1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích

8 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 27,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

: Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác thơ nôm lớn nhất của nền văn học trung đại. Xét về mặt nghệ thuật, Truyện Kiều thành công trên nhiều phương diện. Nếu ở đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”, qua ngôn ngữ miêu tả, nhà thơ làm nổi bật tính cách thì ở đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nhà thơ rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng nhân vật. Bởi thế khi đọc đoạn thơ có ý kiến cho rằng đoạn “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh tâm tình đầy xúc động” 2.Thân bài : a. Bày tỏ ý kiến của mình về nội dung, ý nghĩa của lời nhận định. Theo em, lời nhận xét đánh giá trên là hoàn toàn đúng. Người viết đã nhận xét về những điểm thành công về nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ. Bởi lẽ nói đến chữ tâm tình là nói đến tâm tư, tình cảm, tâm trạng còn nói đến bức tranh là nói đến những hình ảnh cụ thể chân thực. Bởi vậy ta hiểu ý nghĩa khái quát lời nhận định là: Đoạn thơ “ Kiều ở lầu Ngưng bích” đã diễn tả hoàn toàn chân thực cụ thể diễn biến tâm trạng của nàng Kiều khi phải sống ở lầu Ngưng Bích

Trang 1

Kiều ở lầu Ngưng Bích

Đề bài : Có ý kiến cho rằng : Đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng ích là bức tranh

tâm tình đầy xúc động” ý kiến của em như thế nào Hãy phân tích đoạn thơ để làm

rõ ý kiến của mình

Dàn ý

1.Mở bài: Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác thơ nôm lớn nhất của nền văn

học trung đại Xét về mặt nghệ thuật, Truyện Kiều thành công trên nhiều phương

diện Nếu ở đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”, qua ngôn ngữ miêu tả, nhà thơ làm nổi bật tính cách thì ở đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” nhà thơ rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng nhân vật Bởi thế khi đọc đoạn thơ có ý kiến cho rằng đoạn “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh tâm tình đầy xúc động”

2.Thân bài :

*a Bày tỏ ý kiến của mình về nội dung, ý nghĩa của lời nhận định

- Theo em, lời nhận xét đánh giá trên là hoàn toàn đúng Người viết đã nhận xét

về những điểm thành công về nội dung cũng như nghệ thuật của bài thơ Bởi lẽ nói

đến chữ tâm tình là nói đến tâm tư, tình cảm, tâm trạng còn nói đến bức tranh là

nói đến những hình ảnh cụ thể chân thực Bởi vậy ta hiểu ý nghĩa khái quát lời nhận định là: Đoạn thơ “ Kiều ở lầu Ngưng bích” đã diễn tả hoàn toàn chân thực cụ thể diễn biến tâm trạng của nàng Kiều khi phải sống ở lầu Ngưng Bích Đó là tâm trạng buồn lo, sợ hãi vì Mã Giám Sinh không phải mua nàng về làm vợ thiếp, mà làm gái lầu xanh cho cửa hàng thanh lâu của Tú Bà Vốn là con gái của một gia đình lương thiện, gia giáo, Thúy Kiều đã phản ứng một cách quyết liệt bằng cách dùng dao tự vẫn nhưng vẫn không thành Sợ vốn liếng mình bị mất, Tú Bà đã đưa Thúy Kiều ra lầu Ngưng Bích chăm sóc thuống thang dỗ dành nàng sau này bình phục sẽ gả chồng cho nàng về nơi tử tế Nhưng thực chất là giam lỏng nàng để chuẩn bị một âm mưu mới Bởi vậy, đây chỉ là những giờ phút, những thời khắc yên thân tạm thời của Thúy Kiều Trong hoàn cảnh một mình một bóng ấy, tâm trạng của Thúy Kiều ngổn ngang trăm mối tơ vò Nhà thơ Nguyễn Du đã theo sát nhân vật thân yêu của mình để thấu hiểu và miêu tả những diến biến phức tạp trong tâm trạng của Thúy Kiều

b Phân tích đoạn thơ để thấy rõ tâm trạng Kiều.

- Mở đầu đoạn thơ, ND đã giúp người đọc hiểu được hoàn cảnh của Kiều

“ Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”

Trang 2

“ Khóa xuân” mang nét nghĩa là khóa kín tuổi xuân, những cô gái “ xấp xỉ cập kê” đang chờ ngày xuất giá Nhưng ở câu thơ này, ND đã dùng hai chữ “ khóa xuân”

để mỉa mai cảnh ngộ trớ trêu của Kiều Bởi thực chất là nàng bị giam lỏng, bị cách biệt với thế giới bên ngoài, bị dập tắt mọi ước mơ và khát vọng

- Thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích hiện lên trước mắt nàng:

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.

- Trước mắt người đọc như hiện lên một khung cảnh thiên nhiên rộng lớn Phía xa

kia là núi, trên đầu là vầng trăng lạnh lẽo, xung quanh là “ bốn bề bát ngát” Từ ghép “ Bốn bề” kết hợp với từ láy “ bát ngát” gợi cho ta hình dung tới không gian

của lầu Ngưng Bích mênh mông rộng lớn, rợn ngợp Tất cả gợi h/ả lầu Ngưng Bích đứng đơn độc, chơi vơi giữa mênh mông trời nước Những dãy núi xa cùng vầng trăng trên bầu trời cao rộng như đóng khung qua ô cửa nhỏ Từ điểm nhìn trên lầu cao, chỉ thấy thiên nhiên và thiên nhiên, không một bóng người Cảnh đẹp, rộng lớn nhưng vắng vẻ, đượm buồn Dường như cảnh vật bị bao trùm bởi một nỗi buồn nặng trĩu, u uất Nỗi buồn đau trong Kiều đang thấm vào cảnh vật, hòa vào cảnh sắc thiên nhiên Cảnh như tương phản với con người Cảnh rộng lớn, mênh mông, vô hạn, con người thì nhỏ bé, cô đơn, hữu hạn Cảnh vật tĩnh lặng càng làm nổi bật nỗi cô đơn của Thúy Kiều

- Cảnh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích không chỉ mênh mông mà còn ngổn ngang

cảnh vật với “ cát vàng, cồn nọ, bụi hồng” Hình ảnh non xa, trăng gần, cát vàng,

bụi hồng ở đoạn thơ này có thể là cảnh thực mà cũng có thể chỉ là hình ảnh mang tính ước lệ nhằm gợi nên sự mênh mông rợn ngợp, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn, ngổn ngang của Kiều

- ND không chỉ gián tiếp miêu tả cảnh ngộ cô đơn của Kiều mà ông còn trực tiếp bộc lộ tâm trạng đó:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya.

- Nhà thơ đã dùng từ láy “ bẽ bàng” để đặc tả tâm trạng cô đơn, tủi thẹn của Kiều Kiều thấy hổ tủi với mây và thẹn với trăng Cụm từ “mây sớm đèn khuya” mà

Nguyễn Du đã sử dụng trong câu thơ đã cho ta hiểu rằng thời gian tuần hoàn khép kín hết sớm rồi lại khuya, khuya rồi lại sớm, đêm rồi lại ngày, hết ngày rồi lại đêm Thúy Kiều chỉ một mình thui thủi ở nơi đây Như vậy không gian thì vắng lặng, thời gian thì tuần hoàn, khép kín vây hãm Thúy Kiều, cảnh ngộ thì trớ trêu, tình

Trang 3

cảm thì đau đớn tủi hổ Hai nỗi buồn như cứa như cắt tâm trạng của nàng nên lại càng đau đớn xót xa :

“Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều

* Tác giả đã diễn tả tâm trạng nhớ thương của nàng Kiều với những người yêu thương.

- Đó là nỗi nhớ chàng Kim:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ

- Để diễn tả niềm thương nhớ người yêu của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng

động từ “tưởng”, đứng ở vị trí đầu câu thơ Chữ “tưởng” ở đây được hiểu là hồi

tưởng, là nhớ lại những gì tốt đẹp của quá khứ Đó là những kỉ niệm đẹp của mối tình đầu trong sáng giữa nàng và chàng Kim, lời hứa hẹn và chén rượu thề nguyền dưới đêm trăng sáng vằng vặc:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song”

- Nàng còn hình dung thấy ở nơi Liêu Dương cách trở, chàng Kim cũng đang hướng về phía nàng, ngày đêm đau đáu mong tin

“Tin sương luống cũng rày trông mai chờ”

- ND đã mượn điển tích “ tin sương” để diễn tả nối trong ngóng, đợi tin của KT

Đây là tiếng nói trong sâu thẳm trái tim của nàng Nhà thơ đã sử dụng thành công ngôn ngữ độc thoại nội tâm Bởi thế lời thơ ít, ý thơ nhiều Trong lời thơ như có nhịp thổn thức của một trái tim yêu thương đang nhỏ máu, thương nhớ tha thiết người mình yêu dấu Càng nghĩ về kỉ niệm nàng lại càng đau đớn xót xa Chén rượu thề còn đó mà nay mỗi người mỗi ngả Bởi thế, nàng càng thấm thía nỗi cô đơn của mình:

Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

- Nàng nhủ thầm với lòng mình không bao giờ quên được hình bóng chàng Kim H/ả “ tấm son” là ẩn dụ sâu sắc cho sự thủy chung son sắt của Thúy Kiều với mối tình đầu trong sáng Và nàng lại càng đau đớn xót xa vì tấm lòng son của mình

đã bị mã Giám Sinh làm nhục Do vậy, nỗi day dứt đau xót của nàng lại tăng lên

Trang 4

khi nhớ tới người yêu Hơn thế nàng còn biết rằng, dù có phải xa nơi chân trời góc

bể thì t/c của nàng với chàng Kim sẽ không bao giờ phai nhạt Và như vậy thì nàng càng đau khổ Trong nỗi nhớ chàng Kim có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can Trong bi kịch tình yêu của nàng có cả bi kịch về nhân phẩm

* Sau đó nhà thơ Nguyễn Du đã diễn tả nỗi nhớ của nàng với cha mẹ

Xót người tựa của hôm mai Quạt lồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vửa người ôm.

Để gợi tả nỗi nhớ của nàng với cha mẹ ND đã sử dụng từ “ xót “ Xót” cũng

có nghĩa là nhớ thương nhưng trong nỗi nhớ thương đó có cả sự xót xa của tình cốt nhục

Nhà thơ đã dùng hàng loạt các điển cố của văn học TQ kể về lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ để diễn tả một cách sinh động và đau xót nỗi nhớ cha mẹ của Thúy Kiều Hình ảnh sao hôm, sao mai gợi thời gian tuần hoàn khép kín Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con nhưng càng mong lại càng bặt vô âm tín

Nàng đau xót khi đến cha mẹ không có người chăm lo, phụng dưỡng Điển tích

“gốc tử” kết hợp với cụm từ “ đã vừa người ôm” có nghĩa là cha mẹ nàng đã già

yếu Vậy mà nàng xa xôi, cách trở nên không chăm sóc được cha mẹ già Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã đổi thay Tuy xa nhà chưa lâu nhưng nàng ngỡ

như “ cách mấy nắng mưa” Đó là thời gian tâm lí khi TK nghĩ về gia đình, về cha

mẹ Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa cho thấy sự xa cách bao mùa mưa nắng,

vừa gợi được sự tàn phá của thời gian, của thiên nhiên lên con người và cảnh vật

Lần nào nhớ về cha mẹ, Kiều cũng “nhớ ơn chín chữ cao sâu” và luôn ân hận mình

đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy của cha mẹ

Trong hoàn cảnh trớ trêu nhưng Kiều như quên hẳn nỗi đau hiện tại để sống trong tâm tưởng với người yêu, với cha mẹ Nguyễn Du miêu tả rất chân thực, cụ thể nỗi nhớ của nàng Mặt khác, ta còn thấy ngòi bút của ông rất tinh tế khi miêu tả tâm trạng nhân vật Ông đã thể hiện nỗi nhớ của người yêu của Thúy Kiều lên

trước nỗi nhớ cha mẹ tức là chữ “ tình” đặt trước chữ “hiếu”, đảo ngược trật tự của

Trang 5

lễ giáo phong kiến Nhưng cách miêu tả này hoàn toàn phù hợp với logic tâm trạng Bởi lẽ chữ” hiếu” phần nào nàng đã đền đáp Nàng đã bán thân mình có tiền cứu cha và em, cảnh nhà đã tạm yên Còn chữ “tình” đối với Kim Trọng, nàng Kiều cứ day dứt, vì mình đã lỡ hẹn với chàng kim, vì mình mà chàng Kim dang dở Hơn nữa trước khi bước vào con đường lưu lạc, thúy Kiều chưa từng nói lời từ biệt Do vậy, trong hoàn cảnh ở lầu Ngưng Bích cô đơn, nàng nghĩ tới người yêu trước khi nghĩ tới cha mẹ cũng là hợp lẽ Điều đó còn thể hiện Nguyễn Du rất hiểu tình cảm và rất thông cảm với nỗi đau xót xa của Thúy Kiều, như chia sẻ cùng nàng mối tình đầu tan vỡ

=> Nỗi nhớ thương của Kiều đã nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng Hoàn cảnh của nàng lúc này thật xót xa, đau đớn Nhưng quên đi cảnh ngộ bản thân, nàng đã hướng yêu thương vào những người thân yêu nhất Trái tim nàng thật giàu yêu thương giàu đức hi sinh Nàng thật sự là một người tình thuỷ chung, một người con hiếu thảo, một người có tấm lòng vị tha cao cả đáng quý.

* Tám câu thơ cuối: - Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh Mỗi

biểu hiện của cảnh đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng của người – mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lý do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một ghê gớm, mãnh liệt hơn

* Bức tranh thứ nhất:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

- Nguyễn Du đã rất tinh tế khi mượn tứ thơ dân gian “Chiều hôm” là tứ thơ xuất

hiện nhiều trong ca dao xưa nhiều bài ca dao đã bắt đầu bằng mô típ này:

“Chiều chiều ra đứng bờ sông Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò”

- Bức tranh thiên nhiên rộng lớn nơi “ cửa bể” được vẽ vào thời điểm “ chiều hôm” Hình ảnh chiều hôm và cửa bể không chỉ có tính chất gợi không gian và

thời gian mà còn là những hình chỉ không gian và thời gian nghệ thuật Bản thân những hình ảnh đó đã gợi nhớ, gợi buồn, gợi tâm trạng Từ đó các hình ảnh này đã góp phần đặc tả tâm trạng của thúy Kiều khi nhìn ra phía ngoài khơi xa Trong ánh

Trang 6

nắng chiều nhạt nhòa nàng thấy cửa biển mênh mông, chỉ có một cánh buồm thấp

thoáng Từ láy “xa xa, thấp thoáng” gợi ra hình ảnh cánh buồm lúc ẩn lúc hiện

như một thứ ảo ảnh Nhìn cảnh đó tâm trạng của Thúy Kiều rất buồn Phải chăng cảnh buồm ngoài khơi xa khiến thúy Kiều liên tưởng tới thân phận trôi nổi bấp bênh của mình Cũng giống như cánh buồm, nàng cũng lẻ loi đơn côi ở nơi đây Cánh buồm kia rồi cũng có ngày cập bến, còn nàng không biết đến bao giờ trở về quê hương, gặp lại những ngươi thân yêu.Trong lòng nàng dâng lên một nỗi buồn

cô đơn, xa vắng Đó là nỗi buồn của kẻ tha hương, nỗi nhớ gia đình người thân và khát khao xum họp, một nỗi khát khao vô vọng

* Bức tranh thứ 2:

- Đọc tiếp cặp thơ thứ hai ta thấy ánh mắt nàng Kiều gần hơn, nàng thấy trên dòng nước đang chảy có cánh hoa trôi Một câu hỏi thiết tha đã được đặt ra trong tâm trí nàng:

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu

Ở đây, thi hào Nguyễn Du đã cực tả, đặc tả tâm trạng bi thương của Kiều qua

những hình ảnh ẩn dụ giàu giá trị biểu cảm “Dòng nước mới sa” hay chính là dòng

đời, bể đời vô định; hình ảnh “hoa trôi man mác” phải chăng là thân phận người

con gái đang trôi dạt, đang bị vùi dập trư ớc sóng gió cuộc đời? Câu hỏi tu từ “biết

là về đâu?”cất lên như một tiếng than diễn tả tâm trạng xót xa, hoang mang, lo sợ

của Kiều: không biết cuộc đời sẽ trôi nổi đến đâu, tương lai rồi sẽ thế nào hay lại tan tác, bị dập vùi như cánh hóa mỏng manh kia H/ả cánh hoa đã gợi trong lòng nàng nỗi buồn não nề đến vô vọng

* Bức tranh thứ 3:

- Sau đó, ánh mắt của nàng hướng ra xung quanh lầu Ngưng Bích

Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Lại một cảnh mênh mông hoang vắng… “nội cỏ rầu rầu” dàn trải típ tắp tới

tận chân trời xa Vẫn không có một bóng cây, chẳng một bóng nhà để phá bớt cái

màu xanh đơn điệu ấy Màu cỏ không phải là màu xanh tươi tốt mà “rầu rầu” buồn

bã, héo hắt không chút sức sống Ấy thế mà màu xanh ấy cứ trải rộng ra mãi, nối tiếp với vùng trời mênh mang mờ mịt Màu xanh ấy nhợt nhạt, xa xôi làm gợi lên một nỗi niềm ngao ngán tẻ nhạt vô cùng Và có lẽ, màu xanh ấy là màu của tâm trạng được nhìn từ đôi mắt đẫm ướt khổ đau của Thúy Kiều Màu xanh nhạt nhòa

Trang 7

của chân mây, mặt đất hay là ẩn dụ cho tương lai mịt mờ vô vọng của nàng Bởi thế nàng cảm thấy như không cósức sống, không niềm tin, vô vọng và đầy ngao ngán

* Bức tranh thứ tư: Trước mắt nàng là biển trời bão tố:

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh

Ầm ầm sóng vỗ kêu quanh ghế ngồi

Dường như đến đây, nỗi buồn đã dâng cao đến đỉnh điểm, đang trào dâng mạnh

mẽ như vỡ ra trong lòng Kiều Gió cuốn ào ào khiến mặt biển nổi đầy sóng lớn, trắng xóa một màu Sóng gào thét “ầm ầm” như chực cuốn phăng đi tất cả mọi thứ

hiện hữu, kể cả Kiều Từ láy “ầm ầm” được đảo lên câu thơ để nhấn mạnh sự gầm

gào hãi hùng của biển cả Kiều cảm nhận thấy tiếng sóng đang bủa vây xung

quanh, như bao bọc lấy nàng, xiết chặt, gào thét trong tâm hồn nàng Thúy Kiều dường như không còn lối thoát Từng lớp sóng như muốn nhấn chìm nàng xuống vực thẳm đáng sợ! Tiếng sóng kêu ấy hay là tiếng kêu sợ hãi của thúy Kiều khi

nghĩ đến chặng đường sắp tới của mình Cái “gió cuốn mặt dềnh” kia là hình ảnh

ước lệ chỉ những tai họa cuộc đời sắp đổ xuống đầu nàng Câu thơ dự báo về cuộc đời của mình sẽ gặp nhiều sóng gió, trắc trở

- Tám câu thơ được chia đều làm bốn cặp và mở đầu bằng hai chữ” Buồn

trông”.Tác giả đã sử dụng điệp ngữ “buồn trông” tạo âm hưởng trầm buồn cho cả

đoạn thơ và nhấn mạnh, khắc sâu thêm tâm trạng buồn đến đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều Nỗi buồn ấy dâng lên trùng trùng điệp điệp kéo dài theo thời gian, lan tỏa khắp không gian kết thành một chuỗi nỗi buồn kế tiếp nhau không dứt

- Như vậy cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâm cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều Tất cả là hình ảnh về

sự vô định, mong manh, sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa

Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời "thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".

=> Tóm lại: Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” quả thực là một bức tranh tâm tình đầy xúc động với cách sử dụng từ ngữ rất chính xác kết hợp với ngôn ngữ độc thoại nội tâm, cách sử dụng những điển tích văn học cùng với bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, nhà thơ Nguyễn Du đã diễn tả chân thực cụ thể tinh tế diễn biến

tâm trạng của nàng Kiều khi nàng sống ở lầu Ngưng Bích Đó là nỗi cô đơn buồn

Trang 8

tủi, thương nhớ người thân da diết, nỗi buồn lo hãi hùng Có thể thấy đây là bức tranh không chỉ có cảnh đẹp, tình sâu mà hồn nhà thơ cũng thấm sâu vào nhân vật Thấu hiểu và miêu tả tâm trạng nhân vật Kiều cũng có nghĩa là Nguyễn Du cũng đồng cảm với nhân vật cảm thông chia sẻ nỗi đau của nàng Kiều, đó chính là biểu hiện của giá trị nhân văn Đoạn thơ không chỉ được viết lên bằng tài năng văn học

mà còn bằng cả cái tâm của người nghệ sĩ Chính sự kết hợp giữa cái “ tài” và cái “ tâm đó” khiến cho mỗi khi ta đọc lại TK đều thấy xót xa cho người con gái tài hoa bạc mệnh

Ngày đăng: 10/03/2016, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w