Sổ tay hàng hải - Tập 1 - Chương 17: Máy đo sâu hồi âm
Trang 117 MAY bO SAU HOI AM
17.1 Nguyên lý hoạt động
Máy đo sâu hổi âm hoạt động như sau, người ta đặt một nguồn
phát sóng âm A và một thiết bị thu sóng âm C (hai thiết bị năy
có cùng nguyên lý hoạt động, vì vậy người ta thường dùng
chung một thiết bị gọi là biết bị thu phát dùng cho cả phát lẫn thu sóng âm) dưới đáy tàu gọi là bộ tao dao déng (transducer)
Máy phát sóng âm cứ cách một khoảng thời gian nhất định phát ' :
về phía đáy biển B một xung sóng siêu âm theo chiéu thẳng đứng (Hình 17.01) Sóng siêu âm này khi đến đáy biển thì phần hổi trở về đáy tàu và tác dụng vào bộ tạo dao động Tín hiệu
phan hồi thu được dưới dang tín hiệu điện được chuyển cho bộ
Bs phận khuếch đại rồi đưa sang thiét bi-chi báo Bằng các phương
Hình 17.01 pháp điện và cơ, bộ phận chỉ báo tính toái và chỉ báo ra độ
Độ sâu của đáy biển được xác định bằng cách đo thời gian t từ khi phát đến khi thu được
sóng phần hồi, : sử :
Trong đó,
d - Khoảng cách từ đáy tàu đến đáy biển (độ sâu) - : x :
v - Tốc độ sóng âm trong nước
t- Thời gian sóng âm truyền lan từ bộ tạo dao động phát đến đáy biển và trở về
bộ tạo dao động thu
Giống như trong không khí, trong nước biển sóng âm truyền lan từ nguồn phát âm về mọi
phía Nói chung tốc độ truyển lan của sóng âm trong nước là cố định 1505 mét/s (chỉ trừ những trường hợp đặc biệt chịu ảnh hưởng bởi sự biến đổi tính chất vật lý của nước thì tốc độ
này mới thay đổi)
Một máy đo sâu hổi âm thường có các bộ phận : thiết bị chỉ báo, máy phát, thiết bị khuếch
đại, bộ tạo đao động (thu phát) và máy biến dòng cung cấp nguồn điện (Hình 17.02) Tùy theo thiết kế từng loại máy, các bộ phận này có thể ghép thành từng khối hoặc để riêng Trong thiết bị chỉ báo, ngoài bộ phận chỉ báo độ sâu còn có bộ phận điểu khiển máy phát tạo
thành bởi bánh xe lỗi và các tiếp điểm Máy phát thông qua sự điều khiển của máy chỉ báo
sẽ phát năng lượng (năng lượng này được tích lũy trong khoảng thời gian giữa hai lần phát
SỐ TAPHÀNG HÃI 646
Trang 2năng lượng) vào cuộn đây dao động phát ở bộ phận phát sóng Được cấu tạo bằng nguyên
liệu đặc biệt, bộ tạo dao động phat sau khi nhận năng lượng (xung điện) từ máy phát sẽ tạo
ra dao động sóng siêu âm và truyền lan về phía đáy biển Sóng siêu âm từ đáy biển quay về
tác dụng vào bộ phận tạo đao động thu, ở đây năng lượng sóng âm chuyển thành năng lượng điện và đưa sang bộ phận khuếch đại Tín hiệu sau khi được khuếch đại đến mức đủ lớn
được chuyển về thiết bị chỉ báo độ sâu
¬_——”)
S®e
Thiết bị ất bì chỉ Thiết bị
phát Xung Thiết bị chỉ báo khuyếch đại
Máy phát Máy thu
Hình 17.02
Theo như hình 17.01, thì AB=BC > d, như vậy d đo được sẽ có sai số Tuy nhiên, nếu may do sâu dàng chung một bộ ?qo dao động thu phát và phát định hướng vuông góc với đáy biển thì
sai số này không tổn tại nữa
17.2 Phản xạ, khúc xạ, hấp thụ và tốc độ của dao động sóng âm trong nước
Trên thực tế, do đặc tính kỹ thuật của máy phát, sóng siêu âm được phát về phía đáy biển ,:
thành một chùm tia (beam) gồm có nhiều cánh sóng cạnh với công suất nhỏ và cánh sóng chính có công suất tập trung Các cánh sóng cạnh chịu ảnh hưởng của khúc xạ, và hấp thụ bởi nước biển và phần xạ rất yếu Thực tế, chỉ có cánh sống
biệt ở góc độ mà công suất đạt trên một nửa công suất
phát, là có sóng phản xạ đủ mạnh để máy thu có thể tiếp Tư
nhận Hơn nữa, tuỳ theo độ sâu của đáy biển cường độ
phản xạ biến đổi rất lớn
A Sông canh
A a
Các máy đo sâu dùng cho thương thuyễn có thể đo được độ Góc nữa him tia
sâu từ 1000 1500m, độ sâu nhỏ nhất có thể đo được là 1⁄2 Ũ phat 15~22°
đến 1 mét
›
Tốc độ của sóng âm trong nước biển với độ mặn 3,4% và
nhiệt độ 16°C gần như không đổi là 1505 m⁄s, thông thường
máy đo sâu được thiết kế cho tốc độ sóng âm 1500m/s
Khi nhiệt, độ mặn và áp suất của nước tăng lên thì tốc độ,
của sóng âm trong đó cũng tăng lên theo Trong thực tiễn,
việc áp dụng một tốc độ sóng âm cố định khi thiết kế sinh ra sai số không lớn Khi tàu chạy
từ nước biển sang nước ngọt thì thì độ sâu thực tế trong nước ñgọt nhỏ hơn chừng 3% độ sâu
Hình 17.03
SO TAY HANG HAI 647
Trang 3chỉ báo trên máy Đồ thị hình 17.04 biểu thị quan hệ hàm số của tốc độ sóng âm trong nước
biển với nhiệt độ, độ mặn, hình 17.05 biểu thị quan hệ hàm số của tốc độ sóng âm với nhiệt
độ, độ mặn và áp suất khi gia tăng độ sâu Nếu yêu câu độ sâu có độ chính xác cao thì cố
thể hiệu chỉnh theo các đồ thị này
Tốc độ thuỷ âm: v(tms)
1460 7O 180 1490 — BOO
Độ mặn ge
3
1420
8
1400
Nhiệt độ nuốc biển (0)
8
Số lượng xung được phát đi trong một phút khoảng 10 đến 600 xung Tai người chỉ có thể nghe dude tin sé 100 Hz dén 18 kHz Tần số phát của máy phát càng giảm thì hấp thụ của nước biển đối với sóng âm càng giảm Tân số
sóng siêu âm dùng trong máy đo sâu được Thạch anh
chọn từ từ 30 đến 50 KHz Tần số này vượt xa / \ | L
tần số nghe được vì vậy gọi nó là (ẩn số siêu L rc ++ 7]
PTT
âm
Bộ tạo đao động được chia ra làm hai kiểu: " Hình 17.06
17.3.1 Bộ tạo dao động điện động
++
17.3 Bộ tạo dao động
Một số loại tỉnh thể có đặc tính khi cho lực ép
cơ học tác dụng vào hai mặt của nó thì giữa
hai mặt đó sinh ra hiệu điện thế ngược đấu
trên hai bể mặt tỉnh thể Nếu lực ép biến
thành lực kéo thì điện thế sẽ đổi dấu Hình
trên tỉnh thể thạch anh khi có tác dụng của áp - _ Tấm kim loại van Bach 1 Tổ đây
lực Khi tỉnh thể đặt vào trong một dao động
cơ học thì nó tạo ra điện thế xoay chiều giữa
hai bể mặt tỉnh thể Tinh thể còn có một đặc
tính ngược lại, khi cho một điện thế xoay
chiều tác dụng lên hai mặt của nó thì chiều
dày của nó biến đối lúc co lúc dan tao thành
đao động cơ học
Hình 17.07
Nhờ các đặc tính nói trên, tỉnh thể được sử
dụng để làm bộ tạo đao động phát kết hợp với bộ tạo dao động thu của máy đo sâu đình
SO TAY HANG HAI 648
Trang 417.07) Trong hình, miếng tính thể thạch anh được kẹp vào giữa hai tấm kim loại, khi có điện áp tác dụng vào hai mặt kim loại thì đao động được tạo ra trên tỉnh thể và cả trên hai tấm kim loại và hình thành sóng âm truyền lan ra vào trong nước theo hướng vuông góc với
bể mặt tấm kim loại Tần số của điện áp xoay chiều được chọn cộng hưởng với tấn số tự
nhiên của tỉnh thể và kim loại Khi sóng âm phần xạ trổ về tác dụng vào hai tấm kim loại
bằng lực cơ học làm cho tỉnh thể sình ra điện thế xoay chiều, nó được đưa sang bộ phận khuyếch đại và chỉ báo độ sâu Tinh thé PZT được sử dụng cho mục đích này, và dùng cho
cả mục đích phát và thu sóng âm
17.3.2 Bộ tạo dao động thu phát từ động
Thanh kim loại
30x 10-8
Từ
trường
/ t 9
Hình 17.08 5
B -10
§ -20
A v tư v v s
2 -30
f
Gường độ từ trường
Hộp nối điện
Bộ dao động thu phat
Chua day
nuge ngot
A ton day tau
; * mas ì € x
H ‡ + ‡ ’
ob 4 i fot
Khi một thỏi sắt từ đặt trong từ trường thì nó biến đổi chiêu dài (Hình 17.08) Biên độ biến , đổi chiều đài phụ thuộc vào vật liệu của thỏi kim loại và cường độ của từ trường, chiều dài
của thỏi kim loại có thể kéo dài ra hoặc thu ngắn lại, Trong các loại kim loại cobalt, thép và nickel thì nikel có hiệu ứng co đãn mạnh hơn cả (Hình 17.09) Khi thỏi nikel được đặt vào
một cuôn dây cho dòng điện xoay chiều chạy qua ( Hình 17.10), nó sẽ co dãn với tần số gấp
SO TAY HANG HAI 649
Trang 5đôi tần số dòng điện Kích thước của thỏi nikel được thiết kế sao cho tần số tự nhiên của nó cộng hưởng với dòng điện thì cường độ dao động rất mạnh Dao động cơ học của thỏi nikel
nhận được bằng cách này sẽ truyén lan vào trong nước
Hiện tượng ngược lại cũng xảy ra đối với thanh nikel, lực cơ học biến đổi (sóng âm phần hồi) tác dụng lên nó, thì kích thước của thỏi nikel cũng thay đổi và tạo ra từ trường biến đổi, từ trường biến đổi tạo ra dòng điện xoay chiều trong cuộn dây quấn quanh nó Cho nên hiệu
ứng từ động được áp dụng cho cả phát và thu sóng âm Hình 17.11 là một bộ tạo đao động theo nguyên lý từ động, hình 17.12 biểu thị cách lắp đặt bộ phận này dưới đáy tàu
17.4 Thiết bị chỉ báo và thiết bị tự ghỉ
Để có thể đọc được độ sâu, máy đo sâu có các loại thiết bị chỉ báo: thiết bị chỉ báo bằng
điod phát sáng, chỉ báo kỹ thuật số và thiết bị tự ghi
17.4.1 Thiết bị chỉ báo bằng diod phát sáng (Hình 17.13)
Đấu hiệu phát sông
S Đầu dò cảm ứng
sọ
Thanh
kim loại 35 kích phát
\ Diod phat s4rig Tiép diém 1d xo
Hinh 17.13
Hoạt động của bộ chỉ báo này như sau, một môtØ servo quay cánh tay đòn trên đó gắn 3 diod
phát sáng (Le.d — light emitting diode) va một thanh kim loại kích phát Mỗi lần cánh tay đòn quay đến điểm zero thì thanh kim loại kích phát tác động vào từ trường của đầu dò cắm
ứng kích hoạt máy phát khiến bộ tạo dao động phát phát ra một xung, đông thời một tín hiệu
yếu cũng được đưa qua tiếp điểm lò xo làm sáng díod phát sáng biểu thị máy phát xung đã
hoạt động Cánh tay đòn tiếp tục quay trong khi xung đã được phát đi vào đáy biển Cho đến
Khi bộ tạo đao động thu tiếp nhận được tín hiệu phần hồi từ đáy biển và chuyển từ tín hiệu
cơ sang tín hiệu điện, sau khi qua khuyếch đại, tín hiệu được truyền về tiếp điểm lờ xo làm
cho các dióđ phát sáng chỉ báo độ sâu, căn cứ vào vị trí phát sáng của đèn có thể đọc độ sâu
trên vòng tròn thang tỷ lệ, Môtơ servo quay với một tốc độ cố định chính xác sẽ đảm bảo độ
chính xác của độ sâu chỉ báo, khi thay đổi thang đo sâu thì tốc độ quay của môtơ cũng thay đổi
17.4.2 Thiết bị tự ghi độ sâu ( Hình 17.14)
Với thiết bị này, độ sâu được ghỉ trên giấy Giấy ghi được kéo bằng một môiơ ( Hình 17.14a) (giấy quấn thành cuộn trong trục quấn) di chuyển chậm qua một bể mặt kim loại
SO TAY HANG HAI 650
Trang 6
Dấu hiệu phát
Công tắc
3 | thang đo sâu
Đầu cảm biến
Than dẫn kim ghi
Giấy ghi Tin hiệu
từ mây thu
Hướng giấy chuyển động
A
Băng truyền động
a)
6 thu giấy Vị trí ip cuộn giấy mới
Hinh 17.14
Bang truyễn động quấn qua bai ròng rọc được kéo bằng một môtơ quay nhanh với ï tốc độ
ổn định chính xác, trên băng truyền động gắn một kim ghi ép chặt trên mặt giấy ghi Trên
bể mặt giấy ghi tráng một lớp kim loại mỏng (thường dùng lá nhôn), trên đó lại phủ một lép
chất không dẫn điện mỏng nữa Khi có một điện thé din qua kim ghi thì lớp trên của kim
loại bị cháy và làm lộ ra lớp kim loại với màu sắc khác
Khi máy hoạt động, nam châm kích phát, gắn trên băng truyễn động, lướt qua đầu cảm biến
(gắn cố định) thì mạch điện được đóng kín khiến máy phát tạo ra một xung đao động cơ học `
và phát sóng âm vào đáy biển Cùng lúc đó kim ghi cũng chỉ đúng vị trí “zerô” trên thang tỷ
lệ giấy ghi Trong khi bút ghi van tiếp tục di chuyển thì một phần năng lượng của xung phẩn hổi từ đáy biển được bộ tạo dao động thu nhận được và chuyển từ tín hiệu cơ thành tín hiệu điện rồi đưa qua bộ khuếch đại và đưa về bút ghi vế thành một vệt đen trên giấy ghi để chỉ báo độ sâu
SỐ TAY HÀNG HẢI 651
Trang 7Khi thay đổi các thang đo khác nhau thì cũng thay đổi tốc độ môtơ cho phù hợp
Hình 17.14b chỉ rõ cách thức giấy ghi chuyển động ra sao và cách thay cuôn giây ghi
Ngoài hai phương pháp chỉ báo độ sâu như trên còn có loại chỉ báo theo nguyên lý kỹ thuật
số
17.5 Một số điều cần chú ý khi sử dụng máy đo sâu
17.5.1 Phần hồi nhiều lần
Khi máy đo sâu hoạt động ở độ nhạy cao trên đáy biển cạn lại nhiễu đá thi sóng âm phản hếi từ đáy biển về đáy tàu có thể bị đáy tàu phần hổi trở lại về đáy biển, sóng phần hồi đó lại từ đáy biển phản hồi về đáy tàu một lần nữa Sự phần hổi như vậy có thể lập lại vài lần
Kết quả là trên thiết bị chỉ báo tự ghi xuất hiện hai hoặc ba tín hiệu chỉ độ sâu, dĩ nhiên là ta
chỉ quan tâm đến tín hiệu độ sâu đầu tiên còn các tín hiệu đến chậm hơn là các tín hiệu giả Tốt nhất khi khởi động máy đo sâu nên bắt đầu từ thang đo nhỏ, khí chưa thấy tín hiệu phần hổi thì chuyển sang thang đo lớn hơn, cứ tăng thang đo lên dẫn cho đến khi thấy tín hiệu phần hồi, bằng cách đó có thể tránh được các tín hiệu phản hổi giả Hoặc cũng có thể giảm tín hiệu phản hôi giả bằng cách giảm độ khuếch đại máy thu cho đến khi chỉ còn tín hiệu rõ
ràng nhất, đó là tín hiệu thật
17.5.2 Khi tàu chạy không tải
Tàu chạy không tải thì chênh lệch mớn nước mũi - lái rất lớn, khi sóng gió lớn mũi tầu va đập vào nước biển rất đữ dội làm cho rất nhiều bọt khí trộn lẫn vào nước biển tạo thành hỗn hợp nước biển và bọt khí chay qua déy tau Trong khi nước lẫn khí chảy dưới đáy tàu, vì bọt khí trong nước nhẹ nên nổi lên trên, các bọt khí này một mặt chui vào bộ phận tạo đao động làm giảm hiệu quả phát sóng siêu âm của bộ tạo dao động, mặt khác khi các bọt khí đi qua
bộ phận tạo dao động sẽ hấp thụ và tán xạ sóng âm làm cho tín hiệu thu bị yếu đi Vì những
lý do đó mà việc đo độ sâu trong trường hợp tàu không tải là khó khăn
17.5.3 Khi tàu bị nghiêng
Tàu nghiêng thì bộ tạo đao động thu phát cũng bị nghiêng theo Do tính chất phản xạ của các loại sóng nói chung trong đó có sóng âm, khi bộ tạo đao động phát nghiêng làm cho
sóng phát đi không còn thẳng góc hoặc gần thẳng góc với đáy biển, do đó sóng phan xa
không trổ về bộ tạo dao động thu, việc đo sâu trở nên khó khăn Nói chung các máy đo sâu
hồi âm khi tàu bị nghiêng đến một giới hạn nào đó thì máy rất khó chỉ báo đúng độ sâu
17.5.4 Lúc sóng to gió lớn
Trong sóng to gió lớn tàu bị lắc bổ về nhiễu phía, dĩ nhiên bộ tạo dao động thu phát cũng ở
trong tình trạng bị chao đảo Nếu bộ tạo dao động bị lắc đến một góc độ lớn, do không thu được sóng phần xạ nên việc đo sâu cũng rất khó khăn
17.5.5 Khi tàu chạy lùi
Khi tàu chạy lùi, bọt khí do chân vịt quay tạo nên trộn lẫn vào nước biển, hỗn hợp nước biển
và không khí sẽ chẩy qua đáy tàu khiến cho sóng âm bị tán xạ hoặc bị hấp thụ không đến được đáy biển ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến việc đo sâu
17.5.6 Đặc biệt chú ý bộ dao động đặy ở đáy tàu
SO TAY HANG HAI 652
Trang 86 đáy tàu, nếu bộ tạo dao động thu phát không được chứa trong một hộp nhỏ thì phải thận
trọng khi sơn lên tôn đáy tàu, tránh sơn hoặc phun cát lên tấm kim loại của bộ tạo đao động thu phát Ban thân tấm kim loại này làm bằng thép không rỉ nên không cân phải sơn Nếu bộ tạo dao động thu phát lại được chứa trong một hộp nhỏ ở đáy tàu, thì một phân miếng tôn vỏ phía dưới hộp đã được thay thế bằng một tấm thép không rỉ mỏng, cũng không được sơn tấm thép này Trước khi tau ra đà cần kiểm tra miếng thép không rỉ này, lau chùi đầu mỡ sạch
sẽ để không ảnh hưởng đến hoạt động của máy đo sâu
ja,
SO TAY HANG HAI 653