1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân

4 788 17

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 16,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐOẠN TRÍCH CẢNH NGÀY XUÂN I.MB:Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du không chỉ là một kiệt tác của thơ ca cổ dân tộc sáng ngời tinh thần nhân đạo mà trong phơng diện nghệ thuậ, áng thơ tuyệt bút này còn là mẫu mực tuyệt vời về ngôn ngữ, về tự sự, về bút pháp tả cảnh, tả ngời, tả tình… tất cả đều đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ văn học dân tộc. Đoạn trích tả cảnh ngày mùa xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em Kiều, nằm sau đoạn tả tài sắc hai chị em Kiều, trớc đoạn Kiều gặp nấm mộ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng. Đây là bức tranh thiên nhiên mùa xuân tơi đẹp, trong sáng và lễ hội mùa xuân tng bừng, náo nhiệt.

Trang 1

Đoạn trích "Cảnh ngày xuân"

I.MB:-Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du không chỉ là một kiệt

tác của thơ ca cổ dân tộc sáng ngời tinh thần nhân đạo mà trong phơng diện nghệ thuậ, áng thơ tuyệt bút này còn là mẫu mực tuyệt vời về ngôn ngữ, về tự sự, về bút pháp tả cảnh, tả ngời, tả tình… tất cả đều đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ văn học dân tộc Đoạn trích tả cảnh ngày mùa xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em Kiều, nằm sau đoạn tả tài sắc hai chị em Kiều, trớc đoạn Kiều gặp nấm

mộ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng Đây là bức tranh thiên nhiên mùa xuân tơi đẹp, trong sáng và lễ hội mùa xuân tng bừng, náo nhiệt

II Thân bài

1-Khái quát: Cảnh ngày xuân“ ” là đoạn thơ tiêu biểu nhất trong Truyện Kiều

về bút pháp nghệ thuật tả cảnh, tả tình của Nguyễn Du Đoạn trích gồm 18 câu thơ nằm ở phần đầu của tác phẩm có tên là “Gặp gỡ và đính ớc”

-Kết cấu đoạn trích: theo trình tự thời gian của cuộc du xuân Bốn câu đầu: Khung cảnh ngày xuân Tám câu tiếp: khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh Sáu câu cuối: cảnh chị em Kiều du xuân trở vể

2- Bốn câu thơ đầu: Khung cảnh ngày xuân.

- Hai câu đầu là hình ảnh khái quát về một ngày xuân tơi đẹp với hình ảnh cánh

én chao liệng trên bầu trời thanh bình tràn ngập ánh xuân tơi tắn trong sáng Đồng thời, thông qua bút pháp nghệ thuật ẩn dụ tinh tế, nhà thơ cũng ngỏ ý thời gian trôi nhanh quá, ngày xuân qua nhanh quá nh “con én đa thoi”, chín mơi ngày xuân mà nay “đã ngoài sáu mơi” Cách tính thời gian, sự cảm nhận về thời gian của thi nhân thật sâu sắc, tinh tế và thi vị Hai chữ “thiều quang” không chỉ gợi lên cái màu hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân mà còn gợi lên cái mênh mông bao la của đất trời mùa xuân

- Hai câu thơ tiếp theo mới thực là bức tranh tuyệt mĩ: “Cỏ non xanh tận chân

trời - Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Đây là bức chân dung của cảnh ngày

xuân, chỉ giản đơn có cỏ xanh, hoa trắng mà đủ cảnh, đủ màu, làm hiện lên cả một không gian mùa xuân khoáng đạt, một không gian nghệ thuật hữu hình, hữu sắc, hữu hơng Trên không gian bao la rộng lớn của bầu trời, mặt đất là thảm cỏ xanh non mơn mởn, ngào ngạt hơng thơm trải dài tít tắp đến tận chân trời Nổi bật trên mầu xanh thanh bình của bầu trời, trên màu xanh non ngọt ngào của thảm cỏ là màu trắng tinh khiết của hoa lê ở đây, Nguyễn Du học tập hai câu thơ cổ Trung

Quốc: “Phơng thảo liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoa”, nhng khi đa vào bài thơ

của mình, tác giả đã rất sáng tạo Câu thơ Trung Quốc dùng hình ảnh “cỏ thơm” (phơng thảo) thiên về mùi vị thì Nguyễn Du thay bằng “cỏ xanh” thiên về màu sắc

Đó là màu xanh nhạt pha với vàng chanh tơi tắn hợp với màu lam trong sáng của nền trời buổi chiều xuân làm thành gam nền cho bức tranh, trên đó điểm xuyết những đốm trắng hoa lê Bức tranh dung hoà những sắc độ lạnh mà bên trong vẫn

Trang 2

rạo rực sức sống tơi mới của mùa xuân Chữ “trắng” đảo lên trớc tạo bất ngờ sự mới

mẻ, tinh khôi, thanh khiết nh kết tinh những tinh hoa của trời đất Chữ “điểm” gợi bàn tay ngời hoạ sĩ vẽ nên thơ nên hoa, bàn tay tạo hoá tô điểm cho cảnh xuân tơi, làm bức tranh trở nên có hồn, sống động

- Hai câu thơ tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Du quả là tuyệt bút! Ngòi bút của Nguyễn Du tài hoa giàu chất tạo hình, ngôn ngữ biểu cảm, gợi tả Tác giả đã rất thành công trong bút pháp nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi Qua đó, ta thấy tâm hồn con ngời tơi vui, phấn chấn trong cái nhìn thiên nhiên trong trẻo, tơi tắn, hồn nhiên, nhạy cảm tha thiết với vẻ đẹp thiên nhiên

3 Tám câu thơ giữa: khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh

- Nguyễn Du đã rất tài tình khi tách hai từ Lễ hội ra làm đôi để gợi tả hai hoạt

động diễn ra cùng một lúc: Lễ tảo mộ, Hội đạp thanh Vào ngày Thanh minh, tiết

đầu tháng ba, mùa xuân khí trời mát mẻ, ngời ta đi quét tớc, sửa sang lại phần mộ của ngời thân nên có lễ tảo mộ Mùa xuân cũng là dịp để đi chơi ở chốn đồng quê,

đợc giẫm lên cỏ xanh giữa đất trời mùa xuân trong trẻo là một cáI thú, nên việc chơi xuân ấy mới trở thành ngày hội, gọi là hội đạp thanh

- Không khí lễ hội đợc gợi tả từ một hệ thống từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm: + Nhiều danh từ ghép (yến anh, tài tử, giai nhân, chị em, ngựa xe, áo quần) gợi tả sự đông vui tấp nập, nhiều ngời đI hội mà chủ yếu là trai thanh gáI lịch, nam thanh nữ tú

+ Đoạn thơ sử dụng nhiều tính từ (nô nức, gần xa, ngổn ngang) gợi tả tâm trạng háo hức ngời đi hội

+ Các động từ (sắm sửa, dập dìu) gợi tả đợc không khí rộn ràng, náo nhiệt của

ngày hội

+ Cụm từ “nô nức yến anh” là một ẩn dụ gợi lên hình ảnh từng đoàn nam

thanh, nữ tú nô nức đi chơi xuân nh những đàn chim én, chim oanh bay ríu rít Trong lễ hội mùa xuân náo nhiệt nổi bật những nam thanh nữ tú, những “tài tử giai nhân” tay trong tay dạo chơi, niềm vui lễ hội nh bao trùm cả nhân gian Những so sánh rất giản dị “ngựa xe nh nớc, áo quần nh nêm” giúp ngời đọc hình dung cảnh ngày hội vô cùng đông vui, náo nhiệt: ngựa xe nối nhau nh dòng nớc bất tận, ngời

đi dự hội mặc trang phục đẹp đi lại đông đúc, chật nh nêm cối - Thông qua buổi

du xuân của chị em Thuý Kiều, tác giả khắc hoạ hình ảnh một truyền thống văn hoá lễ hội xa xa

- “Lễ là tảo mộ” là lễ thăm viếng, sửa sang, quét tớc phần mộ ngời thân Trong

lễ tảo mộ, ngời ta rắc những thoi vàng vó, đốt tiền giấy hàng mã để tởng nhớ

những ngời đã khuất “Hội là đạp thanh” – vui chơi chốn đồng quê, đạp lên

những thảm cỏ xanh, là một cuộc sống hiện tại và có thể tìm đến những sợi tơ hồng của mai sau “Lễ” là hồi ức và tởng niệm quá khứ theo truyền thống “uống nớc nhớ nguồn”, “hội” là khát khao và hoài vọng nhìn về phía trớc của cuộc đời Lễ và hội trong tiết Thanh minh là một sự giao hoà độc đáo

Trang 3

- Thông qua lễ hội du xuân của chị em Thuý Kiều, tác giả khắc hoạ hình ảnh một truyền thống đẹp về văn hoá lễ hội xa xa Chứng tỏ nhà thơ rất yêu quý, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hoá dân tộc

4 Sáu câu thơ cuối: gợi tả khung cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về.

- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân, một vẻ đẹp dịu dàng, thanh nhẹ: nắng nhạt, khe nớc nhỏ, một nhịp cầu bắc ngang nhng đã nhuốm màu tâm trạng

-Mọi hoạt động cũng thật nhẹ nhàng: bóng tịch dơng đã chênh chếch xế chiều:

“Tà tà bóng ngả về đây”, bớc chân ngời thơ thẩn, dòng nớc uốn quanh Nhng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật mà dờng nh con ngời cũng chìm trong một cảm giác bâng khuâng khó tả Cuộc du ngoạn xuân cảnh đã tàn, lễ hội tng bừng, náo nhiệt đã chấm dứt, tâm hồn con ngời nh cũng chuyển điệu cùng cảnh vật, một tâm trạng bâng khuâng xao xuyến mà ngời ta vẫn thờng có sau một cuộc vui Cảnh

nh nhạt dần, lặng dần, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, không gian mang dáng dấp nhỏ nhoi, bé hẹp, phảng phất buồn Tâm trạng con ngời có cái bâng khuâng xao xuyến về cuộc du xuân đã tàn, có cả linh cảm về việc gặp nấm mộ Đạm Tiên và cuộc gặp gỡ chàng th sinh Kim Trọng “phong t tài mạo tót vời”

- Sử dụng nhiều từ láy nh nao nao, tà tà, thanh thanh, tác giả không chỉ biểu

đạt sức thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con ngời, đặc biệt hai chữ “nao nao” thoáng gợi nên một nét buồn khó hiểu Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị

em Kiều ra về trong sự bần thần, nuối tiếc, lặng buồn “Dan tay” tởng là vui nhng thực ra là chia sẻ cái buồn không nói hết Cảm giá bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở một vẻ đẹp tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng Chính các từ này đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật

Đoạn thơ còn hay bởi đã sử dụng bút pháp cổ điển: tả cảnh gắn với tả tình, tả cảnh ngụ tình, tình và cảnh tơng hợp

III.Kết bài.- Đoạn thơ có kết cấu hợp lý, ngôn ngữ giàu chất tạo hình, kết hợp

giữa bút pháp tả với bút phát gợi có tính chất điểm xuyết chấm phá…

-Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân thật đẹp, tơi vui, sống động, hữu hình, hữu sắc, hữu hơng; một khung cảnh lễ hội mùa xuân tơi vui, nhộn nhịp, trong sáng

-Với nét bút tài hoa, với tấm lòng nhân đạo sâu sắc, Nguyễn Du đã làm dâng lên trong lòng ngời đọc một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui xôn xao náo nức…về cảnh về tình, đậm đà dân tộc

MB2:Trong kho tàng văn học cổ Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm kiệt xuất nhất Tác phẩm không chỉ nổi tiếng vì cốt truyện hay, lời văn trau chuốt, giá trị tố cáo đanh thép, giá trị nhân đạo cao cả, mà còn vì nghệ thuật miêu tả cảnh đặc sắc Nhiều bức tranh tứ thời xuân, hạ, thu, đông sinh động, gợi cảm

Có bức tranh cảnh chiều xuân, có bức tranh là tâm cảnh cô đơn của Kiều ở lầu

Trang 4

Ngng BÝch, … C¶nh nµo còng cã dông ý dù b¸o nh÷ng biÕn ®éng cña ®êi nh©n vËt NguyÔn Du ®· lÊy c¶nh ngµy xu©n t¬i ®Ñp trong s¸ng nhng ®· Èn chøa nh÷ng mÇm mèng buån b· cña Thuý KiÒu §o¹n th¬ C¶nh ngµy xu©n lµ mét ®o¹n th¬ tiªu biÓu cho nghÖ thuËt miªu t¶ c¶nh thiªn nhiªn tµi t×nh, tuyÖt diÖu cña NguyÔn Du

Ngày đăng: 10/03/2016, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w