Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về vấn đề tự học, thực trạng tự học của sinh viên khoaKinh tế và Quản lý theo phương thức đào tạo tín chỉ, đề tài đề xuất một số biện pháp pháthuy tính tích
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Cấu trúc đề tài 4
PHẦN 2 NỘI DUNG 5
2.1 Cơ sở lý luận của tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ 5
2.1.1 Khái niệm tự học 5
2.1.2 Vai trò của việc tự học 6
2.1.3 Bản chất của việc tự học 7
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo việc tự học có hiệu quả 8
2.1.5 Tính tích cực tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ 9
2.2 Vài nét về sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Thủy Lợi 10
2.3 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý 11
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý 18
2.5 Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ cho sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý 22
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 26
3.1 Kết luận 26
3.2 Kiến nghị 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 30
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng:
Bảng 1:Quan niệm của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý về tự học Bảng 2: Mức độ cần thiết của việc tự học
Bảng 3: Thời gian trong ngày cho tự học
Bảng 3.1: Trong thời gian ôn thi
Bảng 3.2:Ngoài thời gian ôn thi
Bảng 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
Bảng 5: Những phương pháp tự học hiệu quả
Bảng 6: Những khó khăn gặp phải trong quá trình tự học
Biểu đồ:
Biểu đồ 1: Quan niệm của sinh viên về tự học
Biểu đồ 2: Mức độ cần thiết của việc tự học
Biểu đồ 3 : Thời gian trong và ngoài ôn thi dành cho tự học
Biểu đồ 4 : Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
Biểu đồ 5: Những khó khăn gặp phải trong quá trình tự học
Trang 3PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng,công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang là một tất yếu của sự phát triển, nótrở thành làn sóng mạnh mẽ tác động đến tất cả các nước trên thế giới cũng như mọi mặt củađời sống xã hội đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổi mới phù hợp vớithế giới và các quốc gia trong khu vực Có thể nói rằng giáo dục và đào tạo là yếu tố tácđộng mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ cũng như sự thành công trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa của đất nước Giáo dục – đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc cungcấp nguồn nhân lực có trình độ cao Chính vì vậy, để nắm bắt toàn diện những kiến thứcchuyên môn ở bậc đại học đòi hỏi mỗi sinh viên phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động họctập, đăc biệt phải dành thời gian cho việc tự học, tự nghiên cứu, trong đó tự học để thànhcông là vô cùng quan trọng Nếu chúng ta biết nỗ lực tự học,chúng ta sẽ ta nâng cao nângcao tri thức văn hóa nói chung và tri thức chuyên môn nói riêng cũng như phát huy đượcnăng lực của bản thân trên cơ sở chính là sự hướng dẫn của giáo viên
Ngày nay, hầu hết các trường đại học đều đào tạo theo phương thức tín chỉ Tuy đã tiếpcận với hình thức học tín chỉ được một thời gian nhưng trên thực tế nhiều sinh viên vẫn còngặp khó khăn trong việc tìm ra phương pháp học, vẫn chưa dành nhiều thời gian cho việc tựhọc, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho hợp lý Trong khi đó tự học, tự nghiêncứu là khâu then chốt, có tầm quan trọng đặc biệt trong đào tạo của bất kỳ nhà trường nào
Tự học luôn là phương pháp học học tập hiệu quả, ít tốn kém và phù hợp cho mọi đốitượng Muốn nâng cao chất lượng đầu ra cho sinh viên, muốn được xã hội chấp nhận vàkhông bị đào thải trước xu thế phát triển ngày càng sâu và rộng của quá trình hội nhập cầnthiết phải coi trọng tự học, tự nghiên cứu trong suốt quá trình đào tạo của mình, đặc biệt là
quá trình tự đào tạo Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp phát huy tính tích cực tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Thủy Lợi”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 4Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về vấn đề tự học, thực trạng tự học của sinh viên khoaKinh tế và Quản lý theo phương thức đào tạo tín chỉ, đề tài đề xuất một số biện pháp pháthuy tính tích cực tự học cho sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Thủy lợi
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực trạng hoạt động tự học của sinh viên theo phươngthức tín chỉ
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quảnlý
Đề xuất biện pháp phát huy tính tích cực tự học của sinh viên
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóatài liệu theo mục đích nghiên cứu của đề tài
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Với mục đích tìm hiểu nhận thức của sinh
viên về vấn đề tự học, mức độ; hình thức tự học của sinh viên, những yếu tố ảnh hưởng đếnquá trình tự học của sinh viên cũng như những khó khăn sinh viên gặp phải trong quá trình
tự học
Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này được sử dụng nhằm bổ trợ cho kết quả thuđược từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi Tự đặt mình vào trong các tình tình huốngnhằm hiểu sâu hơn về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp bổ trợ cho phiếu điều tra, phỏng vấn đánhgiá khách quan về đối tượng nghiên cứu
Phương pháp thống kê toán học, phân tích đánh giá số liệu: Để xử lý số liệu thu được, đưa ranhững kết luận chính xác cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kêtrong toán học: tính tỷ lệ phần trăm, tính trung bình…
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tự học của sinh viên
Trang 5Khách thể nghiên cứu: 100 sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Thủy Lợi
1.6 Cấu trúc đề tài
Gồm 3 phần:
Phần mở đầu: Nêu lý do, mục tiêu, phương pháp và cấu trúc của đề tài
Phần nội dung: Cơ sở lý luận của vấn đề tự học, thực trạng tự học của sinh viên khoaKinh tế và Quản lý theo phương thức đào tạo tín chỉ Đề tài đề xuất một số biện pháp pháthuy tính tích cực tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý
Phần kết luận và kiến nghị
Trang 6PHẦN 2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ
2.1.1.Khái niệm tự học
Tuy đã được nghiên cứu từ lâu và rất nhiều trên thế giới, nhưng “tự học” lại là một thuậtngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ học cũng không thểthống nhất hoàn toàn với nhau về định nghĩa tự học là thế nào Một số nhà nghiên cứu nổitiếng đã định nghĩa như sau:
Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học Tự học là quátrình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằngcách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phảnánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹnăng , kỹ xảo của chủ thể
Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm
vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” - Theo tác giả Lê Khánh Bằng: thì tựhọc (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý
để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy họcđại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thứcnhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tựtiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa
đã được qui định.
Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhậnthức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chấtlượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”
Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khiphải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinhquan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngạikhổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận
Trang 7lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình”
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở
một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
2.1.2 Vai trò của việc tự học
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học nói riêng, giáo viên luôn giữ mộtvai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉđạo hoạt động học tập của sinh viên Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thứcuyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tưthời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có
sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tíchcực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọngtrong quá trình học tập của người học.Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quảcủa hoạt động học tập
Học ở đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó, cho nênngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mởrộng và đào sâu tri thức Cũng chính thông qua hoạt động tự học này đã giúp rất nhiều chosinh viên trong quá trình học tập biểu hiện
Thứ nhất, tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trongtương lai.Chính trong quá trình tự học sinh viên đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loàingười thành vốn tri thức riêng của bản thân.Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho sinh viênhiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng trithức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới
Thứ hai, tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệuquả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen vàphương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của
Trang 8mình.Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và côngnghệ trong thời đại ngày nay.
Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp sinh viên mở rộngđào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên hình thành được những phẩm chất trí tuệ và rènluyện nhân cách của mình.Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chíphấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoahọc
Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực
tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nênđộng lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khảnăng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên và tập thể sinhviên trong nhà trường.Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khíchhướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng hướng và hiệu quả
2.1.3 Bản chất của việc tự học
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có thầygiáo Đó là "lao động khoa học", vất vả hơn nhiều so với quá trình học có thầy bởi vìngười học phải tự xây dựng cho mình cách học và sử dụng hợp lý các điều kiện, hình thức,phương tiện học tập để đạt được kết quả mong muốn.Có thể nói: "Bản chất của công việc
tự học của sinh viên đại học là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lựckhông có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụdạy học Tự học vừa mang ý nghĩa củng cố trau dồi tri thức và có ý nghĩa mở rộng hiểubiết.Tự học có nghĩa là sinh viên phải độc lập, tự xây dựng kế hoạch, phương pháp học tậpcho mình, tự năng động tìm tòi, phân tích những sách vở, tài liệu tiến tới làm chủ tri thức, kĩnăng, kĩ xảo Bản chất của quá trình tự học là không có sự hướng dẫn của giáo viên nên tấtyếu đòi hỏi nỗ lực, tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên Sự tự kiềm chế đối vớinhững ảnh hưởng ngoại cảnh hay những ước muốn không hợp lẽ trong tư tưởng là điều kiệncần thiết đối với quá trình tự học Nếu thiếu tự kìm chế, kiên trì, những yêu cầu cao, sựnghiêm túc bản thân thì sinh viên không bao giờ thực hiện được kế hoạch học tập do chính
Trang 9mình đặt ra Đây cũng là điều kiện giúp sinh viên từng bước nâng cao chất lượng học tập củabản thân và các trường đại học cũng sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo, hoàn thành mụctiêu giáo dục nếu tổ chức có hiệu quả công việc tự học cho sinh viên.
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo việc tự học có hiệu quả
Một vấn đề có tính khoa học bao giờ cũng được xây dựng trên những cơ sở và nhữngnguyên tắc nhất định.việc tự học cũng vậy, để có hiệu quả cao cần tuân thủ những nguyêntắc sau:
Đảm bảo tính tự giáo dục
Trong thực tế, quá trình giáo dục luôn chứa đựng quá trình giáo dưỡng, do vậy mà trongcông tác tự học của sinh viên, ngoài việc tự củng cố những kiến thức cũ, lĩnh hội những trithức mới, mở rộng hiểu biết, người sinh viên từng bước tự hoàn thiện nhân cách của mìnhsao cho ngày càng gần với phẩm chất cao quý của các thầy cô giáo
Đảm bảo tính khoa học trong qua trình tự học
Bản thân quá trình tự học của sinh viên cũng là một quá trình lao động khoa học, hết sức khókhăn, do vậy phải đòi hỏi có tính khoa học trong ;công tác tự học sẽ đảm bảo được tính tựgiáo dục, kích thích hứng thú học tập dẫn đến kết quả học tập như mong muốn
Đảm bảo học đi đôi với hành
Tự học không chỉ củng cố kiến thức thông thường mà quan trọng hơn là những kiến thức ấyđược vận dụng vào cuộc sống, cọ sát với thực tế để thhu lượm được những kinh nghiệm thựctiễn sống động, bổ ích, từ đó giúp cho sinh viên có những điều kiện quen thuộc cũng nhưmới mẻ đều có thể vận dụng dung, linh hoạt, sáng tạo những điều mà đã tự tiếp thhu, lĩnhhội được
Nâng cao dần đến mức tự giác, tích cực trong quá trình tự học
Nguyên tắc này sẽ trực tiếp quyết định đến kết quả học tập của sinh viên Kế hoach tự học cóđược thực hiện thường xuyên hay không là do yếu tố tự giác quyết định
Đảm bảo nâng cao dần và củng cố kỹ năng kỹ xảo
Quá trình tự học không chỉ đơn thuần là quá trình tự hình thành tri thức mà còn là quá
trình hoạt động thực tiễn, nâng cao, củng cố kỹ năng kỹ xảo
Trang 10Trên thực tế tự học của bản thân mỗi sinh viên mỗi sinh viên cần thiết kế hợp lý khéo léo,khoa học những nguyên tắc trên để đạt được hiệu quả cao nhất.
2.1.5 Tính tích cực tự học theo phương thức đào tạo tín chỉ
Cho đến nay hình thức đào tạo theo tín chỉ đã được triển khai và áp dụng trong gần 50trường trong cả nước Vào thời điểm này việc dạy và học theo hình thức đào tạo tín tín chỉ làgần như bắt buộc đối với các trường đại học và cao đẳng trên cả nước theo nghị quyết số37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục và Quy chế số43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chínhquy theo hệ thống tín chỉ Mặc dù việc học theo hình thức đào tạo tín chỉ ở Việt Nam đượcthực hiện lần đầu tiên ở trường Đại học Bách khoa Tp.HCM vào năm học 1993-1994 vàthực hiện rộng rãi ở các trường đại học và cao đẳng trong cả nước sau Quy chế 43 của BộGiáo dục và đào tạo vào năm 2007 nhưng cho đến nay việc áp dụng hình thức học tập nàyvẫn còn nhiều lung túng tại các trường và nhiều sinh viên vẫn chưa thật sự nắm bắt ý nghĩacủa nó so với hình thức đào tạo theo niên chế dẫn đến chưa vận dụng hết những ưu điểm màhình thức học theo tín chỉ mang lại
Đào tạo theo hình thức tín chỉ là một hình thức đào tạo tiên tiến, mang lại hiệu quả caođối với cả người học lẫn người dạy và đang được nhiều trường đại học ở Việt Nam áp dụng Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy địnhbằng 15 tiết học lí thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thựctập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối vớinhững học phần lí thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 tín chỉ, sinh viênphải dành ít nhất 30 giờ để chuẩn bị cá nhân
Học theo học chế tín chỉ sinh viên tự quyết định và đăng kí môn học, tự hoạch định kếhoạch học tập cho riêng bản thân, có thể linh động chương trình đào tạo theo đúng khả năng,
sở thích và thời khóa biểu riêng Học chế tín chỉ có thể giúp sinh viên có cơ hội học thêmvăn bằng hai song song trong quá trình học tập ở bậc đại học Cùng với việc trao quyền chủđộng cho sinh viên, học chế tín chỉ cũng đòi hỏi sinh viên chủ động trong việc học, tránhtâm lý ỷ lại, thầy ghi trò chép như học theo hình thức niên chế Học tín chỉ nghĩa là bạn đượcphép tự lựa chọn chương trình học cho mình, miễn sao đáp ứng đủ số tín chỉ với ngành học
Trang 11đó, là bạn có thể tốt nghiệp Học niên chế thì mỗi học kì, trường sẽ đưa ra thời khóa biếu, vàbắt buộc bạn phải học theo đúng thời khóa biểu đó Học tín chỉ, bạn tự đề ra thời khóa biểucho mình, học giảm bớt số môn trong 1 kì, hoặc học vượt, đều là do bạn quyết định Học tínchỉ bạn có thể ra trường sớm hơn vì bạn có thể đăng ký học vượt.Tuy nhiên, tín chỉ có nhượcđiểm mà nhiều sinh viên không thích, đó là tính điểm theo hệ 4 chứ không phải hệ 10, gâythiệt thòi cho nhiều sinh viên Bạn được 9 điểm được quy thành 4 Bạn được 10 điểm, cũngquy ra thành 4.
Tự học, tự nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt trong chuyển đổi từ “quá trình đào tạosang quá trình tự đào tạo” theo hệ thống tín chỉ Kết quả tự học, tự nghiên cứu không chỉgóp phần hoàn thiện kiến thức và chương trình đào tạo mà còn giúp sinh viên khắc sâu vàvận dụng những kiến thức, phương pháp tiếp thu được trên lớp vào giải quyết những vấn đềđặt ra trong thực tế, nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học - đây lại là nhân tốcơ bảncó tínhchất quyết định chất lượng đào tạo
Trong đào tạo theo tín chỉ, kiến thức của bài học phải là tổng của phần kiến thức sinhviên thu lượm được trong bài giảng của giảng viên ở trên lớpvà phần tự học, tự nghiên cứu;
do đó học ở trên lớp không là chưa đủ mà sinh viên còn phải tự học, tự nghiên cứu Tự học,
tự nghiên cứu không phải là hoạt động tự phát, ép buộc mà là hoạt động tự giáccó mục đíchrất rõ ràng, có sự định hướng của giảng viên Tự học, tự nghiên cứu có nhiều hình thứcnhư: làm bài tập, đọc giáo trình, sưu tầm và nghiên cứu tài liệu, hoặc nghiên cứu khoa học,viết tiểu luận,…
2.2 Vài nét về sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Thủy Lợi
Khoa Kinh tế & Quản lý trường Đai học Thủy lợi được thành lập và đi vào hoạt động từnăm 1979, cho đến nay đã hơn 30 năm xây dựng và phát triển Hiện nay Khoa đã xây dựngđược 5 bộ môn:
-Bộ môn Quản lý xây dựng
-Bộ môn Kinh tế
-Bộ môn Kế toán
-Bộ môn Quản trị kinh doanh
-Bộ môn Phát triển kỹ năng
Trang 12Đào tạo của Khoa được nâng cấp và mở rộng, đến nay khoa quản lý 3 chương trìnhđào tạo bậc đại học là: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên; Kế toán; Quản trị kinh doanh.
Ở bậc đào tạo đại học, tổng số sinh viên đã và đang học tập tại khoa Kinh tế & Quản
lý là 2174 trong đó số kỹ sư kinh tế thủy lợi đã tốt nghiệp là 1017 (288 hệ chuyên tu, 792 hệchinh quy) và hiện đang theo học là 1157 sinh viên
Sinh viên khoa Kinh tế & Quản lý được đảm bảo chất lượng học tập, ngày càng nângcao kiến thức và kỹ năng chuyên ngành Ngoài việc cải tiến phương pháp giảng dạy của thầy
cô giáo, khoa cũng hướng dẫn cải tiến phương pháp học tâp, như học theo nhóm, học kèmnghiên cứu, học gắn liền với tình huống thực tế… Trên cơ sở đó, Khoa đã hình thànhchương trình đào tạo cập nhật, tổ chức các buổi hướng dẫn sinh viên học và làm việc theonhóm, đưa sinh viên đi tham quan thực tế ở một số địa phương, doanh nghiệp, một số mônhọc có yêu cầu sinh viên đi khảo sát thực tế để làm tiểu luận…Sinh viên khoa Kinh tế &Quản lý có phẩm chất đạo đức tốt, tính kỷ luật cao, biết cách làm việc theo nhóm, say mênghiên cứu khoa học và luôn tự rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực chuyênmôn của mình Vì vậy, sinh viên khi ra trường đã thích nghi nhanh với công việc, có khảnăng vận dụng tốt các tình huống để giải quyết công việc một cách có hiệu quả
Bên cạnh việc học tập, sinh viên khoa Kinh tế và Quản ký cũng nhiệt tình tham gia cácphong trào Đoàn, Hội do trường hoặc khoa tổ chức như tham gia hội diễn văn nghệ chàomừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, thể dục thể thao chào mừng ngày thành lập đoàn 26-3… đạt kết quả cao
Tuy nhiên, sinh viên khoa Kinh tế và quản lý còn có những mặt hạn chế như: thiếu tựtin và óc phê phán: nhiều bạn sinh viên năm thứ ba, thứ tư Ðại học mà vẫn ngại phát biểu ýkiến hoặc trình bày vấn đề trước đám đông vì thiếu tự tin, thiếu thói quen suy nghĩ, đi họcchỉ biết "chép chính tả Tư duy nặng về "điểm chác”, bằng cấp rất phổ biến.Không xác định
tư tưởng học để làm việc mà học để lấy bằng Ngoài ra sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý cóthể lực kém, tinh thần hợp tác làm việc theo team work còn hạn chế, giờ cao su, …
Theo khảo sát những năm qua, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp khoa Kinh tế & Quản lýtrường đại học Thủy lợi có việc làm khá cao, trong đó nhiều sinh viên đã nắm cương vị lãnhđạo tại một số doanh nghiệp
Trang 132.3 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát điều tra bằng bảng câu hỏi đối với 100 sinh viên, đốitượng là sinh viên năm thứ nhất và tập trung vào các vấn đề như: Quan niệm của sinh viên
về vấn đề tự học; nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của việc tự học; các yếu tố ảnhhưởng đến quá trình tự học; các phương pháp tự học mà sinh viên cho là hiệu quả; nhữngkhó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình tự học … để thấy được thực trạng tự học củasinh viên khoa Kinh tế và Quản lý
Thứ nhất, để tìm hiểu thực trạng việc tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý
trường Đại học Thủy Lợi Trước hết, chúng tôi tiến hành tìm hiểu quan niệm của sinh viên
về vấn đề tự học, kết quả được thể hiện trong bảng 1:
Bảng 1:Quan niệm của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý về tự học
ST
Số lượng
Tỉ lệ
%
1 Tự học là bản thân người học tích cực độc lập,tự giác
chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo bằng phương pháp
phù hợp
2 Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực,
độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó
trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm
đạt được mục đích nhất định
3 Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các
năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, với tinh thần không
ngại khó, ngại khổ; kiên trì; nhẫn nại để chiếm lĩnh lĩnh
vực nào đó của khoa học
4 Tự học là tự bản thân mình nghiên cứu, theo sự hướng
dẫn của giảng viên hoặc giáo trình
Trang 14Dựa vào kết quả thống kê ở bảng 1, chúng tôi đã thể hiện quan niệm của việc tự học theo đánh giá của sinh viên ở biểu đồ 1:
12.00%
48.00%
33.00%
7.00%
Quan niệm 1 Quan niệm 2 Quan niệm 3 Quan niệm 4
Biểu đồ 1 Quan niệm của sinh viên về tự học
Biểu đồ 1 cho thấy, có 48% sinh viên chọn phương án trả lời: “Tự học là quá trình cá
nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định”.Đây cũng là
khái niệm về việc tự học mà chúng tôi đưa ra ở phần cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài Nhưvậy, có thể thấy rằng hầu hết sinh viên đã nhận thức đúng đắn về quan niệm tự học.Từ đó cóđịnh hướng tốt hơn trong quá trình học tập với mô hình đào tạo tín chỉ hiện nay
Có 33% sinh viên lựa chon phương án: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, với tinh thần không ngại khó, ngại khổ; kiên trì; nhẫn nại để chiếm lĩnh lĩnh vực nào đó của khoa học”
Có 12% sinh viên cho rằng: “Tự học là bản thân người học tích cực độc lập,tự giác
chiếm lĩnh tri thức,kỹ năng,kỹ xảo bằng phương pháp phù hợp”.
Chỉ có 7% sinh viên quan niệm: “Tự học là tự bản thân mình nghiên cứu, theo sự
hướng dẫn của giảng viên hoặc giáo trình” Như vậy với quan niệm tự học đơn giản chỉ là
tự nghiên cứu, tìm hiểu trên những cái có sẵn theo sự hướng dẫn của giảng viên hoặc qua
Trang 15giáo trình thì mức độ tiếp cận tri thức sẽ rất thấp và khó có thể theo kịp sự thay đổi và pháttriển không ngừng của xã hội
Thứ hai, nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của việc tự học trong mô hình đào
tạo tín chỉ Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi đưa ra 4 mức độ và kết quả được thể hiệntrong bảng 2:
Bảng 2: Mức độ cần thiết của việc tự học
Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Biểu đồ 2: Mức độ cần thiết của việc tự học
Khi chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ, số giờ giảng dạy trên lớp của giảng viên giảmrất nhiều, số giờ tự học của sinh viên tăng lên gấp đôi Nhưng thực tế cho thấy, đa số sinh
Trang 16viên vẫn rất thụ động không biết cách tự học, không biết sử dụng quỹ thời gian tự học của mình vào làm việc gì và vì thế, chúng tôi đã điều tra được mức độ cần thiết của việc tự học.Thông qua kết quả khảo sát được tổng kết trong ở bảng 2 và biểu đồ 2, cho thấy: Có
2% sinh viên cho rằng việc tự học là rất cần thiết Điều đó có nghĩa là tỷ lệ sinh viên nhận
thấy mức độ rất cần thiết của việc tự học là chưa cao Qua phỏng vấn bạn N.T.K cho biết:
“Em thấy chỉ cần học trên lớp là đủ, học đại học chỉ cần qua là được, dành thời gian cho những hoạt động khác” Hiệu quả của quá trình dạy học chính là sự tương tác của tư duy,
hành động và lời nói giữa giáo viên và sinh viên Nhờ sự trợ giúp của ngôn ngữ mà tư duy được củng cố và phát triển Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lượng thông tin ngày càng gia tăng Theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học, lượng thông tin tăng gấp đôi cứ sau khoảng 5-6 năm Bên cạnh đó, chương trình đào tạo được thiết kết theo hướng ngày càng tinh gọn Số tiết truyền đạt trực tiếp trên lớp giảm còn hai phần ba
so với trước đây, trong khi yêu cầu đốivới người học ngày càng cao Do vậy, hơn lúc nào hết, tầm quan trọng của tự học tăng nhanh
Số sinh viên cho rằng việc tự học là cần thiết chiếm tỷ lệ 22% Như vậy, tỷ lệ sinh viên đánh giá việc tự học là cần thiết và rất cần thiết chỉ chiếm 24% Điều đó chứng tỏ nhu cầu
tự học của sinh viên là tương đối thấp.Việc tự học đối với sinh viên trong mô hình đào tạo tín chỉ có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân Ngoài ra, việc tự học còn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác làm việc theo nhóm Khi đó sinh viên có thể thể hiện tính sáng tạo trong tư duy và linh hoạt nhạy bén trong suy nghĩ, điều quan trọng hơn hết là sinh viên có thể đi sâu hơn so với thực tiễn nhằm rèn luyện kỹ năng phân tích tình hình và đưa ra quyết định, đây là một yếu tố cần và đủ để sau này khi rời khỏi ghế nhà trường sinh viên sẽ không
bỡ ngỡ khi làm việc ở môi trường thực tế Việc tự học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu tốt bài giảng trên lớp hay củng cố lại các kiến thức đã học, mở mang thêm nhiều kiến thức mới qua sách vở và mạng Internet phục vụ cho chuyên ngành nghiên cứu, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, tạo môi trường học tập tiến bộ và tiên tiến,…
Có 37% sinh viên cho rằng tự học trong mô hình đào tạo tín chỉ là bình thường Điều
đó chứng tỏ rằng khá nhiều sinh viên chưa thấy được vai trò của việc tự học đối với mô hìnhđào tạo tín chỉ hiện nay.Hầu hết sinh viên cho rằng những kiến thức có được đã đủ, nhưng
Trang 17đang quên mất rằng do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức không ngừng tăng lên Hơn nữa, xã hội luôn phát triển không ngừng, những kiến thức mà họ
có chỉ như một hạt cát trên sa mạc tri thức Chính vì vậy, sinh viên phải luôn trau đồi, vận dụng kiến thức vào thực tế để rút ra cho mình những kỹ năng, kinh nghiệm sống
Có 39% sinh viên cho rằng tự học đối với họ là không cần thiết Một bộ phận lớn
trong sinh viên có tư tưởng sai lệch khi cho rằng việc học lại, thi lại đối với sinh viên là một điều hiển nhiên Đây là một tư tưởng cần khắc phục để cải thiện kết quả học tập của sinh
viên Bạn N.Y.H khi được phỏng vấn cho biết rằng: “Chúng mình hay nói với nhau sinh
viên là khoảng thời gian đẹp nhất của mỗi người nên phải cố gắng tận hưởng cho hết, việc học thì cứ từ từ đã”
Thứba,việc dành thời gian trong ngày cho tự học của mỗi sinh viên là khác nhau
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thu đươc số liệu thể hiện ở bảng 3:
Bảng 3.1: Trong thời gian ôn thi
Bảng 3.2:Ngoài thời gian ôn thi