạm vi tiếp cận khách hàng lớn và khả năng được chấp nhận cao Tuy nhiên, nó bị giới hạn bởi chuẩn mực văn hóa, bởi pháp luật, ngôn ngữ và điều kiện tiếp cận Internet của
Trang 32khách hàng Quảng cáo trên Internet thường được tiến hành bằng các công cụ phổ biến là banner, pop-up, e-mail-mail… [10]
Một hoạt động quan trọng nữa nằm trong chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh trong marketing điện tử là việc chú trọng phát triển hệ thống thanh toán điện tử Thanh toán điện tử, theo báo cáo quốc gia về về kỹ thuật thương mại điện
tử của Bộ Thương mại thì được định nghĩa là “việc thanh toán tiền thông qua các thông điệp điện tử thay cho việc trao tay tiền mặt”, thông thường vẫn được hiểu theo nghĩa hẹp là việc trả tiền và nhận tiền hàng cho các hàng hóa, dịch vụ được mua bán trên Internet Qui trình thanh toán điện tử diễn ra theo các bước cơ bản sau:
Bước 1, khách hàng vào trang Web bán hàng trên mạng đặt mua và khai
báo thông tin trên thẻ tín dụng
Bước 2, thông tin của khách hàng được chuyển thẳng đến Ngân hàng của
người bán nếu người bán có tài khoản bán hàng (Merchant Account), nếu không thì thông tin này được chuyển đến bên thứ ba là nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng mà người bán đã đăng ký dùng dịch vụ Thông tin của khách hàng không lưu trên máy chủ của người bán Như vậy sẽ hạn chế tin tặc (hacker) đánh cắp thông tin thẻ tín dụng
Bước 3, ngân hàng của người bán hoặc của bên thứ ba sẽ kiểm tra tính hợp
lệ thông tin thẻ tín dụng của khách hàng thông qua Giao dịch điện tử An Toàn (Secure Electronic Transaction) Quá trình này diễn ra chỉ mất vài giây
Bước 4, ngân hàng phát hành thẻ sẽ phản hồi cho Ngân hàng yêu cầu kiểm
tra tính hợp lệ của thẻ (thông tin đã được mã hóa)
Bước 5, sau đó thông tin này được giải mã để gửi về cho người bán
Trang 33Bước 6, người bán dựa trên thông tin này quyết định bán hoặc không và gửi
e-mail thông báo cho khách hàng biết rõ đơn hàng của họ có được chấp nhận và
Trang 34CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI YẾU TỐ 4P TRONG HOẠT ĐỘNG
MARKETING ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
***
I Những tiền đề nhằm phát triển hoạt động marketing điện tử tại
Việt Nam
1 Nhận thức về marketing điện tử 1.1 Nhận thức của các doanh nghiệp
Theo điều tra của Bộ Thương mại về các doanh nghiệp trên toàn quốc thì nhận thức xã hội về thương mại điện tử hiện đang là trở ngại hàng đầu cho việc phát triển các hoạt động kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam hiện nay Tại các quốc gia phát triển trên thế giới, việc ứng dụng Internet và các tiến bộ khoa học kĩ thuật về truyền thông vào hoạt động kinh doanh đã trở nên rất phổ biến, mọi khâu
từ sản xuất, quản lí đến phân phối và truyền thông đều được hiện đại hóa và thực hiện qua mạng Tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp vẫn còn giữ cung cách làm ăn kiểu cũ, quản lí chủ yếu bằng hệ thống giấy tờ và các thủ tục phức tạp Theo Báo cáo Thương mại điện tử năm 2007 của Bộ Công thương [4] thì:
- Chỉ có 3% doanh nghiệp vừa và nhỏ quan tâm đến thương mại điện tử nói chung và còn rất mơ hồ về khái niệm marketing điện tử
- 48% doanh nghiệp sử dụng Internet chỉ để gửi và nhận thư điện tử
- 33% doanh nghiệp vừa và nhỏ có kết nối Internet nhưng không dùng
nó để hỗ trợ cho công việc kinh doanh
- Chỉ có rất ít doanh nghiệp chủ động tạo website cho mình, còn lại đa ssos là do sự thuyế phục của các nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP Nội dung của
Trang 35các website mới chỉ dừng lại ở việc quảng cáo và giới thiệu sản phẩm, và đa số các website loại này có mức độ cập nhật rất hạn chế
Như vậy, nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc triển khai các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ Trong thời đại thông tin này, Internet tỏ ra
là một kênh quảng bá hữu hiệu cho hoạt động kinh doanh và website là công cụ phổ biến nhất để mang hình ảnh của doanh nghiệp đến với người dân Tại Việt Nam trước đây, các doanh nghiệp tập trung vào việc sử dụng các hoạt động marketing trong môi trường truyền thống, tuy nhiên, theo xu thế chung của thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú ý đầu tư đến việc xây dựng website riêng cho doanh nghiệp của mình
Bảng 1 Tỉ lệ các doanh nghiệp có website năm 2007
Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử 2007 của Bộ Công thương
Số doanh nghiệp có website đang tăng nhanh chóng Vào cuối năm 2005,
số doanh nghiệp có website ước tính mới chỉ khoảng 17.500, chiếm khoảng 19% tổng số doanh nghiệp và 35% những website này được thiết lập từ sau năm 2002 Trong ba năm từ 2005-2007 số doanh nghiệp đã xây dựng website tăng mạnh, lên
Trang 36đến 38% vào cuối năm 2007 Tỉ lệ website tăng gấp đôi chỉ trong vòng 3 năm cho thấy doanh nghiệp đã thực sự nhận thức được ưu thế và tầm quan trọng của việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ thông tin vào việc triển khai hoạt động kinh doanh của mình Phần lớn doanh nghiệp hiện nay đã sử dụng thư điện tử để giao dịch Năm 2007, có tới 86% doanh nghiệp thường xuyên sử dụng e-mail để đàm phán giao dịch với các đối tác Đây là những dấu hiệu rất khả quan cho thấy nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về thương mại điện tử đã được nâng cao, tạo tiền đề cho việc triển khai các hoạt động marketing điện tử trong phương thức kinh doanh
1.2 Nhận thức của người tiêu dùng
Nhận thức của người tiêu dùng là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển hoạt động marketing điện tử So với các doanh nghiệp, nhận thức của người tiêu dùng đối với các ứng dụng của thương mại điên tử chuyển biến có phần chậm chạp hơn, tuy nhiên trong những năm gần đây trình độ nhận thức này
đã có những bước chuyển biến tích cực rõ rệt Với mức thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên và và điều kiện sống của người dân Việt Nam đang ngày càng được cải thiện, việc sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin và giao dịch không còn quá xa lạ với người dân nữa, đặc biệt là người dân tại các thành phố lớn, với việc số lượng người sử dụng Internet đang không ngừng tăng lên
Thông qua Internet, người tiêu dùng bên cạnh việc thỏa mãn được nhu cầu giải trí đã tìm được một kênh thông tin hữu hiệu để tìm hiểu và đánh giá được các mặt hàng, các sản phẩm định mua Ngoài ra, hình thức phân phối truyền thống tuy vẫn còn phổ biến nhưng các hình thức mua sắm và giao dịch qua mạng đang chứng tỏ được tính tiện lợi đối với người tiêu dùng Đây là những tiền đề rất quan trọng để các doanh nghiệp có kế hoạch triển khai hoạt động marketing điện tử của mình
Trang 37Bảng 2 Số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam 2001 – 2007
2 Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước
Về mặt pháp lí, năm 2006 là năm đầu tiên thương mại điện tử được pháp luật thừa nhận chính thức khi Luật Giao dịch điện tử, Luật Thương mại sửa đổi và Luật Dân sự sửa đổi có hiệu lực Với việc chính thức thừa nhận thương mại điện
tử thì hoạt động kinh doanh trên môi trường Internet đã tiếp tục được mở rộng, trong đó tập trung đến việc cung cấp nội dung cho các phương tiện điện tử
Hiện nay, môi trường pháp lí cho hoạt động thương mại điện tử đã tương đối hoàn thiện nhờ một loạt các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử và Luật Công nghệ thông tin được ban hành trong năm 2007 Ngay trong Quí 1 năm 2007, Chính phủ đã ban hành liên tiếp các nghị định quan trọng qui định chi tiết về thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ kí số và dịch vụ chứng thức chữ kí số,vấn đề giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính và hoạt động ngân hàng Nhiều văn bản chuyên ngành cũng đã được ban hành Chẳng hạn, trong lĩnh vực ngân hàng là các Quyết định của Thống đốc ngân hàng nhà nước
về qui chế cấp phát, quản lí và sử dụng chữ kí số và chứng thực chữ kí điện tử
Trang 38trong ngành ngân hàng, Quy chế cấp phát, quản lí và sử dụng chứng chỉ số của Ngân hàng Nhà nước, Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch
vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng… Thủ tường Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 20/2007/ QD-Ttg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước [7,8]
Trong lĩnh vực tài chính và hải quan, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan
đã ban hành các Quyết định về Qui định thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Qui trình thủ tục hải quan điện tử, Qui chế áp dụng quản lí rủi ro trong thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Qui chế công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động hải quan Đồng thời, nhằm tháo gỡ những trở ngại liên quan tới chứng từ điện tử trong hoạt động bán vé máy bay điện tử, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 18/2007 QD-BTC về việc in, phát hành, sử dụng và quản lí
vé máy bay điện tử Trong lĩnh vực thương mại là Quyết định số BTM về việc ban hành Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử Các văn bản trên cùng nhiều văn bản liên quan tới thương mại điện tử và công nghệ thông tin khác được ban hành trong năm 2007 đã góp phần làm cho hệ thống pháp luật về thương mại điện tử hoàn thiện hơn [7]
Trang 39018/2007/QD-Bảng 3 Một số văn bản pháp qui liên quan đến thương mại điện tử ban
hành trong hai năm 2006-2007 Luật
29/06/2006 Luật Công nghệ thông tin
Nghị định
hoạt động của cơ quan nhà nước
trong lĩnh vực công nghệ thông tin
thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin
Việc ban hành các Bộ Luật và Nghị định trên cho thấy nhà nước ta đã thực
sự quan tâm đến việc xây dựng một môi trường pháp lí an toàn cho hoạt động thương mại điện tử nói chung và hoạt động marketing điện tử nói riêng Cùng với một số văn bản được ban hành từ năm 2005 trở về trước, những văn bản ra đời trong hai năm gần đây đã tạo nên một khung pháp lí tương đối toàn diện cho các hoạt động giao dịch trên mạng Nếu trước năm 2005, phần lớn văn bản được ban
Trang 40hành chỉ liên quan đến những vấn đề kĩ thuật công nghệ thông tin thì các văn bản ban hành sau Luật giao dịch điện tử đã mở rộng diện điều chỉnh đến những ứng dụng cụ thể như thương mại, hải quan, tài chính, hành chính nhà nước… Đây là những ứng dụng nền tảng của xã hội và là tiền đề cho việc triển khai các qui trình thương mại điện tử hoàn chỉnh ở cấp độ doanh nghiệp trong thời gian tới
Tuy nhiên, marketing điện tử là một loại hình kinh doanh còn khá mới mẻ
và liên tục thay đổi do sự đổi mới không ngừng của môi trường kinh doanh trực tuyến, chính vì vậy xiệc xây dựng hệ thống văn bản pháp qui điều chỉnh lĩnh vực này không chỉ dựa trên nền tảng quốc gia mà còn phải cân nhắc đến các yếu tố và điều kiện khác của các nước trên thế giới
3 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin
Bất kì quốc gia nào muốn ứng dụng marketing điện tử vào các hoạt đôngj thương mại thì đều cần có một nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông đủ mạnh, có khả năng tính toán, xử lí, truyền thông tin và dữ liệu với tốc độ nhanh và chất lượng ổn định
Theo điều 4 khoản 4 Luật Công nghệ thông tin của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006) thì: “Cơ sở
hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu” Cơ sở hạ tầng công nghệ bao gồm các chuẩn của doanh nghiệp, của nhà nước và sự liên kết của các chuẩn quốc gia với chuẩn quốc tế, với kĩ thuật ứng dụng và các thiết bị ứng dụng không chỉ của riêng doanh nghiệp mà phải là một hệ thống quốc gia với tư cách là phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin, khu vực và toàn cầu (trên nền tảng của Internet) Hạ tầng công nghệ cũng bao gồm hạ tầng mạng, hạ tầng ngôn ngữ và nội dung, các kệnh phân phối thông tin và các dịch vụ thương mại điện tử