Văn hóa theo định nghĩa của Hồ Chí Minh năm 1942: -“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa h
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
1 Văn hóa, Văn minh là gì? Giữa văn hóa, Văn minh có điểm gì giống và khác nhau? (2)
2 Các đặc trưng cơ bản của văn hóa (2)
3 Những thành tựu chủ yếu của văn hóa nguyên thủy.(3)
4 Ý nghĩa cội nguồn và các thành tựu của chủ yếu của Văn Lang-Âu Lạc(4)
5 Nêu những thành tựu của nền văn hoá Đông Sơn.(5)
6 Những thành tựu chủ yếu của Chăm Pa (7)
7 Những thành tựu chủ yếu của Đại Việt (8)
8 Trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta đã dùng những biện pháp gì để chống chính sáchđồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc? (11)
9 Chứng minh tính sáng tạo của nhân dân ta trong quá trình tiếp thu những thành tựu của Vănhóa Trung Hoa (12)
10 Những thành tựu của Văn hóa Óc Eo (14)
11 Những thành tựu chủ yếu của văn hóa thế kỷ X, Thăng Long, Trần, Lê, Nguyễn?(17)
12 Các bộ luật chính của nước ta trong giai đoạn văn hóa Đại Việt? (26)
13 Khái quát về giáo dục, khoa cử trong nền văn hoá Đại Việt.(30)
14 Những thành tựu văn hoá – nghệ thuật khác trong nền văn hoá Đại Việt.(34)
15 Những thành tựu của Văn hóa Việt Nam trong giai đoạn Văn hóa Cận hiện đại và bản sắcVăn hóa Việt Nam biểu hiện trong giai đoạn Văn hóa Cận hiện đại như thế nào?(36)
16 Nêu những đặc trưng văn hóa thẩm mỹ của người Việt.(38)
17 Đặc trưng của tôn giáo ở Việt Nam.(40)
18 Một số tín ngưỡng cơ bản của người Việt.(41)
19 Triết lý âm – dương và ngũ hành trong đời sống văn hóa Việt Nam (42)
20 Đặc điểm văn hoá giao tiếp của người Việt (47)
21 Những đặc trưng của nghệ thuật thanh sắc và hình khối.(50)
22 Ý nghĩa của lễ hội trong đời sống văn hóa Việt Nam.(54)
23 Nêu mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hoá; đặc điểm của môi trường tự nhiên Việt Nam.(58)
24 Cấu trúc và mối quan hệ gia đình – xóm làng – quốc gia Việt Nam.(62)
25 Những phẩm chất nổi trội trong tính cách người Việt.(66)
26 Cách thức tổ chức và đặc trưng thể chế làng xã ở Việt Nam.(68)
27 Những đặc trưng của văn hóa đô thị Việt Nam.(72)
28 Vùng văn hóa và các vùng văn hóa ở Việt Nam (73)
29 Quá trình, nội dung, đặc điểm cơ bản của tiếp xúc với văn hoá, văn minh (Đông Nam Á;
Ấn Độ; Trung Hoa; Phương Tây; Tiếp xúc giao lưu văn hoá trong giai đoạn mới).(75)
30 Các giai đoạn trong quá trình tương tác với văn hóa trong khu vực Đông Nam Á (83)
31 Các giai đoạn và kết quả trong quá trình tương tác với văn hóa Ấn Độ.(83)
32 Các giai đoạn và kết quả trong quá trình tương tác với văn hóa Trung Hoa (91)
33 Các giai đoạn và kết quả trong quá trình tương tác với văn hóa phương Tây.(94)
34 Thế nào là một nền Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?(97)
35 Những biểu hiện bản sắc Văn hóa tinh thần của Văn hóa Việt Nam?(99)
36 Những biểu hiện bản sắc Văn hóa vật chất của Văn hóa Việt Nam?(110)
Trang 2BÀI LÀM:
1 Văn hóa, văn minh là gì? Giữa văn hóa, văn minh có điểm gì giống và khác nhau?
Văn hóa theo định nghĩa của Hồ Chí Minh năm 1942:
-“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
Văn hóa theo định nghĩa cùa UNESCO:
- “Văn hóa là tổng thể nói chung các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển”
+Văn hóa phải được xem như tập hợp những nét khác biệt về vật chất và tinh thần, về trí tuệ và cảm xúc, làm rõ nét một xã hội hay một nhóm xã hội Ngoài nghệ thuật và thơ văn, văn hóa bao hàm phongcách sống, cách chung sống hệ thống các giá trị truyền thống
+Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo tích lũy trong lịch sử, như quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận và vận dụng trong đời sống, được xã hội giữ gìn và trao chuyển cho thế hệ sau
+Văn hóa thể hiện trình độ phát triển, những nhận định riêng ở mỗi dân tộc
-Văn minh là sự tổng hoà những thành quả vật chất và tinh thần của con người trong quá trình cải tạo
thế giới,là thước đo của sự tiến bộ và mức độ khai hoá của con người
Văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại
*Văn hóa và văn minh
Giống:
Đều là những giá trị do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử
Khác :
+ văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một là một lát cắt đồng đại
+Văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỹ thuật
+Văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt thì văn minh mang tính siêu dân tộc quốc tế
2 Các đặc trưng cơ bản của văn hóa
1 Văn hóa trước hết phải có tính hệ thống
- Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa; phát hiện các đặc trưng,những quy luật hình thành và phát triển của nó Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọihoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội
- Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó vớimôi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nền tảng của xã hội
2 Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị.
- Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
Trang 3-.Các giá trị văn hóa:
+ Theo mục đích có thể chia thành:giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần);
+ Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ;
+ Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời
3 Đặc trưng thứ ba là tính nhân sinh
- Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo)
- Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh thần
- Văn hóa thực hiện chức năng giao tiếp Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dưng của văn hóa
4 Văn hóa còn có tính lịch sử
- Lịch sử cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích luỹ quanhiều thế
hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn
- Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn hóathường xuyên tự điều chỉnh,tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa
- Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng của văn hóa từ chức năng giáo dục văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử
3 Những thành tựu chủ yếu của văn hóa nguyên thủy
-Thời kì đồ đá cũ:
Ở thời kỳ bầy người nguyên thủy, công cụ lao động tiêu biểu là những hòn đá cuội được ghè đẽo qua loa, hình dáng rất thô kệch, những mảnh tước tách từ hạch đá, những chiếc rìu tay hình bầu dục hoặc hình hạnh nhân Kỹ thuật chế tác công cụ rất thô sơ Năng suất lao động rất thấp kém Nạn đói thường xuyên đe dọa
-Thời kì đồ đá mới:
-Sự phát triển kinh tế và xã hội:
+Sang thời đại đồ đá mới (khoảng 6000 năm trước công nguyên), con người hoàn toàn sống trong những điều kiện khí hậu, động vật và thực vật của thời hiện đại Bên cạnh các công cụ đồ đá ghè đẽo của thời đại trước, công cụ lao động tiêu biểu cho thời đại này là với kỹ thuật mài nhẵn Ngoài ra, kỹ thuật khoan lỗ và cưa cũng đã có
+Thời đại đồ đá mới cũng được đánh dấu bằng sự xuất hiện hai ngành tiểu công nghệ đầu tiên của loài người là nghề làm đồ gốm nghề dệt vải Bên cạnh các nghề săn bắn, đánh cá và hái lượm, người thời đại đồ đá mới bắt đầu biết và nông nghiệp dùng cuốc Ðiều này càng củng cố thêm sự và nữ đã có
từ thời đại đồ đá cũ Săn bắn và chăn nuôi là công việc của người đàn ông Người đàn bà lo việc hái lượm ,trồng trọt, chăm nom công việc gia đình, trong đó có việc làm đồ gốm và dệt vải
+Công xã thị tộc mẫu hệ: Chế độ mẫu quyền phát triển tồn tại ở trung kỳ thời đại đồ đá mới.Lúc này người ta đã biết chăn nuôi gia súc và đã tiến tới nông nghiệp dùng cuốc Chính nông nghiệp đã xác lập địa vị và vai trò trọng yếu của người đàn bà trong nền sản xuất xã hội lúc bấy giờ
-Ngôn ngữ xuất hiện:Hình thái ý thức đầu tiên của loài người có thê nói là ngôn ngữ Như chúng ta đã
biết tư duy và ngôn ngữ sinh ra và phát triển gắn liền với việc tiến hành lao động tập thể
Trang 4-Tôn giáo xuất hiện: là một hình thái ý thức nảy sinh dưới chế độ công xã nguyên thủy Lúc ấy, lao
động sản xuất còn ở trình độ rất thấp kém Con người cảm thấy mình bất lực trước thiên nhiên, sinh lòng mê tín thần linh, ma quỷ Ðó chính là nguồn gốc và cơ sở của tôn giáo
-Nghệ thuật: Nguồn gốc chung của nghệ thuật nguyên thủy là thực tiễn lao động sản xuất của con
người Nó là hình thức biểu hiện nhận thức, tình cảm và tư tưởng của con người qua thực tiễn lao động, chứ không phải hoàn toàn về mục đích thẩm mỹ, vì nghệ thuật mà có sáng tác nghệ thuật Nghệ thuật thời đó chỉ là do yêu cầu của đời sống thực tế mà có Mục đích của nó là nhằm phục vụ sản xuất Hội họa, điêu khắc, âm nhạc, ca hát, nhảy múa, trang sức, v.v đều gắn chặt với sinh hoạt tập thể của mọi thành viên trong thị tộc
4 Ý nghĩa cội nguồn và các thành tựu chủ yếu của Văn Lang Âu Lạc
-Ý nghĩa cội nguồn:
+Sau một thời kỳ dài định cư và phát triển nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước trên vùng đồng bằng màu mỡ của các con sông lớn như song Hồng, sông Mã, song Cả ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ những cư dân Việt hay Lạc Việt đã xây dựng cho mình một quốc gia, một nền văn minh riêng có tính bản địa sâu sắc và được mệnh danh là văn minh Văn Lang Âu Lạc
+Những thành tựu của nền văn minh Văn Lang Âu Lạc thể hiện ở tất cả các mặt hoạt động của người Việt Nó cũng thể hiện khá rõ tính bản địa Dù ở các lĩnh vực khác nhau nhưng vẫn phản ánh khá rõ tính chất nông nghiệp lúa nước gắn liền với nó là châu thổ của những đồng bằng lớn
+ Thời gian tồn tại phát triển không dài, từ năm 179 TCN cho đến đầu thế kỷ X, nền văn minh đó không những chưa có điều kiện nâng cao và hoàn thiện mà còn bị vùi dập, xóa bỏ mạnh mẽ của nền văn minh phương Bắc Mặc dù vậy người Việt sau này vẫn luôn tìm cách bảo vệ các di sản của tổ tiên,xem nền văn minh Văn Lang Âu Lạc là cội nguồn văn hóa dân tộc
* Các thành tựu chủ yếu của Văn Lang-Âu Lạc
- Về chính trị xã hội:
+ Để duy trì trật tự xã hội, an ninh xóm làng, chống lũ lụt và chống lại các cuộc xâm lấn của các bộ tộcphía Bắc thì đòi hỏi phải có một tổ chức quản lý Như vậy Hùng Vương lên ngôi vua đặt nhà nước là Văn Lang Đưa bộ lạc Việt sang một thời đại mới Các đời vua Hùng Vương, đời đời cha truyền con nối
+ Bộ máy chính quyền trung ương đơn giản: chia làm 15 bộ, mỗi bộ có nhiều làng bản hay chạ, do chức vụ bồ chính chông coi Làng, chạ là những vùng kinh tế độc lập, có sinh hoạt riêng của mình Giàlàng là lớp người giữ vai trò quan trọng trong Làng, Chạ
+ Quản lý đất nước theo tục lên cổ truyền “dân không nói dối”, “buộc nốt dây mà làm chính sự”
+ Nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa thể hiện trình độ phát triển của người Việt.Yêu cầu về trang phục
- Về sinh hoạt và trang phục:
+ Nhà ở phần lớn là mái cọ hay rơm rạ, có cầu thang ở cửa tường bằng tre, nứa trong nhà có chỗ giữ thóc lúa, dưới sàn là chỗ nuôi trâu, bò, lợn, gà…
Trang 5+ Trang phục: phụ nữ thì mặc váy, mặc yếm tóc ít khi để xõa mà được búi lên đỉnh đầu hoặc tết.Có lúc buộc một cái khăn nhỏ vào chân đuôi tóc Nam thường cởi trần đóng khố, đầu cạo trọc Người Việt
cổ thích trang sức bằng đá, vỏ ốc…
- Về đạo đức, tín ngưỡng, lễ hội:
+ Phong tục nhuộm răng đen là một hình thức chống sâu răng cùng với tục ăn trầu được phổ biến từ đời này sang đời khác
+Tục chôn người chết sớm hình thành Cùng theo đó là các nghi lễ được tiến hành nghiêm túc Và cũng chon theo người chết các công cụ sản xuất, các sở hữu cá nhân
+Lễ hội là một hoạt động vừa có ý nghĩa tín ngưỡng vừa có ý nghĩa sinh hoạt vui chơi
Tóm lại những tín ngưỡng, lễ hội, tập tục của người Việt Cổ đánh dấu một cuộc sống mới vui tươi, tậpthể, hòa hợp Tuy nhiên bên cạnh những nét chung nó cũng có những sinh hoạt văn hóa của riêng mình
- Về nghệ thuật:
+ Nghệ thuật điêu khắc tinh tế và bước đầu đạt tới trình độ mô tạp hóa Trống đồng lsf sản phẩm tiêu biểu của nghệ thuật trang trí và kĩ thuật đúc đồng đương thời Mỗi chiếc trống đồng có cách trang trí khác nhau, mặc dù vẫn giữ được những nét đặc sắc chung
+ Nghệ thuật xây thành: hiện nay theo nghiên cứu thành có hai vòng hình bầu dục, cao khoảng 12m, chân được kè đá vững chãi, có hai thành là hành trong và thành ngoài,chu vi thành ngoài khoảng 8km tất cả dều được đắp bằng đất
+ Âm nhạc đương thời rất phong phú Con người không chỉ dừng lại ở ca hát nhảy múa mà còn có các cuộc đua tài (đua thuyền) Cho mọi người cảm thấy vui khỏe sau những ngày lao động vất vả
5 Nêu những thành tựu của nền văn hóa Đông Sơn
Văn hóa Đông Sơn là một nền vă hóa cổ từng tồn tại ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và Bắc Trung
Bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực đền Hùng), và ba con sông lớn và chính của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông
Mã, sông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và đồ sắt sớm
-Nền văn minh lúa nước:
+Điều kiện đồng bằng sông Hồng là nơi rất thích hợp cho lúa nước
+Trong di chỉ khảo cổ cho thấy một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong phú, vào giữa và cuối thờ kỳ Đông Sơn đã xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ đồng đã chuyển sang các loại vật dụng trang trí
và tinh xảo hơn
+Lưỡi cày và di cốt trâu, bò nuôi chứng minh một trình độ luân canh định cư của cư dân Đông Sơn dẫn đến có một lượng thặng dư về thực phẩm
-Công nghệ luyện kim và sự hoàn hảo về công nghệ đúc đồng
Thuật luyện kim phát triển khi ở Việt Nam có những mỏ vàng, đồng, chì, bạc… nhỏ, nằm lộ thiên thuận lợi cho khai thác để phát triển
+Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, giai đoạn cực thịnh của thời đại Hùng Vương thì thấy trong thành phần hợp kim đồng, tỷ lệ đồng và thiếc giảm xuống và tỷ lệ chì tăng lên Việc sáng tạo ra loại hợp kimmới này không phải là ngẫu nhiên mà là xuất phát từ những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật của cả một thời kỳ lịch sử Trong các giai đoạn trước Đông Sơn hợp kim đồng chủ yếu dùng để chế tạo các đồ nghề, đòi hỏi có tính năng kỹ thuật sắc bén, bền chắc Đến giai đoạn Đông Sơn, đồng chuyển mạnh
Trang 6vào lĩnh vực đồ dùng hằng ngày; các loại thạp, thố, trống đồng đòi hỏi sản xuất nhiều Những đồ vật này lại cần phải trang trí đẹp, phức tạp và như vậy cần hợp kim có tính năng dễ đúc để dễ dàng tạo nêncác chi tiết tinh xảo sắc nét trong khi đúc Vì vậy mà người Việt cổ sử dụng hợp kim đồng - thiếc - chì.+Mặt khác, hợp kim mới với 3 thành phần chính có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn, do đó giảm bớt những khó khăn trong việc nấu và đúc, và như vậy, người Việt cổ lúc đó đã bước đầu biết đến mối quan hệ giữa thành phần và tính chất của hợp kim, mà thuật ngữ khoa học kỹ thuật luyện kim hiện đại
gọi là điểm nóng chảy thấp.
+Ta còn thấy ở các giai đoạn Đông Sơn thành phần kim loại còn thay đổi theo chức năng của đồ nghề.VD:
-Mũi tên đồng ở Cổ Loa có: đồng: 95%, chì: 3,4-4,2%, kẽm: 1-1,1% Tỉ lệ này đảm bảo độ cứng lớn nhất
-Lưỡi giáo Thiệu Dương có: đồng: 73,3%, thiếc: 13,21%, chì:5,95% để đảm bảo cho vũ khí vừa dẻo vừa bền
+ ở thời kỳ Đông Sơn công cụ lao động phục vụ cho nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển Cuối thời kỳ Đông Sơn công cụ sắt tương đối phổ biến
-Thành tựu văn hóa, nghệ thuật:
+Các sinh hoạt văn hóa của cư dân Đông Sơn được mô tả khá phong phú trên các hoa văn rất sắc nét của trống đồng
+Nghệ thuật Đông Sơn cho ta thấy sự cảm nhận tinh tế của các cư dân thời đó qua khả năng chạm khắc, tạo hình tinh tế và một đời sống ca múa nhạc phong phú Hình chạm khắc trên tống đồng Đông Sơn cho ta thấy những hình người thổi kèn, các vũ công đầu đội mũ lông chim trĩ, chim công (một loàichim đặc sắc phương Nam nhiệt đới), nhà sàn của cư dân vùng nhiệt đới Đông Nam Á bộ sưu tập về các loài chim cổ mà ngày nay nhiều trong các số loài đó đã tuyệt chủng
+Đồ dùng Đông Sơn gồm có các loại thạp, có nắp hay không nắp, với những đồ án hoa văn trang trí phức tạp, những thổ hình lẵng hoa có chân đế và vành rộng, các loại gùi, vò, ấm, lọ, chậu Qua đó làm chứng cứ về một xã hội phức tạp trên cơ sở các đại gia đình, các dòng họ trong cộng đồng làng xã.+Người Đông Sơn trang sức bằng các loại vòng tay, vòng ống ghép, nhãn, hoa tai, móc đai lưng, bao tay, bao chân, ví dụ như bao tay và bao chân tìm thấy ở di tích Làng Vạc, Nghệ An
+Nghệ sĩ tạc tượng Đông Sơn để lại cho chúng ta nhiều loại tượng người, tượng thú vật như cóc, chim,
Người Việt yêu cuộc sống đầm ấm làng xã, thích định cư dài lâu và có truyền thống coi trọng mồ mả của tổ tiên, họ ít phiêu lưu, chinh chiến, yêu hòa bình, yêu ca hát, lễ hội, nhảy múa
Người Việt trọng ngày mất là dịp cúng dỗ hơn ngày sinh Nhà nào cũng thờ Thổ công là vị thần trông coi gia cư, giữ gìn hoạ phúc cho cả nhà Làng nào cũng thờ Thành hoàng là vị thần cai quản che chở cho cả làng
Trang 7+ Người Việt có tập tục ăn trầu, nhuộm răng đen và sống hài hòa với thiên nhiên.
Ở đây ta cũng nhắc đến vài nét chính của nghệ thuật chôn cất người chết Mộ thuyền là một cách chôn cất khá độc đáo của người Việt cổ thuộc văn hóa Đông Sơn Các nhà khảo cổ đã phát hiện khi nắp quan tài bật mở, người ta thấy tất cả bùn đất tích tụ từ thiên niên kỷ I TCNphủ kín hiện vật Khi lớp bùn được gạt ra, nhóm khai quật nhìn thấy người chết đặt nằm ngửa, thân bó vải, hai tay để xuôi, chân duỗi thẳng
-Kỹ thuật quân sự và nghệ thuật chiến tranh:
+Vũ khí: Đông Sơn rất phổ biến, đa dạng về loại hình, độc đáo về hình dáng và phong phú về số lượng Các nhà khảo cổ học tìm thấy sự độc đáo về mũi tên như Mũi tên Cổ Loa, mũi tên ba cạnh Mũitên ba cạnh có sức sát thương lớn
+Thành quách: chuyển từ vùng trung du về đồng bằng Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bướctiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn Thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn
-Xã hội ngày càng phát triển, phân hóa phức tạp.Có sự phân hóa giàu nghèo.
6 Những thành tựu chủ yếu của Chăm Pa
-Người Champa: có gốc người da đen, mắt sâu, tóc quăn, mũi hếch Y phục: dùng mảnh vải quấn quanh người từ phải sang trái, mùa đông mặc áo dài Những người quý tộc hoặc vua thường đi giày
da Bối tóc, phụ nữ bối thành h́ình cái bầu; xâu lỗ tai, đeo hoa tai bằng kim loại.Người Chăm Pa sử dụng ngôn ngữ malayo-polynesian Ngoài ra còn có 2 tộc người cùng chủng tộc với người ChamPa là Djarai, Rado Theo như truyền thuyết, trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột thường được giải quyết để duy trì sự thống nhất của đất nước thông qua hôn nhân Bên cạnh người Chăm, chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa cũng có cả các tộc người thiểu số gốc và Mon-khme và ở phía Bắc Chăm Pa cũng có cả người Việt
* Những thành tựu chủ yếu của người Chăm Pa:
- Kinh tế: Ban đầu đã có một số giả thuyết cho rằng người Chăm nên kinh tế của Chăm Pa dựa trên sự cướp bóc bằng đường biển là chủ yếu giống như Srivijaya Mặc dù trong thế kỷ XVIII-XIX đã có không ít tù nhân được mua về ở Chăm Pa Sau này các nhà khoa học đã tìm ra rằng cư dân Chăm Pa lànhững thương nhân rất giỏi, nhờ vào địa hình có rừng và biển nên trong thời kỳ này Chăm Pa đã có một mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng là cây Trầm.Trong thời kỳ này, người ta đã biết lấy bông ra dệt vãi bông và đã đạt được một trình độ phát triên cao, chỉ được dùng để cống phẩm cho những nước lớn hoặc những gia đình giàu có, nhà vua mới được sử dụng trong mùa đông
- Kiến trúc: Từ Đèo Ngang vào đến Phan Thiết, có thể bắt gặp những ngôi tháp Chăm nhiều tầng, phíatrên mở rộng và thon vút như hình bông hoa Mặt tường ngoài của tháp được chạm khắc hình hoa lá, chim muông, vũ nữ cùng với đường nét tinh xảo Tháp Chăm là công trình kiến trúc tôn giáo của vương quốc Chăm Pa cổ xưa, mang đặc trưng của kiến trúc Ấn Độ giáo Cho đến hôm nay, màu gạch vẫn đỏ tươi như mới Hoa văn được chạm khắc, gọt đẽo ngay trên gạch, một điều ít thấy có trong kỹ thuật xây dựng và kiến trúc Đặc biệt hơn hết là ở giữa các viên gạch không có mạch, lấy dao tích vào cũng không lạch được vào mạch xây, tiêu biểu cho những công trình này như:Tháp Po Nagar (Khánh Hòa), Tháp Po Sha Inư (Binh Thuận)
Trang 8- Tín ngưỡng: Theo như sử sách, Indravarman là vị vua Chăm đầu tiên theo Phật Giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức Ở trung tâm của Indrapura, đã xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara)
để thờ bồ tát Lokesvara (Quan Thế Âm) Di tích này đă bị hủy hoại trong chiến tranh Việt Nam, chỉ còn lại một số hình ảnh và bản vẽ từ trước chiến tranh
7 Những thành tựu chủ yếu của Đại Việt
1 Thời Lý - Trần - Hồ
- Tôn giáo tín ngưỡng
Đặc trưng của tôn giáo tín ngưỡng thời Lý – Trần là sự dung hòa tam giáo Nho – Phật – Đạo, còn gọi là chính sak tam giáo đồng nguyên Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, phật linh, tục thờ Mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn vs Đạo giáo đã đk tự do phát triển và khuyến khik
Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong XH thời Lý – Trần, đk coi như 1 quốc giáo Hầu hết các vua Lý và nhiều vua Trần đều sùng Phật, sai dựng chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sak Phật Nhiều chùa chiền đk xây dựng khắp nơi như chùa Diên Hựu, Phật Tích, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc, Phổ Minh, cụm quần thể chùa tháp ở Yên Tử Đông đảo quần chúng bình dân trog làng xã nô nức theo đạo Phật
Cùng tồn tại vs đạo Phật nhưng Nho giáo thời Lý - Trần đã có xu hướng phát triển ngược lại Trong khi thế lực Phật giáo có chiều hướng suy giảm dần thì thế lực Nho giáo lại ngày càng tăng tiến Nho giáo đk du nhập vào VN từ đầu thời Bắc thuộc dưới 1 phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế Đến thời Lý – Trần, nó đã trở thành 1 nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho vc xây dựng 1 thiết chế quân chủtập quyền Do vậy, các nhà vua sùng phật thời Lý – Trần vẫn cần đến 1 sự bổ trợ của Nho giáo
Thời Lý Nho giáo đk nhà nc chấp nhận nhưng vẫn giữ 1 vị trí khá khiêm tốn Qua thời Trần, Nho giáo và Nho học có phần khởi sắc hơn Các vua Trần cố gắng dung hòa Phật – Nho trog đường lối trị
nc Cuối thời Trần, quá trình Nho giáo hóa đời sống chính trị - xã hội đã diễn ra 1 cak quanh co, phức tạp Ở làng xã quá trình ấy lại càng mờ nhạt hơn Họ vẫn sống theo những phong tục cổ truyền, chưa
bị ràng buộc bởi những wuy phạm Nho giáo
Trong khuôn khổ những cải cak của mình nhằm xây dựng 1 nhà nc trung ương tập quyền mạnh, Hồ Quý Ly đã đẩy mạnh quá trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt như cho dịch và chú giải các Kinh thư, Kinh thi, mở trường Nho học ở các địa phương và tổ chức thi Hương Tuy nhiên đây là 1 thứNho giáo thực dụng, ko giáo điều và có phần sáng tạo độc lập, dung hợp vs những tư tưởng Pháp gia nhằm nâng cao hiệu quả công vc trị nc
- Giáo dục khoa cử
Đầu thời Lý, nền giáo dục ĐV có thể chủ yếu là Phật học Cũng như Nho giáo, giáo dục khoa
cử Nho học ngày càng phát triển Năm 1070, Văn Miếu đk thành lập Thời Lý – Trần, Nho học phát triển từ trên xuống dưới nhưng còn khá hạn chế
Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ ở thời Trần, Quốc Tử Giám vs những tên gọi ms đã đk củng cố và mở ra đối tượng học tập
Cùng vs giáo dục, khoa cử ở ĐV đã có từ thời Lý Năm 1075 mở khóa thi Minh kinh bác sĩ Nho học đầu tiên Tuy nhiên, Nho học và khoa cử thời Lý vẫn chưa ổn định Các kỳ thi Thái học sinh đời Trần đk tổ chức quy củ và thường xuyên hơn, 7 năm 1 kỳ Quy trình và nội dung khoa cử đời Trầnlúc đầu gồm 4 kỳ, lần lượt là các bài thi: ám tả cổ văn, kinh nghĩa và thơ phú, chiếu chế biểu và đối
Trang 9sak Năm 1937, Hồ Qúy Ly cải cak thi cử Nội dung của 4 kỳ thi bỏ ám tả cổ văn và đk sắp xếp lại: kinh nghĩa, thơ phú, chiếu chế biểu và văn sak Đồng thời, bắt đầu tổ chức thi Hương ở địa phương.
Khoa cử đk tiếp tục dưới triều Hồ Hồ Hán Thương đã tiếp tục cải cak thi cử, đưa thêm vào môn toán và viết chữ
- Văn học nghệ thuật
Văn học thời Lý – Trần phản ánh những tư tưởng tình cảm của con ng thời đại, nhìn chug mag nhiều yếu tố tik cực, lạc quan cảu những vương triều đang ở thế đi lên Có 2 dòng văn học chính: văn học Phật giáo và văn học yêu nc dân tộc
Tư tưởng Phật giáo trog thơ văn Lý – Trần chủ yếu là tư tưởng của phái Thiền tông bao gồm các tác phẩm về triết học và những cảm hứng Phật giáo 1 số nhà vua và quý tộc sùng Phật đã biên soạn những tác phẩm về giáo lý nhà Phật 1 số cuốn sak cùng vs những bản kinh Phật giáo, đã đk nhà
nc đem khắc in
Dòng thơ văn yêu nc dân tộc cũng đã giữ 1 vị trí rất quan trọng trong thơ văn Lý – Trần Nó phản ảnh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc, lòng trung quân ái quốc cũng như lòng tự hào dân tộc qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Tinh thần dân tộc cũng đã đk thể hiện trog các bộ quốc sử Nổi tiếng là bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, đk coi là bộ chính sử đầu tiên của VN
Một thành tựu quan trọng của văn học Lý – Trần là phổ biến chữ Nôm vừa mag tính dân tộc vừa mag tính dân gian, cải biến và Việt hóa chữ Hán Thời Lý, người ta có thể tìm thấy 1 số dấu vết chữ Nôm trên 1 số chuông đồng và văn bia Chữ Nôm cũng đk phổ biến trog dân gian như 1 số câu vè châm biếm cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa và vua Champa Chế Mân
bị hủy hoại qua chiến tranh
Thành nhà Hồ là công trình kiến trúc đồ sộ và độc đáo = đá, diện tik khá rộng, ngoài thành có lũy đất trồng tre gai, sát thành có hào nc sâu bảo vệ Trog thành còn có 1 số di vật như các viên gạch đắp hoa, rồng đá, sấu đá
Cùng vs thành quak, thời Lý – Trần còn có các khu lăng mộ và phủ đệ Nhà Lý có khu sơn lăng ở Đình Bảng (Bắc Ninh), nhà Trần có khu lăng mộ ở Long Hưng (Thái Bình) và An Sinh (Đông Triều) vs nhiều tượng đá khắc họa hình ng và muông thú
Chùa tháp là kiến trúc Phật giáo đặc biệt thời Lý – Trần 1 số ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, quy mô lớn Chùa Diên Hựu ở Thăng Long mô phỏng hình ảnh 1 đóa hoa sen mọc trên hồ nc Chùa Phật Tích, Long Đội và quần thể chùa Yên Tử đều đk xây dựng trên núi cao, cảnh trí kỳ vĩ
Điêu khắc và đúc tạo hình thời Lý – Trần có cá loại tượng, chuông, vạc, các bức phù điêu Các bức phù điêu đời Lý – Trần phần lớn đều chạm khắc các hình tượng Phật giáo, hình tượng các tiên nữ múa hát, các hình tượng rồng uốn khúc
- Mỹ thuật, nghệ thuật
Đồ gốm hình dáng đơn giản, thanh thoát Có các loại men đàn màu nâu, men hoa lam và loại men ngọc trắng xanh nổi tiếng
Trang 10 Nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc thời Lý – Trần phát triển phog phú, chịu ảnh hưởng của cả nghệ thuật Nam Á và Đông Á, đk biểu diễn rộng rãi trog dân gian cũng như đk ưa chuộng trog sinh hoạt cug đình.
Múa rối nc là môn nghệ thuật đặc sắc phát triển từ thời Lý Trog các lễ hội, có nhiều trò vui tạp
kỹ mang tính dân gian như đấu vật, chọi gà, cờ ng, bơi chải,đánh đu, leo dây, đá cầu
- Khoa học kỹ thuật
Y học cổ truyền: Nổi tiếng vs danh y Tuệ Tĩnh – tác giả của bộ nam dược thần hiệu
Kỹ thuật xây dựng và tính toán đạt đến trình độ cao trog các công trình thành quak, cung điện, chùa tháp
Thiên văn lịch pháp: Đăng Lộ đã sáng chế ra “Linh lung nghi” – 1 dụng cụ chiêm nghiệm chính xác thiên văn khí tượng, là ng đã đổi lịch Thụ thời ra lịch Hiệp kỷ
Hồ Nguyên Trừng đã sáng chế ra loại thuốc súng thần cơ sang pháo đúc = đồng, chuyên chở trên xe, có bầu nhồi thuốc và lỗ đặt ngòi
2 Thời Lê
- Giáo dục khoa cử
Chế độ đào tạo nho sĩ đk xây dựng theo xu hướng rất chính quy Đối tượng học của Quốc Tử Giám và 1 số trường tư có phần cởi mở hơn so vs thời trc Ko những con em quý tộc quan lại đk đi học đi thi mà cả con em bình dân cũng đk đi học đi thi
Chế độ thi cử của nhà Lê khá quy củ Từ 1422 trở đi, cứ 3 năm 1 lần tại kinh thành có kỳ thi Hội, tại địa phương có kỳ thi Hương Triều đình đặt ra lễ xướng danh, lễ vinh quy và khắc tên ng thi
đỗ tiến sĩ vào bia đá dựng ở Văn Miếu Hệ thống quan lại của nhà Lê hầu hết đều đk tuyển lựa qua thi
cử, chỉ có số ít là quý tộc, tôn thất
- Tư tưởng tôn giáo: Nho giáo đã nhanh chóng chiếm 1 ưu thế trog đời sống tư tưởng so vs các tôn giáo khác Nho giáo thời Lê chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo đời Tống Phật giáo, Đạo giáo bịlấn át, nhất là Phật giáo bị mất vị trí ưu thế của mình ở thời Lý, Trần Chính sak độc tôn Nho giáo của nhà Lê gặp ko ít sự phản kháng trog dân gian
- Tổ chức đời sống XH phải ghi nhận ở thời này là luật Hồng Đức Bộ luật này đk thi hành đến cuối thế kỉ XVIII, về sau có bổ sug thêm 1 số điều, tổng cộng là 721 điều, chia làm 6 quyển, 16
chương Bộ luật này thật ra bao gồm cả luật hình sự, luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự và tố tụng Tất cả đều đk trình bày dưới dạng QPPL
- Văn học chữ Nôm vẫn ko ngừng phát triển Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi vs 254 bài thơ là thơ chữ Nôm cổ nhất hiện còn Ngoải ra, còn khá nhiều tác giả thể hiện đk lòng tự hào dân tộc, khí phak anh hùng Về phương diện khoa học cũng có những tác giả tiêu biểu nhủ Lương Thế Vinh vs Đạithành toán pháp, Vũ Hữu vs Lập thành toán pháp
- Nghệ thuật: 1 số loại hình ca múa nhạc vẫn tiếp tục phát triển Tuồng chèo là 2 thê loại sân khấu đã đạt đến sự ổn định về mặt nghệ thuật
- Kiến trúc điêu khắc: Hình tượng con rồng thời Lê đã chuyển hóa khác vs con rồng thời Lý – Trần, Con rồng thời Lê đầu to, khỏe, có sừng và lông gáy tua tủa, có chân 5 móng quặp vào, trở thành biểu tượng cho quyền uy của phog kiến
8 Trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta đã dùng những biện pháp gì để chống chính sách đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc?
Trang 11Trog lịch sử cổ đại, TQ là 1 nc lập quốc sớm và trở thành 1 trog những trug tâm văn minh lớn của phương Đông Từ cuối thế kỷ thứ III TCN TQ trở thành 1 nc phog kiến thống nhất Từ đó nhiều triều đại TQ đã bành trướng sag các nc xug quanh và phát triển thành 1 đế chế lớn, đất rộng, ng đông Quá trình dựng nc của TQ gần như đi đôi vs quá trình bành trướng vs hệ tư tưởng làm nền tảng của chủ nghĩa bành trướng là thuyết “bình thiên hạ” Đây là thuyết học chính trị đk khoác màu tôn giáo nhằm biện hộ cho hoạt động bành trướng Sau khi đánh bại An Dương Vương, Triệu Đà nhập nc Nam Việt Bắt đầu thời kỳ dân tộc VN chịu ak thống trị phog kiến Trog hơn 100 năm xâm lược và đô hộ nc ta, các triều đại phog kiến phương bắc đã thực hiện nhiều chính sak và biện pháp đồng hóa nhân dân , biến nc ta thành 1 bộ phận đất đai của TQ Vs chính sak đồng hóa như vậy, nhân dân ta đã có những biện pháp để chống lại, thoát khỏi sự đàn áp, áp bức của ách đô hộ phog kiến
- Chính sak về tư tưởng: Vs sự du nhập của 3 lại tôn giáo Nho – Phật – Đạo, đầu công nguyên
ng VN tiếp nhận = tâm thức của mình, thik nghi và bản địa hóa nhưng cơ bản chỉ tiếp thu 1 số nghi lễ, triết lý phù hợp vs tâm hồn ng nông dân VN Dưới ak thống trị phog kiến, vs tinh thần quật khởi, bất khuất, các tầng lớp nhân dân Âu Lạc, từ ng dân thường, quân sĩ đến quan lại, hào trưởng đã liên tục đứng lên chống lại ak đô hộ khắp các nơi từ đồng = cũng như miền núi, những cuộc khởi nghĩa dù nhỏhay lớn, dù lâu hay mau, dù thành công hay bị đàn áp đã tỏ ra khí phak ngoan cường và khẳng định bản lĩnh trường tồn của 1 dân tộc anh hùng Sau 1000 năm bắc thuộc, chẳng những dân tộc ko bị đồng hóa mà trái lại làm cho nền văn hóa ngày càng phog phú, đa dạng thể hiện bản lĩnh của ng Việt
- Văn hóa chính trị: Ng VN tiếp thu Nho giáo ko phải như gáo nc lạnh xối trên cát khô mà là có phê phán, chọn lọc từ Nho giáo những gì là tinh túy nhất để bổ sug, phát triển, làm giàu cho nền văn hóa truyền thống của mình Trog quá trình đấu tranh chống lại âm mưu của các triều đại phog kiến, các thủ lĩnh ng Việt qua các thế hệ đa trưởng thành lên rất nhiều về tư duy chính trị, ý thức tổ chức nhà
nc Mô hình nhà nc kiểu Hán đã đk các thế hệ thủ lĩnh ng Việt tiếp thu và học tập ở 1 mức độ nhất định và lấy làm hình mẫu xây dựng nhà nc riêng của ng Việt Xu hướng đấu tranh giành lại chủ quyền
và xây dựng nhà nc theo mô hình Hán ngày càng đk củng cố và nâng cao thành lý luận Đây chính là thành tựu tư duy của dân tộc để chống lại chính sak của kẻ thù, đồng thời nó là điểm kế thừa và phát triển sáng tạo của dân tộc Việt
- Văn hóa sản xuất: Trog quá trình tiếp xúc vs văn hóa Hán, dưới áp lực của cưỡng bức hoặc cũng có thể là tự nguyện ng Việt cổ thấy hay, thấy có lợi thì làm theo
Trog nông nghiệp: công cụ = sắt, kỹ thuật dùng trâu bò làm sức kéo ngày càng phổ biến, nhờ
đó diện tik đất trồng trọt ngày càng mở rộng, các công trình thủy lợi có điều kiện phát triển Nhân dân
ta còn biết bón phân để tăng độ phì nhiêu cho đất Trải qua quá trình lâu đời từ 1 nền nông nghiệp thâm canh, tổ tiên ta đã phát triển trồng 2 muà lúa từ rất sớm
Trog thủ công nghiệp: nhân dân ta vốn nổi tiếng khéo tay, thành thạo trog lĩnh vực thủ công nghiệp từ lâu đời Vì vậy, khi giao lưu dã có thêm bước tiến đáng kể và nhiều ngành ms ra đời do học hỏi nc ngoài: kỹ thuật rèn sắt, nghề gốm phát triển Từ chỗ tiếp thu kỹ thuật làm giấy của TQ, nhân dân ta đã chế tác những loại giấy tốt, chất lượng có phần hơn giấy sản xuất ở mền nội địa TQ Bên cạnh đó, nghề dệt và nghề đan lát là nghệ phụ quan trọng và phổ biến của nhân dân ta
- Văn hóa sinh hoạt: biểu hiện rõ trog văn hóa sinh hoạt của dân tộc ta là sự bảo tồn tiếng ns của dân tộc, tiếng mẹ đẻ và xây dựng hệ thống ngôn ngữ văn học vs thành quả mà tổ tiên ta làm đk thật là
kỳ diệu Nhân dân ta đã tiếp thu ảnh hưởng của Hán ngữ độc đáo và sáng tạo, đã Việt hóa những từ ngữ ấy = cak dùng, cak đọc, tạo thành lớp từ sau này gọi là Hán – Việt Qua thời bắc thuộc, nhân dân
Trang 12ta đã chấp nhận văn tự hán, lắp rắp chữ hán để tọa nên chữ Nôm Nhiều tục lệ cổ truyền khác vẫn đk giữ gìn như tục cạo tóc hay búi tóc, xăm mình, chôn cất ng chết trog quan tài hình thuyền hay thân câykhoét rỗng, tục nhuộm răng, ăn trầu cau
Đời sống vật chất của ng dân Việt thể hiện lối sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nc trên 1 địa hình sông nc của vùng nhiệt đới gió mùa Bên cạnh kinh tế nương rẫy là sự phát triển của nông nghiệp lúa nc, nghề chăn nuôi, nghề gốm, nghề luyện kim từ thấp đến cao, trog đó nghề trồng lúa nc đóng vai trò chủ đạo Nguồn lương thực chính là gạo, chủ yếu là gạo nếp Về nhả ở, nơi cư trú chủ yếu
là nhà sàn Phương tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là phương tiện duodwngf thủy
Đời sống tinh thần : Cư dân thời vua Hùng ko chỉ đã đạt đến trình độ thẩm mỹ, tư duy khá cao
mà còn xác lập đk lối sống VN, truyền thống VN, đặt cơ sở vững vàng cho toàn bộ sự tồn tại và phát triển của dân tộc về sau Thời ký bác thuộc hơn 1000 năm, các chính quyền phương Bắc tìm mọi cak xóa mờ lịch sử cảu dân tộc ta, làm cho dân tộc ta quên mất nguồn gốc của mình Nhưng thông qua vănhọc truyền miệng lòng tự hào về tổ tiên đk ghi đậm thêm mãi truyền thống yêu nc thương nòi xây dựng khối đoàn kết gắn bó mật thiết vs nhau Chính vì vậy liên tục những cuộc khởi nghĩa có tính dân tộc diễn ra đã hâm nóng chủ nghĩa yêu nc ko dứt Chủ nghĩa yêu nc còn đk thể hiện qua tình cảm xóm làng Ttog làng, ng Việt đã có lối tư duy hợp lưỡng đã trở thành nhân tố quan trọng quyết định thế ứng
xử, phương thức sống, nhân sinh quan của ng Việt Đó là lối sống dung hòa, dung hợp, chấp nhận mọi yếu tố trái ngựơc nhau trên nguyên tắc cùng tồn tại, ko loại trừ nhau Bên cạnh đó còn hình thành ý thức đạo đức đặc trưng của dân tộc mình Đó là cơ sở để tiếp tục phát triển tư duy: phog tục tôn kính
và biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên; coi trọng vai trò cảu ng phụ nữ trog XH, tôn kính những anh hùng, những ng có công vs dân vs nc Ng Việt đã có những phog tục, tập quán, tín ngưỡng và ngôn ngữ riêng định hình nên bản lĩnh Việt và có lối sinh hoạt văn hóa phog phú, mag đậm tính chất nông nghiệp lúa nc
9 Chứng minh tính sáng tạo của nhân dân ta trong quá trình tiếp thu những thành tựu của Văn hóa Trung Hoa
Tính sáng tạo của nhân dân ta trog quá trình tiếp thu những thành tựu của văn hóa Trung Hoa
- Tư tưởng, tư duy văn học: Chúng ta tiếp nhận 3 dòng tư tưởng Nho - Phật -Lão Nhưng sự tiếp nhận này có quá trình phức tạp và ko phải đồng thời mà ở trog những hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau Nguyên nhân khiến ng Việt chấp nhận 3 luồng tư tưởng này là vc bộc lộ sự quan tâm sâu sắc đến đời sống con ng, đến XH, có nhiều điểm tương đồng gần gũi vs những đạo lý cổ truyền của dân tộc Việt Ng Việt tiếp thu Phật giáo vì giáo lý nhân từ nhưng cũng là muốn tìm 1 đối tượng với văn hoá Hán trog hoàn cảnh bị áp bức, bị mất chủ quyền, phải sống ức chế nhiều mặt, và cũng là để dung hoà các mối mâu thuẫn trog XH đồng thời chứng tỏ bản lĩnh của mình: ko tiếp thu những thứ của kẻ thù trong tư thế bị áp bức , bị áp đặt khi giành được quyền tự chủ nhưng giáo lý nhà phật vẫn tỏ ra hữudụng trog việc bình ổn các mối quan hệ XH đồng thời là 1 sự thừa nhận vai trò quan trọng của phật giáo trog việc giành lại độc lập cho nc nhà
- Về văn tự: chất chất liệu tạo tác văn, thơ, chúng ta sử dụng chữ Hán Các nhà nho đọc sử, truyện, Chiến quốc sách, học từ thơ ngũ kinh và sáng tác văn thơ trực tiếp = chữ hán
- Về quan niệm văn học, mỹ học: Tiếp nhận quan niệm những cái hay cái đẹp, tiếp nhận nhiều quan niệm về văn học của truyền thống Trung Hoa như quan niệm văn dĩ tải đạo,thi sĩ ngôn chí , các quan niệm về văn, quan niệm đề cao chữ tâm Sự tiếp nhận văn học Trung Hoa của các thi nhân Việt
là sự tiếp nhận có chọn lọc, chỉ lựa chọn những gì phù hợp với điều kiện lịch sử, cần thiết với cuộc
Trang 13sống của mình, giàu truyền thống văn hoá.Sự tiếp thu chọn lọc này diễn ra trong mọi thàng tố của hệ thống văn học Chúng ta nỗ lực tiếp thu văn hoá, văn học Hán Ở đây, ng Việt đã thức nhận rõ ràng tính ưu việt của văn hoá, văn học Hán đối với sự phát triển, xây dựng 1 đất nước tự chủ và khả năng
bù đắp những tinh hoa của nguời Hán Trog quá trình tìm kiếm những khả năng bù đắp những thiếu hụt của dân tộc từ bên ngoài, ng Việt đã chấp nhận văn hoá, văn học Hán trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc để củng cố xây dựng văn hoá, văn học của mình, thế nhưng những thành tựu văn hoá, văn học từ bên ngoài như thế cộng đồng dân tộc Việt cũng ko thụ động sử dụng những thành tựu văn hoá
ấy mà luôn ý thức rõ ràng những gì mình tiếp nhận đk và nỗ lực cải biến, sáng tạo thêm, nỗ lực việt hoá của dân tộc Trước tiên là phải nói đến chữ Hán làm hệ thống văn tự chính viết = chữ Hán, sử dụng chữ Hán làm văn, làm thơ Nhưng ng Việt lại suy nghĩ bằng ngôn ngữ Hán Việt, đọc chữ Hán theo âm Hán Việt - Đường âm và bị ảnh hưởng bởi ngữ âm tiếng Việt Đó là một nửa của sự sáng tạo
Sự sáng tạo ko chỉ dừng ở đấy, mà ng Việt đã biến đổi âm, biến đổi từ vựng, kết cấu, biến đổi về nghĩacủa chữ Hán theo tinh thần Việ , phục vụ cho đời sống phong phú phúc tạp của ng Việt
- Chữ viết: các mối quan hệ XH theo tư tưởng thân ái ,bình đẳng ko còn tỏ ra thik hợp khi mà mâu thuẫn XH ngày càng phát triển đến đỉnh điểm Thực tế lịch sử đòi hỏi cần phải có sự thay đổi trong tư duy để tạo ra một sự cải biến sáng tạo của người Việt, đặc biệt có 1 ý nghĩa to lớn trong đời sống XH Là dựa trên cơ sở chữ Hán và theo ngữ âm tiếng Việt, ng Việt đã sáng tạo 1 loại chữ ms: chữ Nôm Chữ Nôm là 1 văn tự có hệ thống và có căn cứ khoa học Đó là 1 thứ chữ ghi âm Chữ Nôm xuất hiện với tư cách là 1 văn tự dân tộc, nhưng do sức ép truyền thống văn hoá Hán quá lớn, nên ko thay thế chữ Hán, ko thể dùng trong những vấn đề quốc gia dân tộc, trog các văn kiện đối nội, đối ngoại Đây là 1 ứng xử khôn kheó của ng Việt khi phải sống bên cạnh 1 nước lớn Mặc dù vậy, ng Việt
đã sử dụng chữ Nôm - chữ quốc ngữ để sáng tạo nên 1 nền văn học bên cạnh 1 nền văn học = chữ Hán Sự ảnh hưởng của thơ Đường cũng là 1 ảnh hưởng mà ta tiếp nhận và sáng tạo Xét 1 số phương diện nền văn học chữ Nôm còn tỏ rõ sự vượt trội đối với văn học chữ Hán ở mặt số lượng lẫn chất lượng Dùng chữ Nôm để sáng tạo văn học có sự góp mặt của cả những vị vua và quần thần của họ: Nguyễn Trãi vs Quốc Âm thi tập, vua Lê Thánh Tông và các quân thần vs Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, và đặc biệt vs sự hiện diện của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Vc đưa chữ Nôm trở thành 1 thứ văn tự chính trog XH, đk nhà nc thừa nhận trước toàn quần chúng nhân dân của Nguyễn Huệ , là sự thể hiện của bản sắc ,bản lĩnh dân tộc, vừa đáp ứng được nhu cầu của thời đại, là 1
vc làm đích đáng song đáng tiếc, cuối cùng Nguyễn Huệ ko thực hiện được vai trò cầm lái của mình
- Hình ảnh con rồng cũng đk ng Việt áp dụng vào kiến trúc và qua các triều đại nó liên tục đk sáng tạo và thay đổi
Thời Lý: Rồng thời Lý thường ngẩng cao đầu, miệng há to, mép trên của miệng ko có mũi 1 chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cog và vắt qua vòi mép ở trên Thân rồng dài, dọc sống lưng có 1 hàng vảy thấp, đầu vây trc tua vào hàng vây sau Bụng đốt ngắn, có 4 chân, mỗi chân có 3 ngón phía trc, ko có ngón chân sau Hình dáng thân rồng thể hiện theo lối nhìn nghiêng, uốn lượn mềm mại Các khúc uốn lượn phình to và co lại gần nhau, đặt xuôi, đặt ngược đều đặn, liên tục thu dần
về đuôi
Thời Trần: Từ nửa cuối thế kỷ XIV, rồng đã rời khỏi kiến trúc cung đình để có mặt trog các kiến trúc dân dã, ko những có ở trên gốm và đá mà còn xuất hiện trên điêu khắc gỗ ở chùa, bậc thềm Đầu xuất hiện cặp sừng, đôi tai và những chi tiết mới Rồng có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng ko uốn nhiều khúc, miệng rồng há to Thân rồng to mập, khoẻ chắc, khúc nới ra uốn lượn đều đặn hình
Trang 14sin thu dần về đuôi Nổi rõ phong cách với những hình khối, đường nét mập khỏe, tinh lọc giản dị, vững chãi mà không nặng nề, không tĩnh của cốt cách truyền thống.
Thời Lê: Đầu rồng to, có 2 nhánh sừng nhô cao, mắt lồi, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là 1 chiếc mũi to Lưng rồng nhô hình vây nhọn theo khúc uốn Cổ rồng nhỏ hơn thân, 1 tay Rồng cầm lấy râu, răng nanh đk kéo dài lên phía trên và uốn xoắn thừng ở gốc Chân rồng chạm 5 móng sắc nhọn, các hình xoắn trang trí bên thân rồng, kết hợp vs mây đao lửa Đó là mô túyp trag trí điển hình mang đặc trưng thời Lê Hình tượng rồng trag nghiêm, râu bờm và sừng nổi cao dũngmãnh uy quyền
Thời Mạc: Thân rồng mập, uốn lượn đều đặn, bờm kéo dài uốn theo xuống nửa lưng, mây đao lửa điểm xuyết trên thân, sóng cuộn dưới bụng, chân ngắn, lông khuỷu sợi đơn uốn xoắn Đầu rồng có sừng hai chạc, hai mắt lồi, mũi sư tử, mồm thú nhô ra phía trước Các chân rồng thường chạm 4 móng
Thời Nguyễn: Ở thế kỷ XIX hình tượng con Rồng còn giữ những nét đẹp do kế thừa tinh hoa truyền thống, có độ uốn lượn đều đặn, chau chuốt, phần lớn là thanh mảnh và tinh tế Rồng đk thể hiện
ở nhiều tư thế: ẩn mình trog đám mây, ngậm chữ thọ, 2 rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc Chỏm đầu thường bẹt, nổi vừa phải Mắt là hai u tròn, mũi gồ, miệng hé lộ răng nanh nhọn Sừng 2 chạc cong ra phía sau Tóc nhiều chẽ xoè kiểu nan quạt và hơi lượn sóng Thân rồng chạm vẩy, hàng vây lưng hình tam giác nhô cao nhọn Đuôi rồng lượn sóng, chân Rồng có 2 cặp trước và sau, các móng thường chõe
ra Rồng trong cug vua thường chạm 5 móng Rồng thành bậc kiến trúc thân mập, khúc uốn thấp
- Ngoài ra còn có những sáng tạo về lịch 12 con giáp (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và các con vật linh theo luật phog thủy (sư tử đá, sư tử đồng, gà đồng, gà gốm
sứ, rùa, long quy, long thần tọa, kỳ lân, tỳ hưu, ngựa đồng, voi, chó)
10 Những thành tựu chủ yếu của văn hóa Óc Eo
Nền văn hóa Óc Eo là 1 nền văn hóa cổ trên châu thổ sông Cửu Long từ thế kỉ I đến thế kỉ VII SCN, đk khám phá dựa vào những di vật đầu tiên mà nhà khảo cổ học ng Pháp - Louis Malleret khai quật đk tại gò Óc Eo (xã Vọng Khê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) vào năm 1944 Óc Eo là tên gọi
mà ông đền nghị đặt cho 1 địa điểm thuộc huyện Thoại Sơn, nằm ở phía nam tỉnh An Giang Khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập – Ba Thê, đk xem là “Thành cổ Óc Eo” – 1 đô thị mang đặc điểm của 1 thành phố ven biển vs tiền cảng Tà Keo (Cạnh Đền) Văn hóa Óc Eo là sản phẩm vật chất của Vương quốc Phù Nam – quốc gia cổ đại hùng mạnh ở cùng ĐNA
Ng Óc Eo trồng trọt trên nhiều loại thổ nhưỡng khác nhau, chủ yếu là trồng lúa Lúa có nhiều loại,
có lúa hạt dài, hạt tròn, lúa bản địa, lúa hoang dại Lúa đk gieo ở ruộng rẫy hay ruộng trũng Hình thành những trang trại lớn, vườn tược, kênh đào Ngoài trồng lúa, cư dân Óc Eo còn trồng mía, dừa, cau và nhiều loại cây quả khác Hoạt động chăn nuôi thuần dưỡng khá phát triển
Qua phát hiện và nghiên cứu, văn hóa Óc Eo đạt đk những thành tựu lớn ở lĩnh vực kỹ thuật, điêu khắc, kiến trúc, thương mại và giao lưu văn hóa:
1 Kỹ thuật
- Nấu thủy tinh: Hàng loạt các di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang mang về hàng vạn hiện vật đá,
mã não, thạch anh, thủy tinh đk chế tác thành vòng, nhẫn, bông tai, dây chuyền, hạt chuỗi dùng làm
đồ trang sức vs nhiều màu, kik cỡ, kiểu dáng khác nhau Thủy tinh là chất liệu ng Óc Eo đã tự chế tác
đk Hiện vật trang sức thủy tinh Óc Eo trong đó có nhẫn và các hạt chuỗi luôn đk đánh giá cao về thẩm
mỹ, kể cả đến bây h
Trang 15- Luyện kim: Vc khai quật hàng loạt di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang mang về hàng vạn hiện vật có giá trị, trog đó có nhiều hiện vật và trag sức bằng vàng, bạc, thiếc, kim hoàn Khu vực còn những dấu tik cho thấy các khu sản xuất đồ nữ trang, các hình khối dùng để rót kim loại, nét tài hoa của thợ kim hoàn thể hiện rõ trên đồ trag sức.
2 Đồ gốm
- Đồ gia dụng: gồm bình, hũ, nồi, nắp, bát, cốc, chai và cả bếp lò Bình gốm có nhiều loại, loại nào cũng có vòi Bếp lò là vật dụng quen thuộc và rất cần thiết của cư dân sống ở vùng ven biển và sông rạch, trên nhà sàn hay ghe xuồng Bếp lò gốm đã xuất hiện trong các di tik cư trú và cả trog mộ táng từ thời tiền sử ở lưu vực sông Vàm Cỏ-Đồng Nai và trở thành vật đặc trưng của văn hoa Óc Eo
- Vật liệu xây dựng và vật trang trí kiến trúc: Gạch là 1 vật liệu xây dựng, các viên gạch đk trag trí = các hình sư tử, rắn mang bành, động vật 1 sừng và các động vật khác Còn phù điêu là vật trag trí kiến trúc Cả gạch và phù điêu đk làm = đất nung, là những di vật chủ yếu trog các di tik kiến trúc đền tháp của văn hóa Óc Eo
3 Điêu khắc
- Tạc tượng: Tượng thờ Bàlamôn và Phật giáo đk tạc = đá và = gỗ, 1 số ít = đồng, đk tìm thấy trog nhiều di tik và rải rác trên khắp vùng Nam Bộ Có những pho tượng Phật bằng gỗ khá lớn và độc đáo như sưu tập tượng gỗ ở di tik Gò Tháp Những hiện vật này thuộc giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật điêu khắc văn hóa Óc Eo tương ứng vs thời kì Hinđu giáo và Phật giáo thịnh hành từ thế kỷ V đến thế kỷ VII Phong cak điêu khắc vừa phản ánh rõ nguồn gốc ảnh hưởng từ nghệ thuật Ấn
Độ vừa thể hiện xu hướng bản địa hóa Truyền thống nghệ thuật này còn đk duy trì và phát triển trong giai đoạn sau, từ thế kỷ VIII trở đi mà ng ta gọi là giai đoạn hậu Óc Eo
- Chạm trổ: Đáng chú ý là các lá vàng dập nổi hình mặt ng, chạm khắc tạo hình hoa văn trag trí Cũng có những con dấu và nhẫn bằng vàng, bạc, hợp kim thiếc, bề mặt khắc hình ng, động vật Ngoài
ra còn có 1 số bia đá chạm khắc = dạng chữ Phạn cổ thế kỷ V Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật điêu khắc là từ thế kỷ V đến thế kỷ VII Sự đa dạng về loại hình và hình thức thể hiện xu hướng hiện thực-bản địa hóa các hình tượng linh thú, thần thoại, tôn giáo (Ấn Độ giáo và Phật giáo) mặc dù chịu ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Độ Truyền thống nghệ thuật tượng cổ ở Nam Bộ còn đk duy trì
và phát triển trog giai đoạn sau, từ thế kỷ VIII trở đi
4 Kiến trúc
- Đền tháp: đk xây = gạch đá Người xưa dùng kỹ thuật xây nền và tường gạch dày đặc, lắp ráp những phiến đá granit lớn bằng mộng, chốt Vật liệu xây dựng gồm gỗ, gạch, đá Gỗ và đá là nguyên vật liệu cư dân bản địa quen dùng từ thời tiền sử, còn gạch là vật liệu ms do tiếp thu kỹ thuật cuả Ấn
Độ đầu công nguyên Vật liệu đã có kik thước rất lớn, đk lắp ghép kết nối = kỹ thuật chốt Đền tháp theo kiểu Ấn Độ có bình đồ hình vuông, nền móng dày đến hơn 1m xây = gạch, đất sét và đá sỏi để có thể chịu lực của công trình đồ sộ bên trên
- Nhà ở: đk làm = gỗ hay xây dựng = gạch trên 1 nền móng vững chắc Các tòa nhà rộng hơn thì thường xây = gạch Nơi cư trú đất thấp thì cất nhà sàn = gôc trên các cọc và thực hiện 1 hệ thống kênh đào Dấu vết còn quan dát đk trên hiện trường là kênh đào tỏa rộng ở nhiều nơi trên đồng = châu thổ sông Cửu Long
- Mộ táng: đk xây dựng = gạch đá Đó là các huyệt mộ hình vuông, hình chữ nhật hay hình phễu,bên trên ốp gạch hay lát đá tạo thành bề mặt khá = phẳng Các nhà kháo cổ học Việt đã phát hiện đk trog các huyệt mộ có cát trắng lẫn nhiều hiện vật quý giá như các mảnh vàng chạm khắc những biểu tượng của Bàlamôn hay Phật giáo, đồ trag sức, 1 số đồ tùy táng khác
Trang 165 Thương mại
Vào năm 1920, Malleret đã dùng ko ảnh phát hiện ra địa điểm thương mại của Vương quốc Phù Nam 10/2/1944, ông bắt đầu đào các hố khai quật, phát hiện đk các di vật và nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của 1 điểm thương mại lớn mà các thư tịch của Ttrung Hoa đã từng miêu tả
về Vương quốc Phù Nam Khu vực này rộng ước chừng 450 héc-ta Óc Eo đã từng đk nối = 1 kênh đào dài 90 kilômét về phía bắc vs Angkor Borei, nơi có lec từng là thủ đô của Vương quốc Phù Nam Phù Nam đk biết đến trog lịch sử như 1 cường quốc thương nghiệp Từ giữa thế ký III – VI, Phù Nam khống chế nền thương nghiệp hàng hải ở ĐNA và bành trướng lãnh thổ, đem quân đi chinh phục hơn
“10 vương quốc làm phiên thuộc”, tro đó có Lâm Ấp ( Chiêm Thành)
Chính tư tưởng thương mại và chính sak bành trướng lãnh thổ đã tạo ra nạn cát cứ, phân tán quyền lực đưa Phù Nam đến sự suy vong vào thế kỷ thứ VII
6 Giao lưu văn hóa
Lý do quan trọng nhất cho sự thịnh vượng của Óc Eo là do vị trí của nó trên trục đường thương mại trên biển giữa 1 bên là bán đảo Mã Lai và Ấn Độ và bên kia là sông Mê Kông cùng vs Trung Quốc
Văn hóa Óc Eo có những giao lưu vs văn hóa rộng lớn vs
- Văn hóa Đông Sơn:
Hoa văn trag trí, khả năng chạm khắc, tạo hình tinh tế hình những ng thổi kèn, các vũ công đầuđội mũ lông chim trĩ, chim công – 1 loài chim đặc sắc phương Nam nhiệt đới
Kỹ thuật luyện kim, đặc biệt là kỹ thuật đúc đồng Các hiện vật bằng đồng như trống đồng đk đúc 1 cak tinh xảo Trống có kik thước đa dạng, giữa mặt trống là hình ngôi sao, phần nhiều là ngôi sao 12 cánh, xen giữa các cánh sao là họa tiết lông công hoặc những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau Có những hình vẽ thể hiện sinh hoạt của cộng đồng ng Việt cổ như giã gạo, săn bắt, thờ cúng, trẻ em chơi đùa Bao quanh các ngôi sao có hình ng, vật, động vật và hoa văn hình học: đường chấm nhỏ, vành chỉ trơn, hoa văn răng cưa, các chữ của ng Việt cổ
- Văn hóa Ấn Độ: Văn hóa Óc Eo chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ rất đậm nét, thể hiện qua kiến trúc, tín ngưỡng tôn giáo Khoa khảo cổ tìm thấy các tượng thuộc Ấn Độ giáo, Phật giáo, đồ trag sức, hoa văn chạm chim, con dấu, văn tự Ấn Độ Nghệ thuật Phật giáo và Ấn Độ giáo đến đồng = sông Cửu Long thông qua giao lưu trao đổi các vật phẩm chủ yếu = đường biển, góp phần làm giàu thêm văn hóa bản địa và là 1 trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự hình thành, phát triển các trung tâm tôn giáo – văn hóa – kinh tế - chính trị lớn ở cùng đất này trog những thế kỷ đầu công nguyên
- Văn hóa thế giới Địa Ttrung Hải và Trung Đông: huy chương La Mã, hoa văn trang trí, hình chạm chim, tượng đồng, hạt chuỗi La Mã, hình tượng vua Ba Tư
- Văn hóa Trung Hoa: mảnh gương đồng, tượng Phật nhỏ
11 Những thành tựu chủ yếu của văn hóa thế kỷ X, Thăng Long, Trần, Lê, Nguyễn:
1 Văn hóa thế kỷ X
- Nông nghiệp ngày càng ổn định và phát triển
Chia ruộng đất cho nông dân
Khai khẩn đất hoang
Chú trọng thủy lợi
Trang 17 Nhà vua quan tâm đến sản xuất, khuyến khik nhân dân làm nông nghiệp
Đúc đồng tiền đk lưu thông trog nc
Nhiều trug tâm buôn bán, khu chợ đk hình thành
Buôn bán nc ngoài đk mở rộng
- Văn hóa
Đạo phật đk truyền bá rộng rãi
Chùa chiền đk xây dựng nhiều, nhà sư đk coi trọng
Các loại hình văn hóa dân gian khá phát triển
2 Văn hóa Thăng Long
- Giáo dục khoa cử:
Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu, ban đầu đây là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công và các bậc hiền tài, cũng là nơi học tập của các Hoàng Thái tử, mục đik khuyến khik nhân dân trog nc chăm chỉ học hành
Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác sĩ Nho học đầu tiên để tuyển chọn ng tài giỏi ra làm quan
Năm 1076, vua Lý Nhân Tông tiếp tục cho xây Quốc Tử Giám ngay giũa kinh thành, từ đây nền giáo dục đại học nc ta đk khai sinh
Năm 1195, nhà Lý mở khoa thi Tam giáo
Văn học chữ Hán bc đầu phát triển
- Văn học : Đặc điểm nổi bật của văn học đời Lý là lực lượng các nhà sư sáng tác chiếm đa số trên văn đàn Có khoảng hơn 40 nhà sư sáng tác với những tên tuổi tiêu biểu như Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm Các nhà sư đời Lý đã góp phần ko nhỏ vào kho tàng văn học cổ VN Định hướng sáng tác của các nhà sư tuy tập trung thuyết lý cho đạo Phật nhưng vẫn chứa đựng những yếu tố XH tích cực và có giá trị văn học
Bên cạnh đó, bắt đầu từ thời Lý, truyền thống yêu nc trog văn học hình thành và phát triển trog cácgiai đoạn sau Chủ đề yêu nc trog mỗi tác phẩm thể hiện ở những cung bậc trầm hùng khác nhau nhưng ý nghĩa chug nhất vẫn là tiếng nói lạc quan, mang tính thời đại, tiếng nói tự hào của một dân tộcđang vượt qua nhiều thử thách
Dưới hình thức này hay hình thức khác, sự phog phú của văn học thời kỳ này biểu hiện tính chất dung hòa nhất giữa Phật giáo - Nho giáo và các tín ngưỡng dân gian thuần túy của dân tộc Tính chất trang trọng trong ngôn ngữ biểu hiện (chữ Hán), tính uyên bác trog chiều sâu tư tưởng khiến cho văn học đời nhà Lý trở thành 1 đỉnh cao
- Đạo phật rất phát triển
- Hoạt động văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đá cầu, đua thuyền phát triển
- Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc rất phát triển, nhiều công trình nghiên có quy mô lớn và mag tính dân tộc độc đáo
Trang 18 Hoàng thành Thăng Long là một công trình kiến trúc lớn và tiêu biểu cho văn hóa Thăng Long.Thành gồm 2 vòng dài khoảng 25km Trog hoàng thành có những cung điện cao đến 4 tầng Thành đắp = đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa : Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc Trog Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia Trog đời Lý , các kiến trúc trog Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của kinh thành Phía ngoài cùng vs 1 số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp 1 vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu đk xây đắp từ năm 1014 gọi là thành Đại La hay La Thành.
Rồng thời Lý cũng là 1 hình ảnh đặc trưng của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Rồng thời Lý thường ngẩng cao đầu, miệng há to, mép trên của miệng ko có mũi 1 chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cog và vắt qua vòi mép ở trên Thân rồng dài, dọc sống lưng có 1 hàng vảy thấp, đầu vây trc tua vào hàng vây sau Bụng đốt ngắn, có 4 chân, mỗi chân có 3 ngón phía trc, ko có ngón chân sau Hình dáng thân rồng thể hiện theo lối nhìn nghiêng, uốn lượn mềm mại Các khúc uốn lượn phình
to và co lại gần nhau, đặt xuôi, đặt ngược đều đặn, liên tục thu dần về đuôi
- Luật pháp: Hình thư là bộ luật đầu tiên trong lịch sử dân tộc, là cái mốc quan trọng trong lịch
sử pháp quyền VN Nó chứng tỏ rằng bộ máy chính quyền trung ương tập quyền đã có đủ các thiết chếhoàn bị
Về mặt văn bản, bộ luật này ko còn bản gốc nhưng nội dung của nó còn đk ghi chép lại trog sử cũ Căn cứ vào những ghi chép trog sak Đại Việt sử ký toàn thư thì Hình thư là 1 sưu tập luật lệ có tính
pháp quyền.Theo Lịch triều hiến chương loại chí - Văn tịch chí của Phan Huy Chú, thì Hình thư đời
Lý Thái Tông gồm có 3 quyển, bây giờ thất truyền Tuy ngày nay, chúng ta không được đọc bộ Hình thư đời Lý, nhưng qua những pháp lệnh được chép lại trong sử cũ, chúng ta cũng có thể thấy rõ tính
chất của pháp luật thời Lý
Về nội dung, qua những ghi chép còn lại trog sử cũ, bộ luật có những quy định về tổ chức của triềuđình, quân đội và hệ thống quan lại; quy định biện pháp trừng trị đvs những hành vi nguy hiểm cho XH; quy định 1 số vấn đề về sơ hữu và mua bán đất đai, tài sản, quy định về thuế Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, bộ luật Hình thư dk ban hành để khắng định quyền lợi, địa vị của nhà nc phog kiến và giai cấp quý tộc, quan liêu, đồng thời là công cụ để ổn định XH, giữ gìn kỷ cương, bảo vệ sản xuất nông nghiệp
- Tiền tệ: Thời Lý đã xuất hiện vc trao đổi = tiền trog nội thương và ngoại thương, có vai trò quan trọng trog XH
3 Văn hóa thời Trần
- Tôn giáo, tĩn ngưỡng
Phật giáo: đóng vai trò ảnh hưởng lớn, các thiền sư được sự tôn trọng, ko tham gia chính trị Tuy Phật giáo thịnh hành và đk các vua quan tin theo nhưng vì công cuộc xây dựng nhà nc theo môhình Hán Đường của TQ, vc tiếp xúc thường xuyên với văn minh Trung Hoa và vc chống ngoại xâm
đã ko cho phép Phật giáo phát triển thành quốc giáo
Nho giáo hình thành ảnh hưởng trog xã hội qua hệ thống giáo dục và khoa cử Vì văn học mở mag nên lực lượng sĩ phu ngày càng đông Họ noi gương Khổng Tử, Mạnh Tử Các nhà Nho nổi tiếng thời Trần có Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Hàn Thuyên, Chu Văn An
Trang 19- Giáo dục khoa cử: Các kỳ thi Thái học sinh đời Trần đk tổ chức quy củ và thường xuyên hơn,
7 năm 1 kỳ Quy trình và nội dung khoa cử đời Trần lúc đầu gồm 4 kỳ, lần lượt là các bài thi: ám tả cổ văn, kinh nghĩa và thơ phú, chiếu chế biểu và đối sak
- Văn học: nền văn chương chữ Nôm bắt đầu hình thành vs những tác giả và tác phẩm tiêu biểu
Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (thường gọi là Hịch tướng sĩ)
để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thư yếu lược, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2
Binh thư yếu lược: đại ý ghi các điều cốt yếu từ các binh thư về việc dùng binh, giúp các tướnglĩnh và quân sĩ trau dồi khả năng quân sự
Trần Quang Khải
Tòng gia hoàn kinh (còn được biết đến với các tên Tụng giá hoàn kinh sư, Tụng giá hoàn kinh sứ) do Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ 2 Bài thơ đại ý nói về cảm xúc người tướng khi theo xa giá vua trở về kinh đô khải hoàn Hiện còn 2 bản lưu truyền, 1 của Trần Trọng Kim, 1 của Ngô Tất Tố
Phúc hưng viên: Sau khi chiến thắng quân Nguyên, Thượng tướng Trần Quang Khải về hưu lúc tuổi già và nghĩ ngơi tại tư dinh của ông, có vườn riêng tên gọi "Phúc hưng viên" Bài thơ này đại
ý tả cảnh nhàn nhã thời thanh bình Hiện còn 1 bản lưu truyền củaNgô Tất Tố
Lưu gia độ: Bài thơ này đại ý tả cảnh khách qua bến đò Lưu gia, nhớ lại ngày xưa từng hộ tống
xa giá vua có dừng quân nơi đây, nay non sông thái bình, trở lại chốn cũ đầu đã bạc, thấy hoa mai nở trắng xóa như tuyết bên bờ sông Hiện còn một bản lưu truyền của Ngô Tất Tố
Chu Văn An
Thất trảm sớ (bài sớ xin chém bảy quyền thần) : Bài sớ này viết vào đời vua Trần Dụ Tông, khi Chu Văn An làm quan trog triều và chứng kiến 1 số quan lại hủ bại, bèn viết sớ xin vua chém các người này Khi vua không nghe, ông từ quan về hưu và sau đó không còn tham chính
Trương Hán Siêu
Bạch Đằng giang phú(phú sông bạch đằng): Bài này Trương Hán Siêu tả cảnh sông Bạch Đằng, nhắc nhở côg của quân dân nhà Trần đánh quân Nguyên, và khuyên hậu duệ trog nước đời sau nên biết gìn giữ giang sơn
Trang 20 Quốc ngữ thi nghĩa: sách dùng chữ quốc ngữ chua nghĩa Kinh Thi để các giáo sư dạy hậu phi
và cung nhân Sách này Hồ Quý Ly chú giải theo ý mình, không theo lời chú thích trước của Chu Tử
- Khoa học kỹ thuật
Lập ra Quốc sử viện
Năm 1272, bộ Đại Việt sử ký ra đời
Quân sự, y học đạt nhiều thành tựu
Hình tượng con rồng: thân hình to, mập mạp, uốn khúc mạnh mẽ hơn rồng thời Lý Đầu xuất hiện cặp sừng, đôi tai và những chi tiết mới Rồng có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng ko uốn nhiều khúc, miệng rồng há to Nổi rõ phong cách với những hình khối, đường nét mập khỏe, tinh lọc giản dị,vững chãi mà không nặng nề, không tĩnh của cốt cách truyền thống
- Âm nhạc: Ngoài lối hát ả đào đk hình thành từ đời trc, âm nhạc thời Trần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Chiêm Thành và TQ Nhạc cụ gồm có trống cơm, tất lật, đàn tranh, đàn 3 dây và đàn 7 dây, tiêu, sáo… Nhảy múa thường xuyên đk tổ chức trog cug đình và trog dân gian Ngoài chèo, hát ả đào truyền thống khá phổ biến trog dân gian và giới quý tộc
- Luật pháp: Năm 1230, Trần Thái Tông ban hành bộ Quốc triều thông chế gồm 20 quyển, quy
định về tổ chức chính quyền Sau đó qua vài lần sửa chữa bổ sug, nhà Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật
PL thời Trần khẳng định và củng cố sự phân chia đẳng cấp Đại quý tộc trc hết là vua và hoànggia đk PL bảo vệ các đặc quyền, đặc lợi Riêng vs họ hàng nhà Trần nếu phạm tội thì bị xử nhẹ hơn
PL thời Trán xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, đặc biệt là ruộng đất Các tội trộm cắp
bị xử rất nặng Lần đầu mắc tội phạt 80 trượng, thik chám vào mặt 2 chữ “phàm đạo” và phải đền cho chủ, cứ 1 phải đền 9 Nếu ko đền đủ, phải đem gán vợ, con làm nô tì Tái phạm thì bị chặt chân, tay Phạm tội lần 3 thì bị giết
PL thời Trần chú trọng bảo vệ sản xuất nông nghiệp Tiếp tục theo xu hướng PL thời Lý, PL thời Trần cũng có điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thủy lợi Luật nhà nc coi trọng vc xay dựng và sửa chữa đê điều là công vc của toàn dân, kể cả triều đình
- Tiền tệ: Thời Trần Minh Tông, nhà Trần đúc tiền = hợp kim gọi là "diên tiền", đây ko phải là tiền kẽm đơn chất vì sag thế kỷ 19 ms tinh luyện được kẽm
Các đồng tiền nhà Trần qua các đời vua gồm có:
Nguyên Phong thông bảo
Khai Thái nguyên bảo
Thiệu Phong bình bảo, Thiệu Phong nguyên bảo
Đại Trị thông bảo
Thông bảo hội sao: tiền giấy đầu tiên phát hành thời Trần Thuận Tông
4 Văn hóa thời Lê
Trang 21- Tôn giáo tín ngưỡng: Thời Lê, nước Đại Việt chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cùng tín ngưỡng dân gian, trog đó Nho giáo là đậm nét nhất, trở thành tư tưởng chủ đạo của chínhquyền cai trị.
Thờ thần linh: Ngay khi giành thắng lợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi đã quan tâm tới vc sai các quan đi tế lễ thần kỳ ở các núi, sông, miếu xã các nơi trong nước và các lăng tẩm các vua đời trc Năm 1437, Lê Thái Tông tiến hành gia phog cho các thần linh trog nc và tổ chức tế lễ log trọng Sag thời Lê Nhân Tông, triều đình đã cho lập các đàn thờ Thành hoàng tại kinh thànhThăng Long,
thờ thần Gió, thần Mây, thần Mưa, thần Sấm để bảo vệ kinh thành.
Nho giáo: Các vua Lê từ Lê Thái Tổ trở đi rất sùng đạo Nho, dùng đường lối này làm tư tưởng chính thống để cai trị quốc gia Sang thời Lê Thánh Tông, Nho giáo đạt tới đỉnh cao thịnh vượng Lê Thánh Tông đưa Nho giáo lên vị trí hàng đầu trog đời sống văn hóa tinh thần của thời đại Để làm đời
sống tư tưởng của xã hội quy về với Nho giáo, ông đã tìm cách "làm sáng tỏ đạo thánh hiền" khiến
muôn người tin theo
giám sinh lưu trú từ nơi xa đến
Học chế thời Lê mở rộng hơn các thời trước, không cấm con em nhà thường dân đi học như
thời Lý – Trần Tại các lộ đều có trường học, học trò ở đây gọi là Lộ hiệu sinh Chỉ trừ con nhà hát
xướng và người đang bị tội tù đày, con em các nhà lương thiện đều có thể vào học Sag thời Lê Thánh Tông, trường lộ đổi thành trường phủ
Giáo quan giảng dạy tại đây được tuyển từ các nhà Nho địa phương Muốn lên học tại Quốc Tửgiám, học trò ở trường lộ phải qua sát hạch, lấy những Lộ hiệu sinh học xuất sắc nhất, nhì
Ngoài các trường do triều đình mở còn có các trường lớp tư nhân trên khắp toàn quốc do các nhà Nho không đỗ đạt hoặc đã đỗ đạt nhưng thôi làm quan về dạy học
- Chế độ khoa cử: Việc tuyển dụng quan lại vào bộ máy chính quyền có 3 đường:
Đỗ đạt qua thi cử
Nhờ quan lại đề cử có bảo đảm (bảo cử)
Lấy con cháu công thần hưởng tập tước
Trong 3 con đường trên, con đường khoa cử là quan trọng nhất, được triều đình đề cao, chú trọng.Ngay từ năm 1426, khi khởi nghĩa Lam Sơn chưa kết thúc, Lê Lợi tiến ra Bồ Đề đã mở kỳ thi đặc biệt, lấy đỗ 30 người Từ khi nhà Lê chính thức thành lập, việc tổ chức các khoa thi diễn ra đều đặn định kỳ
Có 3 kỳ thi chính và quan trọng nhất là thi Hương, thi Hội và thi Đình
- Văn học: Các thể loại văn học chính thời kỳ này gồm thơ, phú, chiếu,biểu, văn bia, truyện ký, cáo, chính luận Lực lượng sáng tác thời Lê sơ khá hùng hậu và thành tựu sáng tác cũng rất lớn, để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học thời phong kiến của VN
Trang 22Nội dung văn học thời kỳ này khá phong phú, phản ánh đa dạng đời sống chính trị, xã hội, tinh thần đặc biệt có nội dung yêu nc sâu sắc, thể hiện niểm tự hào dân tộc, khí phak anh hùng.
Nguyễn Trãi: được xem là tác gia quan trọng hàng đầu của văn học thời Lê Những tác phẩm được truyền tụng nhiều nhất của ông gồm có:
Bình Ngô đại cáo: viết tháng 3 năm 1427, thuật lại cuộckhởi nghĩa Lam Sơn - quá trình đánh
đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho nước Đại Việt Tác phẩm này được coi là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 trong lịch sử VN
Quân trung từ mệnh tập: Là tác phẩm văn xuôi do Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết trog màn
trướng từ năm 1423 đến 1427, phần lớn là thư từ gửi cho tướng lĩnh nhà Minh trog thời gian chiến tranh và các biểu, dụ Tổng số còn sưu tầm được đến nay là 69 bài
Ức Trai thi tập: tập thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, hiện còn lại 99 bài.
Quốc âm thi tập: Tập thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi, hiện còn 254 bài Đây là tập thơ Nôm cổ
nhất và cũng là mốc đánh dấu bước phát triển của chữ Nôm thế kỷ 15
Lê Thánh Tông
Các tập thơ chữ Hán: Anh hoa hiếu trị (xướng hoạ với con các đại thần khi về thăm Lam Kinh), Chinh Tây kỷ hành (viết trên đường đánh Chiêm Thành năm 1471), Minh lương cẩm tú (xướng hoạ với các văn thần), Quỳnh uyển cửu ca (xướng hoạ với các văn nhân trong hội Tao Đàn), Xuân Vân thi tập (năm 1496), Châu cơ thắng thưởng, Văn minh cổ suý, Cổ kim cung từ thi tập
Lam Sơn Lương thuỷ phú (bài phú miêu tả vẻ đẹp của núi Lam và sông Lương và công trạng
của khởi nghĩa Lam Sơn)
Thơ chữ Nôm: Hồng Đức quốc âm thi tập, và 1 số bài trong Lê triều danh nhân thi tập
- Khoa học:
Sử học: Đại Việt sử ký toàn thư
Địa lý: Dư địa chí
Y học: Bản thảo thực vật toát yếu
Hình tượng con rồng: Đầu to, 2 nhánh sừng nhô cao, mắt lồi, bờm ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, mũi to Lưng rồng nhô hình vây nhọn theo khúc uốn Cổ rồng nhỏ hơn thân, 1 tay rồng cầm lấy râu, răng nanh đk kéo dài lên phía trên và uốn xoắn thừng ở gốc Chân chạm 5 móng sắc nhọn, các hình xoắn trag trí bên thân kết hợp vs mây đao lửa Đó là mô túyp trag trí điển hình mang đặc trưng thời Lê Hình tượng rồng trag nghiêm, râu bờm và sừng nổi cao dũng mãnh uy quyền
- Âm nhạc
Âm nhạc cung đình: Âm nhạc cung đình chỉ chính thức xuất hiện từ thời Lê Thái Tông Bộ nhạc khí cung đình đk Lương Đăng thiết kế gồm: trống cái, bộ khánh, bộ chuông, đàn cầm,đàn sắt, sinh tiêu, quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì, phương hưởng, ko hầu, đàn tì bà, quản địch
Trang 23 Âm nhạc dân gian: Từ năm 1437, khi âm nhạc cung đình của Lương Đăng chính thức được áp dụng thì Lê Thái Tông ra lệnh bãi bỏ trò hát chèo và thôi không tấu các loại nhạc thông tục dân gian - những loại nhạc này bị triều đình gọi là "dâm nhạc”.
Tuy ra khỏi cung đình, hát chèo vẫn là thể loại âm nhạc phổ cập nhất trog đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân thời Lê
- Luật pháp: Quốc triều Hình luật ( Lê triều hình luật ) đk dân gian gọi là Luật Hồng Đức, là bộ luật quan trọng thứ 3, đk ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông năm 1483, trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản PL đã ban bố và thi hành trong các đời vua trc, đk sửa chữa, bổ sug và san định lại cho hoàn chỉnh
Bộ luật này bao gồm 6 quyển, 13 chương, 722 điều
Về nội dung, ngoài những quy định chug, bộ luật đã dành từng chương để quy định các vấn đề cụ thể thuộc nhiều ngành luật: hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, quân sự
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu trog và ngoài nc “Quốc triều hình luật là thành tựu có giá trịđặc biệt quan trọng trog lịch sử PL VN” Đk ban hành trog giai đoạn phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến trug ương tập quyền, Quốc triều hình luật ko chỉ là bộ luật chính thức của VN dưới thời Lê
sơ mà còn đk các triều đại khác sau này sử dụng đến hết thế kỷ XVIII
- Tiền tệ: Từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng, các đời vua đều đặn đúc tiền, chỉ ngoại trừ vua LêTúc Tông chỉ ở ngôi quá ngắn trog 6 tháng, niên hiệu Thái Trinh ko có tiền đúc
Các đông tiền nhà Lê qua các đời vua gồm có:
Thuận Thiên thông bảo, Thuận Thiên nguyên bảo
Thiệu Bình thông bảo
Đại Bảo thông bảo
Thái Hòa thông bảo
Diên Ninh thông bảo
Thiên Hưng thông bảo
Quân Thuận thông bảo
Hồng Đức thông bảo
Cảnh Thống thông bảo
Đoan Khánh thông bảo
Hồng Thuận thông bảo
Quang Thiệu thông bảo
Thống Nguyên thông bảo
Trần Tuân công bảo
Thiên Ứng thông bảo
Trang 24Triều đình thì ở cấp huyện trở lên mới tham gia trog việc giáo dục Thấp nhất là trường huyện có quan huấn đạo (hàng thất phẩm) dạy Lên tới phủ thì quan giáo thụ (hàng lục phẩm) rồi đốc học (hàng
tứ phẩm) ở trường tỉnh trông coi
Kể từ năm 1803 thì ở Huế mở trường Quốc Tử Giám để các con quan và những người trúng tuyển
ở các tỉnh vào thụ giáo các quan tế tửu và tư nghiệp
Sak giáo khoa: Sổ sak dùng trog việc học hành có 2 loại, sách của ng Việt soạn và sách của ng Tàu làm sẵn
Sách riêng của người Việt có cuốn Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân,
và Ấu học ngũ ngôn thi Ngoài ra còn các sách chuyên đề về Bắc sử, Nam sử, cổ thi
- Văn học : Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trog cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du Ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến như bài thơ Bánh trôi nc của Hồ Xuân Hương
Thời Nguyễn sơ: thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long
và các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam
Thời Nguyễn còn độc lập: là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Phan Thanh Giản 2 thể kiểuthơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ
Thời Nguyễn thuộc Pháp: là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào văn chương, các nhà thơ sáng tác nhiều về cảm tưởng của họ đối với quá trình Pháp chiếm Việt Nam Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền
- Khoa học kỹ thuật
Khoa học
Sử học nhà Nguyễn có các thành tựu:
o Tìm kiếm, lưu trữ và cho in lại các tác phẩm sử học của các triều đại trc
o Biên soạn nhiều bộ sử rất lớn và các công trình sử học có giá trị lớn như: Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam Thực lục - Tiền biên và chính biên, Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ phỉ khẩu phương lược, Bản triều bạn nghịch liệt truyện Các nhà sử học cũng cho ra đời nhiều công trình của cá nhân như Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, Sử học bị
khảo của Đặng Xuân Bản, Quốc sử dĩ biên của Phan Thúc Trực nhất là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú Trong đó, Đại Nam thực lục chính biên có tới 587 quyển.
o Các công trình địa phương chí, và gia phả các dòng họ cũng xuất hiện rất nhiều.
o Thể loại Gia Phả thì có Mạc Thị Gia phả của Vũ Thế Dinh
Địa lý: có nhiều tác phẩm địa lý học lớn như bộ Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí doThượng thư Lê Quang Định soạn theo lời của vua Gia Long Sau đó cơ quan Quốc sử quán triều Nguyễn cũng soạn tiếp nhiều công trình khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí
Kỹ thuật:
Trang 25 Thời Gia Long đã từng cho đóng một loại thuyền lớn bọc đồng để tuần tra biển.
Sang đến thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính ms mẻ đã đk chế tạo gồm: máy cưa chạy
= sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy = sức trâu
Năm 1834, Nguyễn Viết Tuý dưới sự đồng ý của vua Minh Mạng đã chế tạo ra chiếc máy
nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuỷ hoả kí tế Sau đó những năm 1837-38, theo mẫu của
phương Tây, thợ thủ công nhà nc đã chế tạo đk máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ = sức nc, máy hút nc tưới ruộng
và cả xe cứu hoả Đặc biệt là năm 1839, dựa theo các kiểu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi
Ngoài ra còn có những thành tựu về kỹ thuật làm đồng hồ, kính thiên lý
vc, nghỉ ngơi, thờ tự của vua, hoàng gia và triều thần như Hoàng Thành, Tử Cấm Thành, Kỳ Đài, Ngọ Môn, Quốc Tử Giám, Tôn Nhơn Phủ, Lục Bộ, Phu Văn Lầu, lăng tẩm của các vị vua
Tử Cấm Thành: vòng thành nằm trog Hoàng Thành ngay sau lưng Điện Thái Hòa Tử Cấm Thành dành riêng cho vua và gia đình vua Tử Cấm Thành đk xây dựng năm 1804 Thành cao 3,72m, dày 0,72m, chu vi khoảng 1.230m, phía trc và phía sau dài 324m, trái và phải hơn 290m, Thành đk xây
= gạch, bao gồm gần 50 cồng trình kiến trúc lớn nhỏ và có 7 cửa ra vào
Hệ thống lăng tẩm
Lăng tẩm Đông Khánh: vừa mag lối kiến trúc phog kiến cổ điển vừa chịu ảnh hưởng của kiến trúc Tây Âu Sự phân tầng này thể hiện rõ ở khu tẩm điện vs lối kiến trúc “Trùng Thiềm Điệp Ốc” Sog trog điện Ngưng Hy xuất hiện hệ thống của kính nhiều màu và những phù điêu = đất nung vs các trag trí rất dân giã như “Ngư ông đắc lợi”, “Gà chọi”
Lăng Gia Long: chu vi hơn 1.000m, trc mặt có núi Đại Thiên thọ làm tiền án, 2 bên tả hữu có
14 ngọn núi, sau là hồ, tiếp đến là sân tế và cuối cùng là Bửu Thành
Lăng Minh Mạng rộng 26ha, gồm 40 công trình nhỏ
Lăng Tự Đức: ngoài mục đik là nơi chôn cất khi qua đời, đây còn là nơi vua đến nghỉ ngơi, đọcsak, ngân thơ nên cảnh quan của lăng tựa như 1 công viên rộng lớn vs tiếng nc chảy, hồ nc thơ mộng,hàng thông xanh mát Lăng Tự Đức có tấm bia lớn khắc bài “Khiêm Cung kí” dài 4.935 chữ do vua
Tự Đức soạn thảo để tự ns về cuộc đời, vương nghiệp cũng những lỗi lầm va sai phạm của mình
Hình tượng con rồng: Ở thế kỷ XIX hình tượng con Rồng còn giữ những nét đẹp do kế thừa tinh hoa truyền thống, có độ uốn lượn đều đặn, chau chuốt, phần lớn là thanh mảnh và tinh tế Chỏm đầu bẹt, nổi vừa phải Mắt là hai u tròn, mũi gồ, miệng hé lộ răng nanh nhọn Sừng 2 chạc cong ra phíasau Tóc nhiều chẽ xoè kiểu nan quạt và hơi lượn sóng Thân rồng chạm vẩy, hàng vây lưng hình tam
Trang 26giác nhô cao nhọn Đuôi rồng lượn sóng, chân Rồng có 2 cặp trước và sau, các móng thường chõe ra Rồng trong cug vua thường chạm 5 móng Rồng thành bậc kiến trúc thân mập, khúc uốn thấp
- Luật pháp: Lúc đầu, nhà Nguyễn chưa có 1 bộ luật rõ ràng Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho cácquan tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất Năm 1811, theo lệnh của Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn 1 bộ luật mới
và đến năm 1815 thì nó đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long Bộ luật Gia Long gồm 398 điều chia làm 7 chương và chép trong một bộ sách gồm 22 cuốn,
đk in phát ra khắp mọi nơi Chương "Hình luật" chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trog khi những chương khác như "Hộ luật" chỉ có 66 điều còn "Công luật" chỉ có 10 điều Trog bộ luật có 1 số điều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền "yêu ngôn, yêu thư”.Tuy nhiên, bộ luật cũng đề cao vc chống tham nhũng và đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc để trừng trị tham quan Tất nhiên, đến các đời vua sau Gia Long, bộ luật này cũng được chỉnh sửa và cải tiến nhiều, nhất là dưới thời Minh Mạng
- Tiền tệ: có loại tiền đồng, tiền kẽm, tiền cấm Đơn vị tiền đk tính = quan Câc đồng tiền do nhà Nguyễn ban hành gồm
Gia Long thông bảo
Minh Mạng thông bảo
Thiệu Trị thông bảo
Tự Đức thông bảo
Tự Đức bảo sao
Kiến Phúc thông bảo
Hàm Nghi thông bảo
Đồng Khánh thông bảo
Thành Thái thông bảo
Duy Tân thông bảo
Khải Định thông bảo
Bảo Đại thông bảo
12 Các bộ luật chính của nc ta trog giai đoạn văn hóa ĐV
1 Thời Lý : Hình thư là bộ luật đầu tiên trong lịch sử dân tộc, là cái mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền VN Nó chứng tỏ rằng bộ máy chính quyền trung ương tập quyền đã có đủ các thiết chế hoàn bị
Về mặt văn bản, bộ luật này ko còn bản gốc nhưng nội dung của nó còn đk ghi chép lại trog sử cũ Căn cứ vào những ghi chép trog sak Đại Việt sử ký toàn thư thì Hình thư là 1 sưu tập luật lệ có tính
pháp quyền.Theo Lịch triều hiến chương loại chí - Văn tịch chí của Phan Huy Chú, thì Hình thư đời
Lý Thái Tông gồm có 3 quyển, bây giờ thất truyền Tuy ngày nay, chúng ta không được đọc bộ Hình thư đời Lý, nhưng qua những pháp lệnh được chép lại trong sử cũ, chúng ta cũng có thể thấy rõ tính
chất của pháp luật thời Lý
Về nội dung, qua những ghi chép còn lại trog sử cũ, bộ luật có những quy định về tổ chức của triềuđình, quân đội và hệ thống quan lại; quy định biện pháp trừng trị đvs những hành vi nguy hiểm cho
Trang 27XH; quy định 1 số vấn đề về sơ hữu và mua bán đất đai, tài sản, quy định về thuế Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, bộ luật Hình thư dk ban hành để khắng định quyền lợi, địa vị của nhà nc phog kiến và giai cấp quý tộc, quan liêu, đồng thời là công cụ để ổn định XH, giữ gìn kỷ cương, bảo vệ sản xuất nông nghiệp
Trong lịch sử, cha ông ta cũng đã có nhiều phương cách để giải quyết khiếu nại, tố cáo, oan sai chonhân dân Vua Lý Thái Tổ, là vị vua đầu tiên của nhà Lý, đã cho xây cung Long Đức ở ngoài Hoàng
thành Thăng Long, cho thái tử Lý Phật Mã ở, để thái tử gần dân, “ý muốn cho thái tử hiểu biết mọi việc của dân”.
Thái tử Lý Phật Mã lên làm vua, là vị vua hiền Lý Thái Tông, rất chăm lo việc giải quyết khiếu kiện, oan trái cho dân Vào năm 1040, vua Lý Thái Tông đã giao việc xét xử kiện tụng của dân cho đích thân thái tử Khai Hoàng Nhật Tôn, dùng điện Quảng Vũ của thái tử làm nơi cho thái tử xử kiện cho dân
Năm 1042, vua Lý Thái Tông cũng cho xây dựng bộ luật Hình Thư đầu tiên của nước ta, quy định phân minh các việc xử phạt, tránh việc làm tùy tiện, nhũng lạm, gây ra oan trái cho dân của các quan
lại Luật Hình Thư quy định người tố cáo đúng tệ nhũng lạm của các quan lại, được “tha phu dịch cho
cả nhà trong 3 năm Người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho bằng hiện vật thu được”.
2 Thời Trần: Có 5 bộ luật quan trọng
Quốc triều thường lễ đk vua Trần Thái Tông ban hành năm 1230, gồm 10 quyển
Quốc triều thông chế cũng đk vua Trần Thái Tông ban hành năm 1230, gồm 20 quyển
Năm công văn cak thức (1290) do vua Trần Dụ Tông ban hành, gồm 1 quyển
Hình luật thư (1341) vua Trần Dụ Tông ban hành, gồm 10 quyển
Hoàng triều đại điển (1341) vua Trần Dụ Tông ban hành, gồm 10 quyển
Sau vài lần sửa chữa và bổ sung, nhà Trần ban hành bộ Quốc triều hình luật (còn gọi là Hình thư) –
bộ luật quan trọng thứ 2 của lịch sử lập pháp VN Về nội dung, ngoài vc kế thừa những quy định có từ thời Lý, bộ luật Hình thư thời Trần đã có những bổ sug và điều chỉnh nhất định, đặc biệt có những quyđịnh về hình phạt, thủ tục tố tụng và chế độ tư hữu tài sản
- PL thời Trần khẳng định và củng cố sự phân chia đẳng cấp Đại quý tộc trc hết là vua và hoànggia đk PL bảo vệ các đặc quyền, đặc lợi Riêng vs họ hàng nhà Trần nếu phạm tội thì bị xử nhẹ hơn.Luật pháp bắt các nô ti phải thik chữ vào trán Nhà Trần lại xuống chiếu bắt gia nô của các vương hầu, công chúa phải tihk chữ mag hàm hiệu của chủ Nếu ko thì bị coi là giặc cướp, nhẹ thì xug làm quan nô, mà nặng thì phải tù Nô tì ko có quyền kết hôn vs quý tộc
- PL thời Trán xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, đặc biệt là ruộng đất Các tội trộm cắp
bị xử rất nặng Lần đầu mắc tội phạt 80 trượng, thik chám vào mặt 2 chữ “phàm đạo” và phải đền cho chủ, cứ 1 phải đền 9 Nếu ko đền đủ, phải đem gán vợ, con làm nô tì Tái phạm tìh bị chặt chân, tay Phạm tội lần 3 thì bị giết
- Ở thời Trần, quan hệ tiền tệ đã công khai bước vào PL Lệ chuộc tội = tiền đk quy dịnh cụ thể: Quan xét xử có quyền lấy tiền “cước lực” ( sức chân) tùy đi xa hay gần, và tiền “bình bạc” (án phí khi xét xử)
- PL thời Trần chú trọng bảo vệ sản xuất nông nghiệp Tieeos tục theo xu hướng PL thời Lý, PL thời Trần cũng có điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thủy lợi Luật nhà nc coi trọng vc xay dựng và sửa chữa đê điều là công vc của toàn dân, kể cả triều đình
3 Thời Lê
Trang 28- Quốc triều Hình luật ( Lê triều hình luật ) đk dân gian gọi là Luật Hồng Đức, là bộ luật quan trọng thứ 3, đk ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông năm 1483, trên cơ sở sưu tập tất cả các điều luật, các văn bản PL đã ban bố và thi hành trong các đời vua trc, đk sửa chữa, bổ sug và san định lại cho hoàn chỉnh
Bộ luật này bao gồm 6 quyển, 13 chương, 722 điều
Về nội dung, ngoài những quy định chug, bộ luật đã dành từng chương để quy định các vấn đề cụ thể thuộc nhiều ngành luật: hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, quân sự
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu trog và ngoài nc “Quốc triều hình luật là thành tựu có giá trị đặc biệt quan trọng trog lịch sử PL VN” Đk ban hành trog giai đoạn phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến trug ương tập quyền, Quốc triều hình luật ko chỉ là bộ luật chính thức của VN dưới thời Lê
sơ mà còn đk các triều đại khác sau này sử dụng đến hết thế kỷ XVIII
Nội dung cơ bản:
Cak tân về tổ chức bộ máy chính quyền:
Về mặt hành chính, nhà vua đã kiên quyết và kiên trì cải tạo bộ máy chính quyền từ TW đến địa phương
Đời Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Bộ Đời vua Lê Lợi chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Bộ Lê Thánh Tông
tổ chức thành 6 bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công
Giữ cho đất nc luôn ở thế phòng bị đvs quân xâm lược nc ngoài:
Trog bộ luật Hồng Đức có nhiều điều quy định rõ trak nhiệm bảo vệ đường biên, vùng biển, cửa quan Có nhiều điều quy định rõ về vc xử phạt đvs các hành vi xâm phạm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ: “Ng trốn qua cửa quan ra khỏi biên giới đi sang nc khác thì bị chém” hoặc “ Những ng bán ruộng đất ở bờ cõi cho ng nc ngoài thì bị chém:
Giữ nghiêm kỷ cương phép nc:
Khi ban hành dụ “Hiệu định quan chế”, nhà vua đã ns rõ: “Từ nay con cháu ta nên biết thể chế này ban hành là do vc bất đắc dĩ 1 khi pháp độ đã định, nên kính giữ noi theo Chớ có cậy thông minh, bànxằng triều trc mà sửa đổi làm cho pháp điển ngửa nghiêng để tự hãm vào điều bất hiếu”
Vua Lê Thánh Tông đặc biệt đề cao trak nhiệm của quan lại Ông ns: “Các quan viên là những ng gân guốc của xóm làng nhờ đó mà chính đk phong tục Vậy phải lấy lễ, nghĩa, liêm, sỉ mà dạy dân khiến cho dân xu hướng về chữ nhân, chữ nhượng, bỏ hết lòng gian phi để cho dân đk an cư, lạc nghiệp, giàu có đông đúc, mình cũng đk tiếng là ng trưởng gỉa trog làng”
Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội
Vua Lê Thánh Tông đặc biệt coi trọng vc đắp đập, tu sửa đê điều để đề phòng bão lụt Trog bộ luật Hồng Đức có 2 điều quy định khá tỉ mỉ về vấn đề này: “Vc sửa đê những con sông lớn bắt đầu từ ngàymùng 10 tháng giêng, ng xã nào ở trog đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trog 2 tháng đến ngày mùng 10 tháng 3 thì làm xog Những đường đê ms đắp hạn trog 3 tháng phải đắp xog Quan lộ phải năng đến xem xét, quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày Nếu ko cố gắng làm để quá hạn mà ko xog thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm Quân lính và dân binh ko theo thời hạn đến làm và ko chăm chỉ sửa đê để quá hạn ko xog thì bị trượng hoặc biếm
Mở rộng giao lưu, khuyến khik thương nghiệp lành mạnh
Vua Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng: “Trog dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hóa, mở đường giao dịch cho dân Các xã chưa có chợ có thế lập thêm chợ ms Những ngày họp chợ ms ko đk trùng hay trc ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng giành khak hàng của nhau”
Trang 29Chợ đk mở mag nhiều, trug tâm buôn bán ở nồn thôn còn lưu lại đến ngày nay Chợ phiên là nơi mua bán sâm uất, có nhiều mặt hàng nhất.
Nhờ sự quan tâm đến vc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ Các nghề thủ công như dệt lụa, ươm tơ, dêt vải, nghè mộc, nghề chạm, nghề đức đồng cũng phát triển.Dưới thời vị trì vua Lê Thánh Tông hàng hóa từ kinh đôThăng Long về các nơi trug tâm buôn bán các địa phương trog cả nc luôn luôn tấp nập
Bảo vệ quyền sỏ hữu tài sản của công dân, trừng trị nghiêm khắc những hành vi ức hiếp, đục khoét dân lành của quan lại
Trog bộ luật Hồng Đức đã có nhiều điều luật quy định vc trừng phạt những hành vi vi phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt ruộng đất của ng nông dân như: ttanh giành đất đai trái vs chúc thư, nhận bừa ruộng đất của ng khác, hà hiếp, bức hại để mua ruộng đất của ng khác, tá điền cấy
rẽ mà trở mặt ăn cướp, xâm lấn bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ giới mốc, chặt cây trog khu mộ địa của ng khác, cấy trộm vào phần đất đag tranh chấp mà đánh ng để gặt lấy lúa má, cấy rẽ ruộng công hay tư,
ko báo cho chủ mà tự tiện đến gặt, các nhà quyền quý chiếm đoạt ruộng đất ao đầm của nhân dân từ 1 mẫu trở lên thì xử tội phạt, từ 5 mẫu trở lên thì xử tội biếm Quan tam trở xuống thì xử tăng thêm 2 bậc và phải bồi thường như luật định”
Bộ luật Hồng Đức còn có tất cả những điều quy định nhằm bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất cho trẻ
em và ng già như: “Chồng chế con còn nhỏ, vợ tái giá mà bán điền sản của con, cha mẹ còn sống mà bán trộm điền sản, ng trog họ tự tiện bán ruộng của đưá cháu mồ côi đều bị xử phạt”
Bênh vực và bảo về quyền lợi phụ nữ
1 số điều trog bộ luật quy định: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng ko đi lại (vợ đk trình vs quam
sở tại và quan xã làm chứng) thì mất vợ Nếu vợ đã có con thì hạn 1 năm Vì vc quan đi xa nên ko theoluật này Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản ng khác lấy vợ của mình thì phải tội biếm” Cùng vs mục đik bênh vực phụ nữ, còn có quy định: “Con gái hứa gả chồng ma chưa thành hôn nếu ng con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá gía tài sản thì cho phép ng con gái kêu quan mà trả lại đồ lễ Nếu ng con gái bị
ác tật hay phạm tội thì ko trả lại đồ lễ, trái luật thì phạt 80 trượng” hoặc “Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái nhà lương dân thì xử tội phạt biếm hay đồ”
Khuyến khik nuôi dưỡng thuần phog mỹ tục
Trog bộ luật Hồng Đức còn có những điều đặt ra vs mục đik để bảo vệ thuần phog mỹ tục Để khuyến khik tình thương yêu đông loại, đòng tộc, đồng bào có quy định các điều như: “Thôn, phường phải giúp đỡ kẻ ốm đau ko nơi nương tựa, phải chôn cất những ng chết đường”; “phải chăm sóc ng cô quả tàn tật ko nơi nương tựa”, “bắt đk tre lạc phải báo quan”, “có ng chết đường, dân sở tại phải chôn cất”
Chính sak hình sự nghiêm nhưng độ lượng
Tính nghiêm minh trog chính sak hình sự ở bộ luật Hồng Đức trc hết đk thể hiện ở chỗ các tội ác nào đk coi là tội nặng Các tội đk coi là tội ác gồm 10 loại “Thập ác” : mưu phản, mưu đại, mưu chốngđối, ác nghịch, bất đạo, địa bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nổi loạn
Như vậy theo chính sak hình sự của vua Lê Thánh Tông đã đk thể hiện trog bộ luật thì ngoài các tộixâm phạm đến an ninh quốc gia, xâm phạm đến quyền lợi cả nhà vua thì các loại tội xâm phạm đến thuần phong mỹ tục như: bất đạo, bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, lọan luân cũng đk coi là những tội ác, thường bị xử phạt vs hình thức cao nhất là tử hình
13 Khái quát về giáo dục, khoa cử trong nền văn hoá Đại Việt.
Trang 30Giáo dục, khoa cử thời Lý
Giáo dục, khoa cử Đại Việt thời Lý trong lịch sử Việt Nam phản ánh chế độ giáo dục và khoa cử nước Đại Việt từ năm 1010 đến năm 1225.
Giáo dục
Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng nhà Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long, đắp
tượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối 72 người hiền của đạo Nho Năm 1076 , vua Lý Nhân Tông lập
ra Quốc Tử Giám
Trường học tư đầu tiên được xác nhận là trường Bái Ân của Lý Công Ân - một tông thất nhà Lý không ra làm quan mà ở nhà dạy học
Tuy nhiên, trong những năm đầu, hệ thống trường học chưa nhiều Có hai dạng trường lớp:
Một là những người biết chữ nhưng đi thi không đỗ đạt, mở lớp dạy học để kiếm sống hoặc tầng lớp quan lại hoặc những người đã đỗ đạt, vì nhiều lý do đã về nhà (nghỉ hưu, bị sa thải, từ
quan, ) mở lớp dạy cho con em mình hoặc những người thân thích
Hai là các trường học tồn tại trong các chùa do các nhà sư giảng dạy (không chỉ dạy Phật giáo
và truyền đạt cả kiến thức Nho giáo)
Sách vở chủ yếu trong hệ thống đào tạo là Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Nam sử và sách của bách gia chư tử Tuy nhiên, do ảnh hưởng đậm nét của Phật giáo và một phần của Đạo giáo, Nho giáo chưa có
vị trí độc tôn như sau này Các trường lớp còn dạy nhiều kiến thức về Phật giáo và Đạo giáo Chữ viết chính thức trong giáo dục vẫn kế tục các đời trước là chữ Hán
Khoa cử
Cùng việc mở Quốc Tử Giám, nhà Lý quan tâm tới việc tổ chức thi cử để lựa chọn nhân tài mà các triều đại trước đó chưa thực hiện Khoa thi đầu tiên được nhà Lý tổ chức vào tháng 2 năm 1075, niên hiệu Thái Ninh thời vua Lý Nhân Tông, gọi là thi Minh kinh bác học Việc mở khoa thi Nho giáo đầu tiên đánh dấu mốc về việc nhà Lý chính thức tuyển người theo Nho giáo làm quan bên cạnh tầng lớp
quan lại thiên về kiến thức Phật giáo trước đó Trong kỳ thi thứ tư, thí sinh phải viết luận về chủ đề Y quốc thiên (thiên trị nước) và thiên tử truyện (truyện đế vương).
Các khoa thi không hỏi riêng về kiến thức một lĩnh vực Nho giáo đơn thuần mà hỏi cả về Phật giáo
và Đạo giáo, vì vậy đòi hỏi người ứng thí các khoa thi phải thông hiểu kiến thức cả 3 đạo này mới có thể đỗ đạt Việc tổ chức thi Tam giáo (Phật, Nho, Đạo) chính thức được thực hiện năm 1195 dưới triềuvua Lý Cao Tông Thi cử bằng cả Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo phản ánh tam giáo đồng nguyên khá phổ biến vào thời Lý
Giáo dục, khoa cử thời Trần
Giáo dục và khoa cử thời Trần trong lịch sử Việt Nam phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử nước Đại Việt từ năm 1226 đến năm 1400
Hệ thống giáo dục
Khi Phật giáo được nhà Trần coi trọng và thịnh hành, Nho giáo đóng vai trò thứ yếu Tuy nhiên Nho học cũng từng bước thâm nhập vào xã hội qua hệ thống giáo dục Sách học chính được quy định gồm có Ngũ Kinh, Tứ Thư, Bắc sử
Ban đầu chỉ có nhà chùa là nơi dạy chữ Nho và các sách sử Sau này, nhiều nhà nho và thái học sinh không làm quan, về nhà dạy học Hệ thống trường lớp tại các địa phương được hình thành Một trong những người thầy xuất sắc nhất là Chu Văn An
Chế độ khoa cử
Trang 31Sau khi thành lập không lâu, nhà Trần bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi đầu tiên Năm 1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi.
Năm 1255, nhà Trần đặt lệ lấy 2 trạng nguyên: 1 kinh trạng nguyên dành cho các lộ phía bắc và
1 trại trạng nguyên dành cho Thanh Hóa và Nghệ An để khuyến khích việc học của phương nam
Năm 1275 lệ này bãi bỏ vì không cần thiết nữa
Năm 1304, triều đình quy định rõ nội dung thi 4 trường:
Trường 1: thi ám tả cổ văn
Trường 2: thi kinh nghi, kinh nghĩa, thơ phú
Trường 3: thi chế, chiếu, biểu
Trường 4: thi đối sách
Sau đó triều đình mở kỳ thi Đình để phân hạng cao thấp cho thái học sinh
Năm 1396, Trần Thuận Tông ban chiếu quy định cách thức thi Hương, thi Hội bằng thể văn 4 kỳ,
và định rõ: "Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, người đỗ thì vua ra một bài văn sách để xếp bục" Lệ thi 4 trường được quy định lại như sau:
Trường 1: thi kinh nghĩa
Trường 2: thi thơ phú
Trường 3: thi chế, chiếu, biểu
Trường 4: thi văn sách
Những người đỗ đạt được bổ nhiệm vào chức vụ ở viện Hàn lâm, các cơ quan hành khiển, sung vàocác phái bộ sứ thần hoặc tiếp sứ phương Bắc Họ trở thành bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước, có những đóng góp quan trọng trọng lĩnh vực chính trị, ngoại giao như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát , …
Giáo dục, khoa học thời Lê sơ
Giáo dục khoa cử thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa
cử nước Đại Việt từ năm 1427 đến năm 1527.
Hệ thống trường học
Vua Lê Thái Tổ chú trọng đến việc đào tạo nhân tài cho đất nước ngay sau khi lên ngôi Ông ra lệnh cho các trấn trong nước đều phải xây trường học, mở mang nền giáo dục trong nước
Tại kinh đô có Quốc tử giám và nhà Thái học Học trò ở đây là con em quan lại và những người có
học lực hạng ưu tú tuyển chọn trong dân Thầy dạy trong Quốc tử giám gọi chung là Giáo quan, bao
gồm các quan văn trong triều hoặc những người có học vấn uyên bác trong xã hội
Học chế thời Lê mở rộng hơn các thời trước, không cấm con em nhà thường dân đi học như
thời nhà Lý, nhà Trần Tại các lộ đều có trường học, học trò ở đây gọi là Lộ hiệu sinh Chỉ trừ con nhà
hát xướng và người đang bị tội tù đày, con em các nhà lương thiện đều có thể vào học tại đây Sang thời Lê Thánh Tông, trường lộ đổi thành trường phủ
Ngoài các trường do triều đình mở còn có các trường lớp tư nhân trên khắp toàn quốc do các nhà Nho không đỗ đạt hoặc đã đỗ đạt nhưng thôi làm quan về dạy học
Tài liệu học tập
Tài liệu học tập, giảng dạy và thi cử chính thức gồm có:
Tứ Thư
Ngũ Kinh
Trang 322 Nhờ quan lại đề cử có bảo đảm (bảo cử)
3 Lấy con cháu công thần hưởng tập tước
Trong 3 con đường trên, con đường khoa cử là quan trọng nhất, được triều đình đề cao, chú trọng.Ngay từ năm 1426, khi khởi nghĩa Lam Sơn chưa kết thúc, Lê Lợi tiến ra Bồ Đề đã mở kỳ thi đặc biệt, lấy đỗ 30 người Từ khi nhà Lê chính thức thành lập, việc tổ chức các khoa thi diễn ra đều đặn định kỳ
Có 3 kỳ thi chính và quan trọng nhất là thi Hương, thi Hội và thi Đình
Giáo dục khoa cử thời Mạc
Hệ thống trường học
Quốc Tử Giám và nhà Thái học vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất cả nước Qua các cuộc chiến xung đột cuối thời Lê, nhiều công trình kiến trúc ở Văn Miếu bị hư hại Năm 1536,Mạc Thái Tông sai Mạc Đình Khoa tu sửa lại trường Quốc Tử Giám
Tại các lộ trong nước tiếp tục duy trì các trường học như thời Lê sơ và các trường tư
Tương tự như thời Lê sơ, có 3 kỳ thi chính và quan trọng nhất là thi Hương, thi Hội và thi Đình.Việc khắc tên tiến sĩ vào bia đá chỉ được thực hiện 1 lần năm 1529 Sau đó do chiến tranh, việc này không còn được chú trọng Năm 1582, Trần Thì Thầm kiến nghị với Mạc Mậu Hợp khôi phục việc khắc bia tiến sĩ, nhưng do chiến tranh nên vẫn bị gác lại
Trang 33Giáo dục khoa cử Đàng Ngoài thời Lê trung hưng
Về cơ bản, các chúa Trịnh vẫn kế tục nền giáo dục từ thời Lê Sơ và thời Mạc Mục tiêu của chế độ học tập và thi cử nhằm đào tạo và tuyển dụng đội ngũ quan lại cho bộ máy chính quyền
Giáo dục
Các chúa Trịnh cho duy trì hệ thống trường học từ trung ương đến địa phương vốn có từ thời Lê Sơ,trong đó trung tâm vẫn là Quốc Tử Giám Quốc Tử Giám tiếp nhận các học trò từ khắp nơi ở Đàng Ngoài có đủ năng lực học tập Thời Lê trung hưng vẫn duy trì việc bài trừ con những người phạm tội
và con nhà hát xướng không được thi cử
Sang đầu thế kỷ 18, triều đình chú trọng hơn đến việc hỗ trợ vật chất cho trường học các địa
phương Năm 1723, chúa Trịnh Cương ban hành quy định cấp ruộng cho các trường học, gọi là học điền theo các mức: trường Quốc học 60 mẫu, trường Hương học 16 - 20 mẫu tùy vào quy mô từ nhỏ đến lớn Hoa lợi từ ruộng được mang chi dùng vào việc đèn dầu trong học tập
Giữa thế kỷ 18, các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài nổ ra, nền giáo dục có phần suy sút
Khoa cử
Khi còn ở Thanh Hóa, các chúa Trịnh còn phải đối phó với nhà Mạc, do đó việc thi cử không thực
sự được quan tâm Thời kỳ này các chúa Trịnh đặt ra các kỳ thi Chế khoa lấy Tiến sĩ xuất thân và Đồng tiến sĩ xuất thân theo thứ bậc khác nhau, tổ chức tại Hành cung Vạn Lại
Tính từ năm 1580 khi nhà Lê trung hưng khôi phục lại khoa thi Hội đến năm 1787 thời Lê Chiêu Thống, có tất cả 68 khoa thi với 717 tiến sĩ Người đỗ đại khoa ngoài áo mũ, cờ quạt chiêng trống triềuđình ban còn được nhà cửa dinh thự tại quê nhà Người đỗ từ Đồng tiến sĩ xuất thân trở lên đều được
bổ nhiệm làm Khoa đạo tới Hàn lâm viện chứ không bổ làm quan phủ, huyện; nếu bổ ra ngoài Ty thừa
thì bổ làm Chánh chứ không bổ làm Phó Vì những đãi ngộ như vậy, phong trào học tập thời Lê trung hưng lên rất cao
Giáo dục khoa cử Đàng Trong thời Lê trung hưng
Vùng đất Đàng Trong mới mở mang, chưa có bề dày lịch sử nên việc giáo dục và thi cử chưa có quy củ như Đàng Ngoài
Giáo dục
Vì hoàn cảnh lịch sử, Nho học tại Đàng Trong chưa có vị trí sâu, rộng như ở Đàng Ngoài Trong thời kỳ đầu, các chúa Nguyễn bổ nhiệm quan lại đều trên cơ sở lấy con em quý tộc và sự tiến cử của quan lại địa phương rồi bổ nhiệm Nhưng do nhu cầu cần nhân tài cho bộ máy quan liêu, các chúa Nguyễn đã từng bước xúc tiến việc học tập và thi cử
Tuy nhiên, các chúa Nguyễn không mở trường công mà để tùy ý dân gian các địa phương tự mở trường tư, chính quyền chỉ tổ chức các kỳ thi tuyển
Khoa cử
Từ năm 1632, Nguyễn Phúc Nguyên thi hành chính sách duyệt tuyển: 3 năm một lần tuyển nhỏ, 6
năm một lần tuyển lớn Các học trò ở huyện được lệnh đến trấn dinh khảo thí một ngày, gọi là "thi quận mùa xuân" Phép thi dùng 1 bài thơ, 1 bài văn sách, hạn trong 1 ngày làm xong Lấy tri phủ, Tri huyện làm sơ khảo, Ký lục làm phúc khảo Người trúng tuyển cho làm chức Nhiêu học và cho miễn
thuế sai dư 5 năm Ngoài ra còn tổ chức viết chữ Hán, ai trúng được bổ làm việc ở 3 ty Xá sai, Lệnh sử
và Tướng thần lại
Trang 34Năm 1646, chúa Nguyễn mở khoa thi Thu đầu tiên, gọi là Thu vi hội thí (Thi hội mùa thu) Từ đó
định ra lệ thi 9 năm 1 lần, chia làm 2 khoa Chính đồ (tương tự như thi Hương, thi Hội ở Đàng Ngoài -
để lấy người thi đỗ ra làm quan) và Hoa văn
Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn
Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử nước Đại Việt từ năm 1778 đến năm 1802 trong vùng đất do nhà Tây Sơn quản lý.
Giáo dục
Chữ Nôm là chữ được xây dựng trên cơ sở chữ Hán từ nhiều thế kỷ trước và trở thành thứ văn tự riêng ghi lại chân thực tiếng nói của người Việt Từ cuối thời Trần, Hồ Quý Ly đã đưa chữ Nôm lên vịtrí quan trọng, nhưng chỉ dừng lại ở việc dịch các tác phầm chữ Hán ra chữ Nôm Đến thời Tây Sơn, chữ Nôm được đưa vào văn bản chính thức của nhà nước, tại các bài hịch, thư từ, mệnh lệnh,
Sau chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa (1789), Quang Trung đã gạt bỏ tư tưởng độc tôn chữ Hán trong giáo dục và khoa cử của các triều đại phong kiến khác
Cùng việc lập Viện Sùng chính, Quang Trung cho tu sửa Văn Miếu và Học Cung cũ của chúa
Nguyễn ở xã Long Hồ, đặc biệt là mở rộng hệ thống trường học tới cấp xã mà các triều đại trước chưa làm được Trong tờ Chiếu lập học quy định, các xã đều phải lập nhà xã học; những con nhà nho có học
và có hạnh kiểm tốt được lựa chọn làm người dạy chữ trong xã, gọi là "Xã giảng dụ" Các "Xã giảng dụ" do xã lựa chọn và được triều đình cấp bằng công nhận
Nội dung học tập được chấn chỉnh lại cho phù hợp với tình hình mới, vì qua một thời gian dài, việc học tập thời Lê mạt tỏ ra bất cập vì cách học sáo rỗng, từ chương, cầu lợi của kẻ sĩ không hợp với đòi hỏi của xã hội mới
Khoa cử
Cũng như việc giáo dục, trong khoa cử, Quang Trung chấn chỉnh lại những tiêu cực thi cử cuối thời Lê – Trịnh (muốn dự thi Hương chỉ cần nộp 3 quan tiền là được dự thi không cần qua sát hạch; việc trông thi thả lỏng cho quay cóp bài và thi hộ,…)
Đồng thời, Quang Trung chính thức đưa chữ Nôm vào khoa cử Đó là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, chữ Nôm được chính thức đưa vào khoa cử Quang Trung ra quy định trong các kỳ thi, đề thi phải được ra bằng chữ Nôm và đến kỳ tam trường, thí sinh phải làm thơ phú bằng chữ Nôm
Năm 1789, Quang Trung cho mở khoa thi Hương đầu tiên tại Nghệ An Nguyễn Thiếp được cử làm
Đề điệu trường thi kiêm Chánh chủ khảo Những người thi Hương đỗ được gọi là Tú tài; hạng ưu đượcsung vào trường Quốc học, hạng thứ bổ vào Trường Phủ học Để hạn chế và xóa bỏ hậu quả của chế
độ thi cử không thực chất của thời Lê Mạt, Quang Trung ra quy định "các nho sinh và sinh đồ cũ phải đợi đến kỳ thi, nếu thi được hạng ưu mới được tuyển, hạng kém bị bãi về trường học xã" Đặc biệt với những "sinh đồ 3 quan" của triều Lê – Trịnh, ông hạ lệnh bãi miễn không sử dụng và bắt làm dân thường
14 Những thành tựu văn hoá – nghệ thuật khác trong nền văn hoá Đại Việt.
Thời Lý – Trần:
Kiến trúc:
Sau dời đô, tại Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều cung điện, đền đài, thành lũy Thành Thăng Long là 1 công trình xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong kiến
Trang 35 Kiến trúc thời Lý phát triển mạnh Những di tích nhà Lý còn lại đến nay như chùa Giạm, chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi – Nam Hà), tháp Chương Sơn (Ý Yên– Nam Định),…đều là những công trình có quy mô lớn.
Nghệ thuật điêu khắc trên đá, trên gốm thể hiện một phong cách đặc sắc và một tay nghề khá thuần thục Bố cục tượng gọn, đẹp và cân xứng nhưng không trùng lặp và đơn điệu
Cùng với kiến trúc, các nghề thủ công rất phát triển như nghề dệt, gốm, mĩ nghệ,…
Thời Trần, nghề thủ công còn có những bước phát triển mới, hình thành những làng nghề chuyên sản xuất 1 mặt hang nhất định, như làng Ma Lôi ( Hải Hưng) Kinh thành Thăng Long mở rộng chia thành 61 phường Tại đây không chỉ có chợ mà còn có phường thủ công và phố xá buôn bán
Tôn giáo:
Đặc trưng nổi trội thời Lý – Trần là sự dung hòa tam giáo (Nho – Phật – Đạo), còn gọi là chínhsách Tam giáo đồng nguyên Tinh thần văn hóa Lý – Trần là tinh thần khai phóng đa nguyên phối hợp Phật, Nho, Đạo cùng các tín ngưỡng dân gian khác kể cả ảnh hưởng của tôn giáo Chămpa
Đến thế kỉ X, Phật giáo đã có những bước phát triển lớn, nhiều chùa chiền xuất hiện Đó là các đại danh lam kiêm hành cung; các trung danh lam và chùa của các đại sư
Năm 1031, triều Lý bỏ tiền ra xây dựng 950 chùa Năm 1129, mở hội khánh thành 84000 bảo tháp (tháp bằng đất nung)
Phật giáo giai đoạn này còn tác động đến tư tưởng, tâm lí, phong tục và nếp sống của đông đảo nhân dân ở các làng xã Nó có ảnh hưởng to lớn với kiến trúc, điêu khắc, thơ văn và nghệ thuật
Văn học:
Nền văn học chữ viết được hình thành với 1 đội ngũ tác giả hùng hậu đội ngũ này được tạo ra
từ 2 nguồn: 1 là các trí thức Phật giáo, 2 là các tri thức Nho giáo
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XII có trên 50 tác giả, trong số đó, đa số là nhà sư; từ thế kỉ XIII đến thế
kỉ XIV có trên 60 tác giả, trong số đó đa số là Nho sĩ
Phần chủ yếu trong văn học đời Lý là thơ, mà phần lớn lại là thơ của các nhà sư, do đó, nội dung lien quan đến triết học và giáo lí Thiền Tông Tuy thế, nhiều bài thơ có ý nghĩa nhân sinh và giá trị văn hóa Đáng lưu ý nhất là bài Nam quốc sơn hà của Lý Thương Kiệt, là Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn
Bên cạnh dòng văn học viết bằng chữ Hán, lịch sử thời kì này chứng kiến sự hình thành của văn học chữ Nôm
Đặt trong diễn trình lịch sử văn hóa dân tộc, sự xuất hiện một nền văn hóa chữ viết đều là bướcphát triển cả về số lượng và chất lượng của nền văn hóa
Cùng với văn học, các ngành nghệ thuật như ca, múa, nhạc, chèo, tuồng cũng ra đời và phát triển Nghệ thuật điêu khắc thời Trần mang tính chất phóng khoáng, khỏe và thực hơn Chẳng hạn như, con rồng ở cánh của chùa Phổ Minh, như tiên nữ và nhạc công ở các bức chạm gỗ chùa Thái Lạc
Thời Hậu Lê
Ở lĩnh vực văn hóa, tổ chức đời sống xã hội, thành tựu văn hóa phải ghi nhận ở thời này là luật Hồng Đức
Ở loại hình văn hóa ngôn từ, dòng văn học chữ Nôm vẫn không ngừng phát triển Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi với 254 bài thơ là khối lượng thơ Nôm cổ nhất hiện còn Ngoài ra, thời kì này cònkhá nhiều tác giả văn chương thể hiện được lòng tự hào dân tộc, khí phách anh hung và 1 chủ nghĩa yêu nước vô bờ bến như Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn
Một số loại hình như ca, múa, nhạc vẫn tiếp tục phát triển
Trang 36 Về kiến trúc và điêu khắc, sự tác động của hệ thống tư tưởng mà triều đình chọn lựa rất mạnh Hình tượng con rồng thời Lê đã chuyển hóa khác với con rồng thời Lý – Trần.
Từ thế kỉ XVI đến 1858
Văn học
Nét đáng chú ý của văn học giai đoạn này là văn Nôm, được khởi phát từ các giai đoạn trước
đã càng ngày càng phát triển Một số truyện Nôm như: Vương Tường, Tô Công phụng sứ, Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Tương ứng với sự phát triển của văn học viết bằng chữ Nôm là sự phát triển của thể lục bát và song thất lục bát
Cùng với sự phát triển của văn học thành văn là sự nở rộ của những sáng tác dân gian Truyện cười, truyện trạng, tục ngữ, đều nở rộ trong thời gian này
Tiêu biểu cho xu hướng này chính là các nhà nho lập ra phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền Tiếp nhận tư tưởng văn hóa phương Tây qua “máy lọc” tư tưởng
và văn hóa Trung Hoa, các nhà nho này đã từ bỏ sự lạc hậu, đến với sự cách tân Đông Kinh Nghĩa Thục vận động học chữ Quốc ngữ, hô hào thực nghiệp, bài trừ tục mê tín, dị đoan, …
Ngoài việc góp phần tích cực vào sự phát triển văn hóa dân tộc, ngôn ngữ và văn tự Việt Nam, Đông Kinh Nghĩa Thục đánh daaussjw chuyển biến tư tưởng của các nhà nho Việt Nam, khẳng định Khổng Mạnh không còn là tư tưởng của 1 lớp người như giai đoạn trước Sự thay đổi này đưa đến những nét mới của đời sống văn hóa tư tưởng
Được tiếp xúc với sách báo có nội dung yêu nước và tiến bộ, nhiều trí thức, học sinh, sinh viên
đã nhận ra những cảnh áp bức, miệt thị của thực dân Pháp đối với người dân Việt Nam
Từ tấm lòng yêu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin rồi truyền bá vào Việt Nam Giai cấp công nhân ngày càng phát triển và ngày càng giác ngộ về mình Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng lan rộng và có tổ chức 3 tổ chức cộng sản ra đời ở Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì để rồi ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị hợp nhất các
tổ chức cộng sản thành 1 Đảng Cộng sản duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu “1 bước
Trang 37ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã trưởngthành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, đồng thời nó cũng khẳng định sự hiện diện của 1 hệ tư tưởng mới
ở Việt Nam”
Văn hóa vật chất
Đầu thế kỉ XX, Hà Nội đã là 1 đô thị sầm uất, có nhiều người buôn bán, tập trung các nhà máy,
sở giao dịch, trụ sở các công ty Hải pHòng trở thành 1 hải cảng lớn thứ 2 ở Đông Dương ở phía Nam,Sài Gòn – Chợ Lớn trở thành 1 đô thị của công nghiệp, thương nghiệp
Các kiến trúc kiểu Tây phương được đưa vào Việt Nam, nhưng được Việt Nam hóa khiến các công trình này không “lạc điệu” giữa những công trình kiến trúc cổ truyền
Cùng với sự phát triển của đô thị trong hơn 100 năm là sự phát triển giao thông vận tải, hàng chục vạn dân phu, dân đinh Việt Nam được huy động để tạo ra hệ thống cầu đường
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đã tạo ra những con đường liên tỉnh dài tới 20 nghìn km Đường thủy, nhất là ở Nam Bộ được tu bổ, khai thông, tới năm 1914 tổng số độ dài đường thủy đã tới
1745 km Tới 1912, hệ thống đường sắt ở Việt Nam đã hình thành với 2059 km
Báo chí ra đời và phát triển
Khởi điểm để báo chí ra đời ở Việt Nam là từ ý đồ của thực dân Pháp cần có 1 thứ vũ khí nhằmtuyên truyền cho chính quyền thuộc địa
Ở Hà Nội, có các báo bằng chữ Quốc ngữ như Đăng cổ tùng báo, Hữu Thanh, Thực nghiệp dânbáo, Nam phong, Trung Bắc tân văn,
Nói cung, những tờ báo bằng chữ Quốc ngữ ở cả 3 miền trong thời kì này, dù vô cùng hay hữu
ý đều góp phần vào sự phát triển của văn hóa chữ Quốc ngữ
Ngoài những tờ báo bằng chữ Quốc ngữ, 1 thế kỉ này ở cả 3 đô thị: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đều
có những tờ báo bằng chữ Pháp, có thể đó là những tờ báo của chính quyền thuộc địa nhằm phục vụ chính quyền đó, nhưng cũng có thể có những tờ báo tiến bộ chẳng hạn như tờ L’Annam, tờ La Cloche fêlée (Chuông rè) ở Sài Gòn, tờ Notre voix (Tiếng nói của chúng ta),
Trong giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1945, việc dùng chữ Quốc ngữ để làm báo đã là bước đột biến của diễn trình văn hóa Nhìn ở phương diện ngôn ngữ văn tự, đấy là 1 bước đột biến Nhìn ở phương diện lịch sử báo chí, đây cũng là 1 bước đột biến
Bước chuyển mình của văn học
Do tác động khách quan, văn học giai đoạn này đã có bước phát triển nhanh chóng cả về nội dung và hình thức
Chữ Quốc ngữ được dùng để phiên âm các sách chữ Nôm, chữ Hán, chữ Pháp Hàng loạt các tác phẩm chữ Hán như Đại học, Trung dung, Kinh thi, , các truyện dân gian, câu hò, câu hát được ra mắt bạn đọc bằng chữ Quốc ngữ ở Nam Bộ
Sự phát triển của những sáng tác bằng chữ Quốc ngữ, như kí sự là thể loại ra đời sớm với tác phẩm Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký, tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ cũng ra đời ở Nam Bộ sớm nhất như: Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Phan yên ngoại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Tản, Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh Chiếu,
Vào thập niên ba mươi, bốn mươi, văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ đã có 1 bước tiến bộ vượt bậc.Như: Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Đời mưa gió, của nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, , Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí phéo của Nam Cao,
Trang 38 Sự chuyển mình của văn học Việt Nam giai đoạn này không chỉ ở phương diện hình thức Cái tôi cá nhân, sự ý thức về cá nhân, tình yêu lứa đôi xuất hiện trong các tiểu thuyết của nhóm Tự lực vănđoàn, trong các tập thơ mới của các nhà thơ mới là 1 hiện tượng mới trong văn hóa Việt Nam.
Cùng với những tác giả, tác phẩm này, sự xuất hiện của hệ tư tưởng Mác xít trong đời sống vănhóa đã dẫn tới sự xuất hiện của bộ phân các tác giả cách mạng
Bản sắc Văn hóa Việt Nam biểu hiện trong giai đoạn Văn hóa Cận hiện đại
Nhìn ở diễn trình văn hóa, cuối thế kỉ XIX đầu thê kỉ XX quả là 1 sự đứt gãy lịch sử chưa từng
có Non 100 năm, bắt đầu từ các đô thị ở Sài Gòn đến Hà Nội, từ Nam đến Bắc, từ thành thị đến nông thôn, văn hóa Việt Nam có những biến thiên ghê gớm Từ ăn, mặc, ở đến các phương tiện giao thông,
từ điêu khắc ở đình làng đến tượng đài ngoài trời, từ thơ Đường sang thơ mới, từ văn vần sang văn xuôi, tiểu thuyết, từ chữ Hán, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ, tất cả đều đi tới hòa nhập với thế giới hiện đại Bản sắc văn hóa dân tộc vẫn không mất đi, không bị thay đổi Nói cách khác đó là bản lĩnh văn hóa Việt Nam mà J.Feray gọi rất hay là sự không chối từ về văn hóa trong việc hấp thụ các yếu tố ngoại sinh Bởi vậy, sau đứt gãy này lại là 1 lần văn hóa Việt Nam phát triển tiếp nối mạch phát triển ởcác thời kì trước, ở tầm vóc mới
16 Nêu những đặc trưng văn hóa thẩm mỹ của người Việt.
Văn hóa thẩm mỹ là sự phát triển năng lực thẩm mỹ của con người (thụ cảm, nhận thức, sáng tạo thẩm mỹ) thể hiện ra trong hoạt động thẩm mỹ (có trong mọi hoạt động của con người) và kết tinh lại ở các giá trị thẩm mỹ
Văn hóa ăn uống
Quan niệm ăn uống
Người Việt coi trọng việc ăn uống, mọi hành động đều lấy “ăn” làm đầu
Coi ăn uống là văn hóa, thể hiện nghệ thuật sống và phẩm giá con người
Cơ cấu bữa ăn
Chuộng thực vật hơn động vật: cơm, rau, cá, thịt
Kỹ thuật chế biến phong phú: sử dụng gia vị khéo léo, làm mắm, tương,…
Đồ uống, hút: trầu cau, thuốc lào, rượu gạo, nước chè, nước vối,…
Tập quán ăn trầu, hút thuốc: miếng trầu là biểu trưng văn hóa độc đáo của Việt Nam:
Biểu tượng của nghi lễ
Biểu hiện của sự giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội
Đặc trưng văn hóa ẩm thực của người Việt Nam
Tính tổng hợp:
Cơ cấu bữa ăn
Cách chế biến món ăn: tổng hợp nhiều nguyên vật liệu, đủ chất, đủ vị, đủ sắc,…
Cách ăn: ăn đồng thời nhiều món, tổng hợp cái ngon của nhiều yếu tố
Tính cộng đồng và tính mực thước
Tính cộng đồng: ăn chung, thích chuyện trò khi ăn
Tính mực thước: ăn uống phải tuân theo những cách thức, những phép tắc nhất định
Tính cân bằng, hài hòa: người Việt luôn chú trọng đến:
Sự hài hòa âm – dương của thức ăn
Sự quân bình âm – dương trong cơ thể
Trang 39 Bảo đảm sự quân bình âm – dương giữa con người và môi trường.
Ăn uống phải hợp thời tiết, đúng mùa
Mặc
Quan niệm về trang phục
Ứng phó với môi trường tự nhiên
Về thẩm mỹ: khắc phục nhược điểm của cơ thể
Dấu ấn nông nghiệp trong văn hóa trang phục
Chất liệu: có nguồn gốc từ thực vật, mỏng nhẹ, thoáng, phù hợp với xứ nóng (tơ tằm, vải tơ chuối, tơ đay, vải bông,…)
Màu sắc: âm thanh, tế nhị, kín đáo
Trang phục truyền thống
Trang phục ngày thường: đơn sơ, gọn nhẹ
Nam: khố -> quần cộc, áo cánh -> quần lá tọa
Nữ: váy, yếm -> áo cánh -> áo tứ thân
Trang phục lễ hội: tươm tất, cầu kỳ => thể hiện tâm lý sĩ diện, trọng hình thức
Đồ phục sức: thắt lưng, khăn, nón, đồ trang sức,…
Biểu tượng y phục truyền thống: áo dài
1 số tập quán trang sức, trang điểm
Quan điểm của người Việt về nhà ở:
An cư lạc nghiệp: ngôi nhà là nơi cơ nghiệp của nhiều đời, gắn liền với sự thịnh suy của gia đình, dòng họ
Ngôi nhà là tổ ấm để đối phó với thời tiết
Đặc điểm nhà ở của người Việt
Vật liệu xây dựng: tre, gỗ, rơm, tranh, gạch ngói,…
Cấu trúc: nhà cao cửa rộng, thoáng mát
Hướng nhà, hướng đất: hài hòa, hợp phong thủy
Bài trí nhà ở: phản ánh nếp văn hóa trọng tình (tôn thờ tổ tiên, mến khách)
Đi lại: hoạt động giao thông chậm phát triển
Giao thông đường bộ: chủ yếu dùng sức người và súc vật
Giao thong đường thủy: phổ biến, kỹ thuật đóng thuyền khá phát triển
17 Đặc trưng của tôn giáo ở Việt Nam.
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
a) Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Trang 40Một là, Việt Nam là nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo Hiện nay, ở nước ta có sáu tôn giáo lớn đã được Nhà nước thừa nhận về tổ chức là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Hoà Hảo với khoảng 20 triệu tín đồ Ngoài ra còn hàng chục triệu người khác vẫn giữ tín ngướng dân gian, truyền thống và cả tín ngưỡng nguyên thủy Tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta chủ yếu ở cấp độ tâm lý tôn giáo Nhiều tín đồ tôn giáo tuy khá sùng đạo, nhưng hiểu giáo lý rất ít, gia nhập đạo phần nhiều do lan truyền tâm lý hoặc do vận động, lôi kéo; ý thức tôn giáo ở phần lớn tín đồ không thật sâu sắc.Hai là, các tôn giáo, tín ngưỡng dung hợp, đan xen và hoà đồng, không có kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo Các tín ngưỡng truyền thống và tàn dư tôn giáo nguyên thuỷ in dấu ấn khá sâu đậm vào đời sống tinh thần của người Việt Nam, theo suốt chiều dài lịch sử, đó là cái nền tâm linh
để dễ dàng đón nhận sự du nhập của các tôn giáo khác Sự khoan dụng, long độ lượng, nhân ái của dântộc Việt Nam, cùng với yêu cầu phải đoàn kết toàn dân để bảo vệ nền độc lập, thống nhất lãnh thổ, nênngười Việt Nam tiếp nhận các tôn giáo khác nhau một cách tự nhiên, miễn là nó không trái với lợi ích dân tộc – quốc gia và truyền thống văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền Sự phân bố tôn giáo ở nước ta có đặc điểm nổi bật là giáo dân của các tôn giáo thường sinh sống thành từng cộng đồng quy mô nhỏ, các cộng đồng tôn giáo khác nhau có thể sống xen kẽ nhau Ở nhiều nơi, trong 1 làng, xã cũng có các nhóm tín đồ của các tôn giáo khác nhau sống đan xen, hòa hợp nhau hoặc xen kẽ với những người không theo tôn giáo nào
Ba là, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều du nhập từ bên ngoài,
ít nhiều đều có sự biến đổi và mang dấu ấn Việt Nam Các tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Namvừa theo cách du nhập tự nhiên qua giao lưu kinh tế, văn hoá như: Phật giáo, Hồi giáo; vừa có sự áp đặt song hành với quá trình xâm lược của các đế quốc trong lịch sử như: Công giáo, Tin lành,… Quá trình giao du, gặp gỡ các tôn giáo vừa thâm nhập, bổ sung, vừa cải biến lẫn nhau, khiến cho mỗi tôn giáo đều có sự biến đổi phù hợp với đặc điểm địa lý, lịch sử và văn hoá Việt Nam
Bốn là, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng truyền thống và tình cảm, phong tục tập quán và nhân dân Tín ngưỡng truyền thống dân gian mà nổi bật nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, đã dung hợp với các tôn giáo, góp phần tạo nên đặc điểm tình cảm, tâm hồn, tính cáchngười Việt Nam Tuy vậy, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng cổ truyền và tình cảm, phong tục tập quán đã ăn sâu vào đời sống tinh thần người Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ quần chúng lao động rất dễ dàng tiếp nhận tình cảm, ý thức tôn giáo mới
b) Tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay
Mặc dù sự hình thành và phạm vi ảnh hưởng đối với số lượng tín đồ và tác động chính trị - xã hội không giống nhau, đồng bào các tôn giáo đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, hàng chục vạn thanh niên có đạo đã tham gia chiến đấu và nhiều người đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiều tín đồ và giáo sĩ đã nhận thức đúng chính sách, luật pháp của Nhà nước, làm tốt cả "việc đạo" và "việc đời" Tình hình kinh tế, an ninh chính trị và trật tự xã hội ở nhiều vùng tôn giáo khá ổn định Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo còn băn khoăn, lo lắng cả phần đạo và phần đời
Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo có phần phát triển, nhà thờ, đình chùa, miếu mạo, thánh thất được tu sửa và tôn tạo, xây cất lại, in ấn tài liệu, đào tạo các chức sắc Số người tham gia các hoạt động tôn giáo gia tăng Những hoạt động lễ hội gần gũi với tôn giáo nhiều, mang nhiều màu sắc khác nhau, cũng xuất hiện nhiều hiện tượng mê tín dị đoan Thực trạng trên, một mặt phản ánh nhu cầu tinh