1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

câu hỏi , đề cương ôn tập mác 2

22 1,8K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 77,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản xuất tự cung tự cấp tồn tại phổ biến trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản, khi mà lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội còn kém phát triển.. Thứ ba: Trong

Trang 1

CHƯƠNG 4: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ

Câu 1: Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá

Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán Hay nói cách khác, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán

Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:

Thứ nhất: Có sự phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản

xuất, phân chia lao động xã hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau

Phân công lao động xã hội làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu, bởi vì, khi có phân công lao động xã hội, mỗi người, mỗi cơ sở chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất nhất định, nhưng nhucầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, trao đổi với nhau, do đó, họ phải cần đến sản phẩm của nhau, trao đổi với nhau Mặt khác, nhờ có phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến

Như vậy phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hoá Phân công lao động xã hội càng phát triển , thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng phát triển hơn, đa dạng hơn

Tuy nhiên, nếu chỉ có phân công lao động xã hội thôi thì chưa đủ Để sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại phải có một điều kiện nữa

Thứ hai:Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất; tức những người sản

xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định, do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc do

họ chi phối Vậy người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi mua bán hàng hoá

Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định vì trong chế độ tư hữu

về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của họ, nó trở thành hàng hoá Còn trong điều kiện của nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do cáchình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định

Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hoá

Từ hai điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá cho thấy: với phân công lao động xã hội, lao động của người sản xuất hàng hoá mang tính chất lao động xã hội vì sản phẩm lao động của họ là để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của xã hội Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của họ lại mang tính chất là lao động tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào lại là công việc riêng, mang tính độc lập củamỗi người Lao động tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với lao động xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao đông xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng sản xuất thừa

Câu 2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá :

Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó, sản phẩm làm ra là nhằm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ của từng gia đình, từng đơn vị sản xuất Sản xuất tự cung tự cấp tồn tại phổ biến trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản, khi mà lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội còn kém phát triển Lúc đầu, người ta trao đổi những sản phẩm vượt quá nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của

Trang 2

họ, trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên giữa các công xã Dần dần trao đổi trở nên thường xuyên hơn và cùng với thời gian, ít nhất cũng có một phần sản phẩm lao động được sản xuất ra với ý đồ phục vụ cho mục đích trao đổi

Khi trao đổi hàng hoá trở thành mục đích thường xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra

đời Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hoá (sản xuất hàng hoá giản đơn) xuất hiện ngay từ thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và chúng tiếp tục tồn tại, phát triển ở các phương thức sản xuất tiếp theo

So với sản xuất tự cung tự cấp sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn:

Thứ nhất: Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản

xuất Do đó nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kĩ thuật của từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hoá lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công laođộng xã hội, làm cho chuyên môn hoá lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng háo mở rộng giữa các quốc gia thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau

Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn

lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa hoa- kỹ thuật vào sản xuất , thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hoá, sự tác động của những quy luật vốn có của sản xuất và trao

đổi hàng hoá như quy luật giá trị, cung- cầu, cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hoá phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hoá, làm cho chi phí sản xuất thấp đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng càng cao hơn

Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hoá, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa

các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn

Tóm lại, nếu như sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp củamỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi địa phương, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuấtphát triển nên đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của mỗi người còn nghèo nàn, lạc hậu, thì ngược lại, sản xuất hàng hoá tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, từ đó

mà góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hoá cũng có những mặt trái của nó như phân hoá giàu- nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trườngsinh thái, xã hội,v.v

Câu 3: Ưu thế sản xuất hàng hóa ở Việt Nam?Cơ hội và thách thức

Nền SXHH ở nước ta hiện nay là 1 nền SXHH dựa trên chế độ cộng hữu về tư liệu sx cơ bản trong

XH Nó mang đầy đủ những đặc tính cảu SXHH nói chung nhưng bị chi phối bởi QHSX XHCN chiếm vị trí chủ đạo

Nền SXHH ở nước ta thời gian qua là một nền sản xuất vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều chỉnh của chính phủ theo định hướng XHCN Đứng trước vận hội mới của đất nước, nền SXHH ở nước ta có những thuận lợi nhất, khó khăn, thách thức không nhỏ

Trang 3

Về thuận lợi: là một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao, Việt Nam có giá nhân công rẻ, trình độ dân trí khá cao, thị trường lớn với dân số đông, một đất nước ổn định về chính trị và một quyết tâm đổi mới mạnh

mẽ của chính phủ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi với hơn 3000km đường biển mặtkhác, từ tháng 11/2006 nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo được niềm tin với các nhà đầu tư và bạn bè quốc tế

Về khó khăn: nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nền kinh tế nông nghiệp, đặc thù là sản xuất nhỏ lẻ mang nặng tính tự cung tự cấp, sức cạnh tranh yếu, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độquản lý yếu kém, cơ sở hạ tầng thiếu thốn Trình độ lao động đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu, thủ tục hành chính dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, nền kinh tế của các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, đặc biêt là Trung Quốc Sau khủng hoảng tài chính – tiền tệ 1997, nhiều nước ASEAN và Đông Nam Áđang khôi phục và trên đà phát triển Tình hình đó tạo thuận lợi cho chúng ta trong hợp tác phát triển kinh tế

và gia tăng sức ép cạnh tranh trong và ngoài khu vực

Thách thức: Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Quan

hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch Các công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế Sự cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình,

vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế, các công

ty xuyên quốc gia

Câu 4: Nghiên cứu hàng hóa

Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C Mác bắt đầu từ hàng hoá Bởi vì, một mặt, sản

xuất tư bản chủ nghĩa, trước hết là sản xuất hàng hoá đã phát triển cao, trong đó hàng hoá là "tế bào kinh tế của xã

hội tư sản" Muốn nghiên cứu "một cơ thể đã phát triển" thì phải bắt đầu từ "tế bào của cơ thể đó" Mặt khác, "Sản

xuất hàng hoá và một nền lưu thông hàng hoá phát triển, thương mại, đó là những tiền đề lịch sử của sự xuất hiện của tư bản" nền kinh tế thị trường là con đẻ của chủ nghĩa tư bản hàng hóa là thứ để trao đổi trong nền kinh

tế thị trường vậy hàng hóa chình là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường mác đã đi từ cái quan trong nhất để phân tích

SỰ RA ĐỜI CỦA PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Điều kiện ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nảy sinh từ trong lòng phương thức sản xuất phong kiến.Nhưng nó chỉ thực sự xuất hiện khi có đủ hai điều kiện sau:

- Phải tập trung một khối lượng tiền tệ tương đối lớn vào trong tay một số người, lượng tiền này đủ

để bảo đảm cho họ mua tư liệu sản xuất xây dựng xí nghiệp và thuê mướn nhân công

- Phải có những người tự do nhưng không có tư liệu sản xuất, buộc phải mang sức lao động của mình

ra bán để kiếm sống

Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, sự tác động tự phát của quy luật giá trị đã làm phân hoánhững người sản xuất hàng hoá Một số người phát tài giàu lên nhanh chóng, họ đầu tư mở rộng sản xuất,

Trang 4

thuê mướn nhân công và trở thành ông chủ tư bản Những người khác không gặp may mắn bị vỡ nợ, phá sảntrở thành lao động làm thuê.

Sự tác động phân hoá này của quy luật giá trị diễn ra chậm chạp, để tạo ra những điều kiện cho sự rađời của chủ nghĩa tư bản mà chỉ dựa vào tác dụng này của quy luật giá trị thì phải mất một thời kỳ lâu dài Vìvậy, trong lịch sử của mình, giai cấp tư sản đã đẩy mạnh quá trình này bằng tích luỹ nguyên thuỷ Đó là sựtích luỹ ban đầu của tư bản, nó được thực hiện bằng bạo lực tước đoạt hàng loạt những người sản xuất nhỏ,nhất là nông dân Việc tước đoạt tư liệu sản xuất của người sản xuất nhỏ và ruộng đất của nông dân, một mặttập trung tư liệu sản xuất vào tay các nhà tư bản, mặt khác biến những người sản xuất nhỏ, những người nôngdân trở thành lao động làm thuê Điển hình của quá trình này là ở nước Anh, giai cấp tư sản dựa vào nhànước phong kiến dùng bạo lực đuổi nông dân ra khỏi đất đai của họ, biến đồng ruộng thành bãi chăn cừu.Đồng thời ban hành các đạo luật hà khắc để buộc những người nông dân bị mất đất phải vào làm thuê trongcác xí nghiệp tư bản

Tích luỹ nguyên thuỷ còn được thực hiện bằng việc đi chinh phục và bóc lột thuộc địa, buôn bán nô

lệ da đen từ châu Phi đến các vùng đất mới ở châu Mỹ, thực hiện thương mại không bình đẳng, v.v

Việc sử dụng các biện pháp bằng sức mạnh bạo lực nói trên đã nhanh chóng tạo ra hai điều kiện cầnthiết và do đó đẩy nhanh quá trình chuyển hoá từ phương thức sản xuất phong kiến sang phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa

Quá trình chuyển kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế tư bản chủ nghĩa

Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của những người nông dân, thợ thủ công dựa trên

cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động của chính họ Sản xuất hàng hoá giản đơn phát triển và tồntại xen kẽ với nền kinh tế tự nhiên trong xã hội phong kiến Sự phát triển của nó đến trình độ nhất định sẽ tựphát dẫn đến sự ra đời nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Quá trình chuyển kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu ở nước Anh, diễn ra

từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII Đây cũng chính là thời kỳ quá độ chuyển từ sản xuất hàng hoá nhỏ lênsản xuất lớn tư bản chủ nghĩa

Lịch sử cho thấy bước chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩadiễn ra theo những tiến trình kinh tế mang tính tất yếu như sau:

- Tiến hành cách mạng trong nông nghiệp, hình thành những vùng nông nghiệp chuyên canh tập trung quy

mô lớn tạo ra thị trường cho công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa

- Tiến hành cách mạng trong lực lượng lao động, hình thành lao động chuyên môn hoá tạo tiền đề cho sự rađời của đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, nâng cao năng suất lao động, phát triển các loại thị trường

- Chuyển từ hình thức tư hữu nhỏ sang hình thức tư hữu lớn tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất

- Nhà nước có vai trò tích cực trong quá trình chuyển biến nền kinh tế Đó là vai trò bà đỡ cho sự ra đời nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa bằng việc đưa các chính sách đẩy mạnh quá trình tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản

Câu 6: Tác động của quy luật giá trị với VN

Thứ nhất là kích thích sản xuất phát triển Đối với xí nghiệp quốc doanh, chủ yếu là xây dựng một hệ thống giá bán buôn để đưa chế độ hạch toán kinh tế đi vào nền nếp và có căn cứ vững chắc

Thứ hai là điều hoà lưu thông hàng tiêu dùng Trong chế độ kinh tế thị trường, tổng khối lượng va cơ cấu hàng tiêu dùng do kế hoạch lưu chuyển hàng hoá quyết định căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức tăng thu nhập quốc dân, và thu nhập bằng tiền của nhân dân, nhu cầu về hàng tiêu dùng trong điều kiện sức mua khong đổi, nếu giá cả một loại hàng nào đó giảm xuống thì lượng hàng tiêu thụ sẽ tăng lên

và ngược lại Nhà nước có thể quy định giá cả cao hay thấp để ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ một số loại hàng nào đó nhằm làm cho nhu cầu và mức tăng của sản xuất về một số hàng tiêu dùng ăn khớp với kế hoạch

Trang 5

lưu chuyển hàng hoá của Nhà nước.

Thứ ba là phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua chính sách giá cả, việc quy định hợp lý các tỷ giá, Nhà nước phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các ngành nhằm phục vụ cho yêu cầu năng cao đồi sống của nhân dân lao động

Cuối cùng, nhận thức và vận dụng quy luật giá trị nói rộng ra là biết sử dụng các đòn bẩy của kinh tế hàng hoá như tiền lương, giá cả, lợi nhuận … dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết để tổ chức và thực hiện chế đọ hạch toán kinh tế

Tóm lại, những điều trình bày trên đây nói lên trong kinh tế thị trường có sự cần thiết khách quan phải kết hợp kế hoạch với thị trường, lấy cái sau bổ xung cho cái trước Quá trình kết hợp đó cũng là một quátrình phát huy tác dụng tích cực của quy luật giá trị, là một quá trình tự giác vận dụng quy luật giá trị và quan

hệ thị trường như là một công cụ để xây dựng các mặt kinh tế, kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, làm cho giá trị hàng hoá ngày càng hạ, đảm bảo tốt hơn cho nhu cầu đời sống, đồng thời tăng thêm khối lượng tích luỹ

CHƯƠNG 5: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

Câu 1: Mâu thuẫn chung trong công thức của tư bản

Trong công thức T - H – T’, trong đó T’ = T + T Vậy, giá trị thặng dư (T) do đâu mà có?

Các nhà kinh tế học tư sản đã cố tình chứng minh rằng quá trình lưu thông đẻ ra giá trị thặng dư, nhằm mụcđích che giấu nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản

Thực ra trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo

ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư.

Trường hợp trao đổi ngang giá:

Nếu hàng hóa được trao đổi ngang giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiền thành hàng và từhàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi trước sau vẫnkhông thay đổi Tuy nhiên, về mặt giá trị sử dụng thì cả hai bên trao đổi đều có lợi vì có được những hànghóa thích hợp với nhu cầu của mình

Trường hợp trao đổi không ngang giá:

Có thể có ba trường hợp xảy ra, đó là:

-Trường hợp thứ nhất, giả định rằng có một nhà tư bản nào đó có hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị 10%

chẳng hạn Giá trị hàng hóa của anh ta là 100 đồng sẽ được bán cao lên 110 đồng và do đó thu được 10 đồnggiá trị thặng dư Nhưng trong thực tế không có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vai trò là người bán hàng hóa, màlại không là người đi mua các yếu tố sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa đó Vì vậy, đến lượt anh ta là ngườimua, anh ta sẽ phải mua hàng hóa cao hơn giá trị 10%, vì các nhà tư bản khác bán các yếu tố sản xuất cũngmuốn bán cao hơn giá trị 10% để có lời Thế là 10% nhà tư bản thu được khi là người bán sẽ mất đi khi anh ta

là người mua Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị đã không hề mang lại một chút giá trị thặng dư nào

-Trường hợp thứ hai, giả định rằng lại có một nhà tư bản nào đó, có hành vi mua hàng hóa thấp hơn giá trị

10%, để đến khi bán hàng hóa theo giá trị anh ta thu được 10% là giá trị thặng dư Trong trường hợp nàycũng vậy, cái mà anh ta thu được do mua rẻ sẽ bị mất đi khi anh ta là người bán vì cùng phải bán thấp hơn giátrị thì các nhà tư bản khác mới mua Rút cục giá trị thặng dư vẫn không được đẻ ra từ hành vi mua rẻ

Trang 6

-Còn có thể trường hợp thứ ba sau đây: Giả định trong xã hội tư bản lại có một kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, bao

giờ hắn cũng mua được rẻ và bán được đắt Nếu khi mua, hắn ta đã mua rẻ được 5 đồng, và khi bán hắn cũngbán đắt được 5 đồng Rõ ràng 10 đồng giá trị thặng dư mà hắn thu được là do trao đổi không ngang giá Sựthực thì 5 đồng thu được do mua rẻ và 5 đồng hắn kiếm được do bán đắt cũng chỉ là số tiền hắn lường gạtđược của người khác Nhưng nếu xét chung cả xã hội, thì cái giá trị thặng dư mà hắn thu được lại chính là cái

mà nguời khác mất đi, do đó tổng số giá trị hàng hóa trong xã hội không vì hành vi cướp đoạt, lường gạt củahắn mà tăng lên Giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng bản thân mình

Trong thực tiễn, dù có lật đi lật lại vấn đề này đến mấy đi nữa thì kết quả cũng vẫn như thế C.Mác đã chỉ rõ:

"Lưu thông hay trao đổi hàng hóa, không sáng tạo ra một giá trị nào cả"

Như vậy, lưu thông đã không đẻ ra giá trị thặng dư Vậy phải chăng giá trị thặng dư có thể đẻ ra ở ngoài lưuthông?

Trở lại ngoài lưu thông, chúng ta xem xét hai trường hợp:

- Ở ngoài lưu thông, nếu ngươi trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa của anh ta, thì giá trị của nhữnghàng hóa ấy không hề tăng lên một chút nào

- Ở ngoài lưu thông, nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới cho hang hóa, thì phải bằng lao độngcủa mình Chẳng hạn, người thợ giày đã tạo ra một giá trị mới bằng cách lấy da thuộc để làm ra giày Trongthực tế, đôi giày có giá trị lớn hơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao động hơn, còn giá trị của bản thân dathuộc vẫn y như trước, không tự tăng lên

=>Đến đây, C.Mác đã khẳng định: "Vậy là tư bản không thề xuất hiện từ lưu thông và cũng khôngthể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưuthông"

Đó chính là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản Để giải quyết những mâu thuẫn này.C.Mác chỉ rõ: "phải lấy những quy luật nội tại của lưu thông hàng hóa làm cơ sở

Lịch sử loài người đã trải qua 5 chế độ xã hội: Nguyên thủy, phong kiến, chiếm hữu nô lệ, tư bản chủnghĩa, chủ nghĩa xã hội Mỗi chế độ đều gắn với một phương thức sản xuất riêng

Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất hàng hóa Nhưng sản xuất hàng hóa

tư bản chủ nghĩa khác với sản xuất giản đơn không chỉ về trình độ mà còn khác về chất Trong nền kinh tếhiện nay xuất hiện một loại hàng hóa mới đó là hàng hóa sức lao động Khi sức lao động trở thành hàng hóathì tiền tệ mang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: Quan hệ giữanhà tư bản và người làm thuê Thực chất mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của côngnhân làm thuê

 Ví dụ về quá trình sản xuất sợi của nhà tư bản

Để tiến hành sản xuất nhà tư bản mua các yếu tố sản xuất và giả sử mua đúng giá trị

Trang 7

10kg bông giá 10 USD

Khấu hao máy móc thiết bị 2 USD

Mua sức lao động 3 USD/12giờ

Trong 1 giờ người công nhân tạo ra 0,5 USD giá trị mới

Giả sử trong 6h lao động đầu người công nhân đã thực hiện kéo hết 10 kg bông thành sợi, giá trị của sợi

là 15USD Nếu quá trình sản xuất chỉ dừng ở đây thì sẽ không tạo ra giá trị thặng dư Tuy nhiên vì nhà tư bảnmua sức lao động trong 12h Tức là trong 6h sau họ vẫn phải lao động tạo ra hàng hoá sợi có giá trị 15 USD.Tuy nhiên trong quá trình này chi phí nhà tư bản bỏ ra chỉ có 12 USD ( Không tính thêm chi phí mua sức laođộng công nhân)

Vậy, Tổng giá trị sản xuất trong ngày của công nhân 30USD

Tổng chi phí sản xuất 15+12= 27USD

Giá trị thặng dư: m = 3 USD

Từ sự phân tích trên cho phép rút ra kết luận sau: Ngày lao động của công nhân chia làm hai phần, phầnthời gian lao động (6h đầu) là thời gian lao động cần thiết (xã hội) (t), Phần còn lại của lao động (6h sau) làthời gian lao động thặng dư (t’)

Câu 2:Sản xuất giá trị thặng dư - quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản

Nếu quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa là quy luật giá trị thì quy luật kinh tế cơ bản của nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa là quy luật giá trị thặng dư

Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản bởi vì nó quy định bản chất của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế của xã hội tư bản Không có sản xuất giá trịthặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản Theo C Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Ở đâu có sản xuất giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản, ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó

có sản xuất giá trị thặng dư Chính vì vậy, Lênin gọi quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối củachủ nghĩa tư bản

Nội dung của quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê.

Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của nền sản xuất tưbản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy sự vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời

nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tưbản bằng một xã hội cao hơn

Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản: mâu thuẫn giữa tư bản và laođộng, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân

Trang 8

Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Với mục đích là thu được ngày càngnhiều hơn giá trị thặng dư, các nhà tư bản cạnh tranh với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được quy mô giá trịthặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trị thặng dư cao hơn.

Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà TB cũng nhưtoàn bộ XH TB Nhà TB cố gắng SX ra hàng hóa với chất lượng tốt cũng là để thu được nhiều giá trị thặngdư

Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cảitiến sản xuất Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất có tính chất xã hội hoángày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủnghĩa ngày càng gay gắt

SX giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền SX hàng hóa TBCN mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn sử dụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột CN làm thuê bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài thời gian lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng SX

=> Như vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB là cơ sở của sự tồn tại và phát triển TBCN Nội dung của nó là SX ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột CN lao động làm thuê Quy luật giá trị thặng dư ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của CNTB Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn.

Câu 3: Hai phương pháp sản xuất GTTD

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Đây là phương pháp nhà tư bản thu được giá trị thặng dư do kéo dài ngày lao động, vượt quá thời gian lao động tất yếu, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư, trong khi năng suất lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Tuy nhiên, pp này cũng gặp phải những giới hạn như: độ dài ngày lao động, thể chất và tinh thần người lao động, cuộc đấu tranh đòi hỏi ngày lao động tiêu chuẩn (8 giờ),…… nhà tư bản áp dụng tăng cường độ lao động hiểu theo nghĩa hao phí calo, điều này cũng co nghĩa là kéo dài thời gian lao động

Phương pháp này được áp dung phổ biến ở giai đoạn sau của CNTB

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

Đây là phương pháp nhà tư bản thu được giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động cần thiết, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư,bằng cách ha thấp giá trị sức lao động, trong khi độ dài ngày lao động thong đổi

Để rút ngắn thời gian lao động, tất yếu phải giảm giá trị sức lao động muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều này chỉ co thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sản xuất đó

Đây là phương pháp phổ biến ở giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản

Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối giống nhau về mục đích và làm cho thời gian lao động thặng dư được kéo dài ra; nhưng giữa chúng co sự khác nhau về giả thiết, cách thức tiến hành biện pháp,……

So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối

Trang 9

- Điểm giống nhau: Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối có một cơ sở chung là chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động

- Điểm khác nhau:

Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.

- nếu gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch trong các doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật – công nghệ mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất

- Gợi mở cách thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đối với nước ta, cần tận dụng triệt để các nguồn lực; nhất là nguồn lao động trong sản xuất kinh doanh Về cơ bản và lâu dài , giải pháp quan trọng cần phải coi trọng tăng năng suất lao động xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước

Câu 4: Sản xuất giá trị thặng dư ở Việt Nam

Trước đổi mới, các doanh nghiệp Việt Nam đều là doanh nghiệp nhà nước được nhà nước bao cấp hoàn toàn Sản phẩm làm ra theo định lượng của nhà nước, thậm chí là còn không cần biết đến việc sản phẩm

đó tạo ra có đúng theo nhu cầu của thị trường hay không, vì thế mà nền kinh tế trì trệ

Sau đổi mới năm 1986, các doanh nghiệp nhà nước không còn hoàn toàn được nhà nước bao cấp nữa

mà bắt đầu phải tự chủ, bước vào nền kinh tế thị trường, đồng thời, các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên cũng rađời Tiếp đến, sự tràn vào của hàng hóa các nước khác, đặc biệt là hàng Trung Quốc giá rẻ đã tạo nên một áp lực lớn đối với các doanh nghiệp trong nước Áp lực này buộc họ phải đổi mới công nghệ nhằm tăng sức cạnh tranh để có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường Để tạo ra được nhiều giá trị thặng dư, các doanh nghiệp bắt đầu chuyên môn hóa trong việc sản xuất sản phẩm, phân chia công đoạn chi tiết, đầu tư vào việc mua lại công nghệ và máy móc, áp dụng các phương thức quản lí mới Ban đầu, với lượng kinh phí còn hạn hẹp, họ mua lại những công nghệ và máy móc cũ đã lỗi thời ở các nước phát triển với giá thành rẻ, rồi dần dần chuyển đổi sang những công nghệ mới hiện đại hơn Đồng thời, khi Việt Nam còn chưa có nguồnnhân lực tri thức cao, các chuyên gia nước ngoài cũng được mời về để chuyển giao công nghệ

Sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải

Trang 10

cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chếthương mại và luật pháp quốc tế) Vì vậy, việc đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực lại càng trở thành nhu cầu cấp bách khi cạnh tranh để tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn Điển hình là cuộc chạy đua về cung cấp công nghệ 3G giữa ba tập đoàn Vinaphone, Mobiphone và Viettel cho thấy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện nay.Không thể hiện rõ như chạy đua về công nghệ, việc đào tạo và tìm kiếm những nhà quản lí, những nhà chiến lược tài ba cũng là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp Không ít những doanh nghiệp Việt Nam hiện nay sẵn sàng trả cho nhân viên của mình hàng chục ngàn Euro mỗi năm để có được những chiến lược mới giúp doanh nghiệp tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn bởi ngày nay lao động trí tuệ,lao động quản lý đã trở thành những hình thức lao động có vai trò lớn Khu vực dịch vụ, các hàng hóa phi vật thể, vô hình chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.

Câu 5: Ý nghĩa của học thuyết giá trị thặng dư với phát triển kinh tế ở Việt Nam

Trong Học thuyết về giá trị thặng dư, C Mác đã có một nhận định có tính chất dự báo khoa học trong

xã hội hiện nay, đó là: "Mục đích thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một

tư bản ứng trước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối đa; và trong chừng mực

mà kết quả ấykhông phải đạt được bằng lao động quá sức của những người công nhân, thì đó là một khuynh hướng của tư bản, thể hiện ra trong cái nguyện vọng muốn sản xuất ra một sảnphẩm nhất định với những chi phí ít nhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tế của tư bản dạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu".Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C Mác, chúng ta thấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn pháttriển hiện nay của đất nước

Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, khi nền công nghiệp của ta còn lạc hậu kém phát triển, nền sản xuất còn yếu kém, của cài sản xuất ra không dư thừa đủ để phân phối theo nhu cầu thì trước tiên ta cần nâng cao năng suất lao động Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, những lợi ích của nó mang lại trong việc nâng cao năng suất lao động của cả xã hội, như thế có thể nói chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó

Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định cácchủ trương chính sách, cũng như có thái độphân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế

và không thể thực hiện được Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập

cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, mộtmặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phânphối thông qua Nhà nước và bằng các "kênh" phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tếvà chủ động hội nhập thành công với nền kinh tế quốc tế

Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững

Trang 11

Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện

và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

CHƯƠNG 8:NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI

Câu 1: Vấn đề tôn giáo?Liên hệ với Việt Nam

Nếu chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là một trong ba phát minh quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác, thì những quan điểm về tôn giáo là một trong những biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật về lịch sử của học thuyết này Nó thể hiện thông qua các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cả bản chất, nguồn gốc lẫn chức năng của tôn giáo

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn năm qua Nói chung, bất cứ tôn giáo nào, với hình thái phát triển đầy đủ của nó, cũng đều bao gồm: ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng liêng cùng những tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó

Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, hoàn thiện và biến đổi cùng với sự phát triển củacác quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội Sự xuất hiện và biến đổi đó gắn liền với các nguồn gốc sau:

- Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo

- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo

- Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo

*Tính ch t c a tôn giáo ấ ủ

Ngày đăng: 07/04/2016, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w