Kết cấu đoạn trích: 4 phần + Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thuý Kiều. ( Chân dung chung của hai chị em) + Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân. + Mười hai câu còn lại: gợi tả vẻ đẹp thuý Kiều. + Bốn câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em. III: Giá trị nội dung và nghệ thuật: Nội dung: Khắc hoạ rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thuý Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về số phận nhân vật, đặc biệt là kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều. Nghệ thuật: Sử dụng bút pháp ước lệ lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người. Nhà văn không miêu tả chi tiết cụ thể mà chủ yếu là tả để gợi. Sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật hình ảnh Thuý Kiều.
Trang 1Chị em Thúy Kiều
I Vị trí đoạn trích: Từ câu 15 – 38
II Kết cấu đoạn trích: 4 phần
+ Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thuý Kiều ( Chân dung chung của hai chị em)
+ Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân
+ Mười hai câu còn lại: gợi tả vẻ đẹp thuý Kiều
+ Bốn câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em
III: Giá trị nội dung và nghệ thuật:
* Nội dung: Khắc hoạ rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thuý Kiều, ca ngợi
vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về số phận nhân vật, đặc biệt là kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều
* Nghệ thuật: Sử dụng bút pháp ước lệ - lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật
vẻ đẹp của con người Nhà văn không miêu tả chi tiết cụ thể mà chủ yếu là tả để gợi Sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật hình ảnh Thuý Kiều.
* Giải nghĩa từ ngữ:
- Tố Nga: chỉ người con gái đẹp.
- Mai cốt cách: cốt cách của cây mai mảnh dẻ, thanh tao Tuyết tinh thần: tinh
thần của tuyết trắng và trong sạch Câu này ý nói cả hai chị em đều duyên dáng, thanh cao, trong trắng
- Khuôn trăng đầy đặn: gương mặt đầy đặn như trăng tròn; nét ngài nở nang: ý
nói lông mày hơi đậm, cốt tả đôi mắt đẹp Câu thơ nhằm gợi tả vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân Thành ngữ Tiếng Việt có câu “mắt phượng mày ngài”
- Đoan trang: nghiêm trang, đứng đắn (chỉ nói về người phụ nữ)…
- Làn thu thuỷ: làn nước mùa thu; nét xuân sơn: nét núi mùa xuân Cả câu thơ ý
nói mắt đẹp, trong sáng như nước mùa thu, lông mày đẹp thanh thoát như nét núi mùa xuân
- Nghiêng nước nghiêng thành: lấy ý ở một câu chữ Hán, có nghĩa là: ngoảnh
lại nhìn một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại nhìn cái nữa thì nước người
ta bị nghiêng ngả Ý nói sắc đẹp tuyệt vời của người phụ nữ có thể làm cho người
ta say mê đến nỗi mất thành, mất nước
IV Đề Tập làm văn:
*Đề 1: Phân tích đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều”.
Trang 21 Mở bài: Nguyễn Du là một thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Tên
tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyện Kiều” - kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam Truyện Kiều là một bài ca lớn về giá trị nhân đạo, một bản cáo trạng nghiệm khắc về cái ác, cái xấu trong xã hội - một tập đại thành của nghệ thuật văn chương Chỉ xét riêng về nghệ thuật miêu tả nhận vật, Nguyễn Du đã đạt
đến đỉnh cao chói lọi nhất trong lịch sử tiểu thuyết bằng thơ trích đoạn “Chị em Thúy Kiều” đả thể hiện được trọn vẹn vẻ đẹp, tài năng và đức hạnh của hai chị em
Thúy kiều Chỉ bằng 24 câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã miêu tả cả tài, sắc và đức hạnh của hai chị em Kiều với tất cả lòng quý mến, trân trọng của nhà thơ
a- Bốn câu đầu:
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã giới thiệu chung về vị trí, thứ bậc và đánh giá khái quát về hai Kiều:
“ Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân”
Lời thơ ngắn gọn, súc tích, với phương thức tự sự gói gọn trong 14 chữ nhà thơ đã giới thiệu chúng ta biết đầy đủ thông tin về hai Kiều Đó là hai người con gái đầu lòng của gia đình họ Vương Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân Cách giới thiệu theo đúng trình tự chị trước, em sau Việc sử dụng kết hợp các đại từ nhân
xưng “ ả, chị, em” với danh từ riêng “Thuý Kiều, Thuý Vân”, giữa từ thuần Việt
với từ Hán – Việt khiến cho lời giới thiệu vừa tự nhiên vừa trang trọng Tuy lời thơ chỉ đơn thuần giới thiệu vị trí, thứ bậc hai cô gái nhưng đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của hai nàng Qua hai từ “ tố nga” ta biết đây là hai cô gái đẹp Nhân vật chưa xuất hiện nhưng vẻ đẹp đã ngời sáng, tỏa rạng như ánh trăng rằm
Đến câu thơ sau nhà thơ tập trung miêu tả vẻ đẹp chung của hai nàng
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần”.
Bằng bút pháp miêu tả qua hai hình ảnh ước lệ, ẩn dụ, thiên tài Nguyễn Du đã
phác hoạ vẻ đẹp toàn mĩ trong cốt cách và phẩm hạnh của hai chị em “ Mai, tuyết”
vốn là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời được so sánh với vẻ đẹp của hai nàng, Qua đó ta thấy cả hai Kiều đều có cốt cách yểu điệu, duyên dáng, mềm mại như mai; tâm hồn, phẩm hạnh thanh cao, trắng trong như tuyết Đó là vẻ đẹp hoàn mĩ từ hình thức đến tâm hồn, phẩm giá Biểu tượng thiên nhiên “ mai”,
“tuyết” đã tôn vẻ đẹp của hai chị em lên đến độ toàn bích trong cách nói kiệm lời,
Trang 3cô đúc của thi sĩ Từ việc gợi tả khái quát vẻ đẹp chung của hai người con gái, ông
đã khẳng định:
“Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười”
Với cách ngắt nhịp 4/4, nghệ thuật tiểu đối, cách sử dụng thành ngữ Tiếng Việt (mười phân vẹn mười) và phương thức biểu đạt biểu cảm, tác giả đã khẳng định cả hai đều là những trang tuyệt sắc giai nhân Lời khen của thi nhân chia đều
cho cả Kiều và Vân Nhưng nét bút lại muốn đậm nhạt “ mỗi người một vẻ”, vì thế,
những lời thơ tiếp theo, thi sĩ đã tập trung rọi sáng chân dung của từng người
2/ Mười sáu câu tiếp theo: Nguyễn Du khắc hoạ cụ thể hai bức chân dung Thuý Vân và Thuý Kiều
a/ Thuý Vân- người con gái phúc hậu, đoan trang:
*Nhan sắc: Bốn câu thơ đầu là bức tranh gợi tả nhan sắc của Thúy Vân Đó là một
trang giai nhân tuyệt sắc Khi giới thiệu về thứ bậc trong gia đình, Nguyễn Du đã viết: “Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân” Lẽ thường bao giờ cũng vậy, đặc biệt trong xã hội phong kiến khi mà mọi lễ nghi phải đúng theo quy tắc Nhưng ở đây thì khác, tác giả muốn muốn đặt vấn đề đường nét, màu sắc đậm nhạt lên hàng đầu nên đã không tuân thủ điều này Vì vậy, nét bút đầu tiên thi sĩ đã dành cho Thuý Vân nét bút khái quát vẻ đẹp của nàng:
“Vân xem trang trọng khác vời”
Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung của giai nhân.Từ Hán Việt “ trang trọng” gợi cảm nhận chung về vẻ đẹp của Thúy Vân Đó là vẻ đẹp Thuý Vân, đó là vẻ đẹp cao sang, quý phái Nhưng vẻ đẹp của Vân khác với vẻ
đẹp của những cô gái khác Vẻ “trang trọng” của nàng có nét riêng Từ thuần Việt
“ khác vời” gợi tả vẻ đẹp vượt lên, trội hẳn và khó lẫn Từ lời nhận xét chung đó,
Nguyễn Du tiếp tục phác hoạ những nét cụ thể hơn
“Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang.
Có thể thấy bút pháp ước lệ tượng trưng được sử dụng vô cùng hiệu quả khi gợi
tả nhan sắc của Thúy Vân “Khuôn trăng”, “nét ngài” là hai hình ảnh ước lệ giúp
người đọc thấy được Thúy Vân có khuôn mặt phúc hậu, tròn trịa, tươi sáng như trăng rằm, lông mày sắc nét, đậm như con ngài Khuôn mặt như đẹp hơn, rạng rỡ
và tươi sáng hơn khi Thuý Vân cười “ Hoa cười” là hình ảnh có sức gợi một nụ
Trang 4cười tươi tắn, rạng rỡ như cánh hoa mới nở Đó không chỉ là sự tươi tắn của nụ cười mà còn là sự tươi tắn của khuôn mặt, của nhan sắc giai nhân
Vẻ đẹp đoan trang, quý phái của Thuý Vân còn bộc lộ trong ngôn ngữ, lời nói của
nàng Mỗi khi Thuý Vân “thốt” ra thì âm thanh nghe nhẹ nhàng, trong trẻo như
“ngọc” vậy Động từ “thốt” thể hiện cách nói năng của nàng rất đúng mực…Điều
này phù hợp với tính cách của nhân vật Vẻ đẹp của Thuý Vân có cái bằng nhưng cũng có cái hơn thiên nhiên, tạo hoá:
“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
Nguyễn Du đã dùng nghệ thuật so sánh để làm nổi bật vẻ đẹp của TV Mái tóc của Vân óng ả, bồng bềnh, mềm mại hơn cả mây Làn da của nàng mịn màng, trắng sáng hơn cả tuyết Nguyễn Du đã mượn những hình ảnh đẹp đẽ tinh khôi của thiên nhiên đất trời để so sánh với vẻ đẹp của nàng, có cái bằng và có cái hơn Nhưng vẻ đẹp đó lại tạo nên một sự hoà hợp với thế giới xung quanh Với vẻ đẹp
ấy, thiên nhiên sẵn sàng chấp nhận chịu “thua”, chịu “nhường” Nghệ thuật nhân
hoá khiến thiên nhiên như có hình thể và tính cách như con người
=>Rõ ràng, Thuý Vân đẹp - một vẻ đẹp khá sắc nét nhưng vẫn hồn hậu, thuỳ mị.
Vẻ đẹp viên mãn ấy như lọt giữa đường của cái chân và cái thiện Đó là vẻ đẹp
rất dễ chiếm được cảm tình Nó trong trẻo như suối đầu nguồn, như trăng đầu tháng Tất cả ngôn từ như đều muốn làm nổi bật điều này Nó nhất quán trong phạm trù chuẩn mực, ai cũng chấp nhận, kể cả khuôn phép lễ giáo và sự tuyệt đối của thiên nhiên
* Tính cách: Với bút pháp ước lệ, Nguyễn Du đã giúp người đọc cảm nhận được
chân dung của TV Qua bức chân dung ấy ta còn thấy được tính cách của nàng Đó
là một cô gái đoan trang, thùy mị
* Số phận: Đặc biệt bức chân dung ấy còn có sức gợi liên tưởng đến số phận của
Thúy Vân Các từ “ đầy đặn”, “ nở nang” sử dụng thật giản dị nhưng sức diễn tả
lại rất lớn Nó không chỉ gợi tả sự đầy đặn, nở nang trong nhan sắc mà đây còn là
sự đầy đặn, mĩ mãn của số phận, của cuộc đời nàng
Hai từ “ thua”, “ nhường” khi miêu tả nhan sắc TV được sử dụng rất tinh diệu.
Nó vừa đặc tả vẻ đẹp, vừa thể hiện sự dự cảm của Nguyễn Du về số phận của nàng – một số phận, một cuộc đời bình lặng, êm ả Nàng sinh ra dường như là để hưởng cuộc sống phong lưu, an nhàn, phú quý
Trang 5=> Với bốn dòng thơ thôi vậy mà cũng đủ vẽ lên một sắc đẹp tươi tắn, trẻ
trung, kiều diễm của một cô gái đang độ trăng tròn Qua bức chân dung đó ta cảm
nhận được vẻ đẹp tính cách và số phận của nhân vật TV có nhan sắc sang trọng, đoan trang, quý phái, tính cách thùy mị, số phận phong lưu, an nhàn, suôn sẻ.
Bức chân dung ấy đã phần nào thể hiện được con mắt nhìn người sâu sắc và nghệ thuật miêu tả bậc thầy của Nguyễn Du
b/ Thuý Kiều- một giai nhân tài sắc vẹn toàn:
Mặc dù tả Thuý Vân khá kĩ lưỡng nhưng Nguyễn Du vẫn còn chỗ dành cho Thuý Kiều Cái chỗ ấy chiếm một khoảng không gian không lớn nhưng rất quan trọng Đến đây, chúng ta mới hiểu rõ vì sao tác giả lại tả cô em trước, cô chị sau Thì ra tả Vân mục đích là làm nổi bật Kiều:
‘Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn”
Nhà thơ dùng nghệ thuật so sánh, đòn bẩy, nghệ thuật “tả khách hình chủ” (mượn khách để nói chủ, mượn Vân để tả Kiều) Với nghệ thật đó, Thuý Vân trở thành điểm tựa để chân dung Thuý Kiều nổi lên, trội hẳn Thuý vân đã được tả như một cô gái đẹp hoàn hảo, đằm thắm nhưng chưa đến mức mặn mà, thông tuệ nhưng chưa phải là sắc sảo Vẻ đẹp của Thuý kiều vượt lên trên cái hoàn hảo ấy để
trở thành cái đẹp tuyệt mĩ, toàn bích Chính phó từ “càng” đã khẳng định điều đó Kiều không chỉ sắc sảo mặn mà trong hình sắc mà còn sắc sảo về trí tuệ và “ mặn mà” trong tình cảm, trong tình người Và chính cái đẹp sắc sảo, mặn mà đó mới là
cái đẹp tuyệt đỉnh của người con gái Một chữ “mặn mà” thật đúng với con người Thuý kiều biết bao!
* Nhan sắc:
Khác với Thuý Vân, khi gợi tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du không liệt kê, không miêu tả chi tiết, cụ thể Ngòi bút của ông chỉ ngưng đọng ở đôi mắt – một đôi mắt hoàn mĩ:
“ Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”
Đôi mắt ấy đẹp như một bức tranh, long lanh, trong sáng như làn nước mùa thu gợn sóng Nó không chỉ đẹp, có sức cuốn hút mãnh liệt mà nó còn có tình,
ẩn chứa một sự tinh anh trong tâm hồn và trí truệ Như vậy, khi miêu tả chân dung
Thuý Kiều, Nguyễn Du không chỉ gợi tả “sắc” mà còn thể hiện cái “tình” của
nàng Đôi mắt ấy lại ẩn dưới lớp lông mày thanh tú, tươi tắn như dáng núi mùa
Trang 6xuân Sự kết hợp tuyệt diệu đó càng làm cho vẻ đẹp của Thuý Kiều thêm hài hoà, kiều diễm hơn nhiều phần Cũng là nét ngài nhưng thay cho “nét ngài nở nang” là
sự mơn mởn của “nét xuân sơn” Để rồi “sơn” đi với “thuỷ” thật là hữu tình Những hình ảnh trong trẻo mỹ lệ của thiên nhiên dưới hình thức nghệ thuật ẩn dụ, ước lệ, tượng trưng, tiểu đối được sử dụng tuyệt vời như đúc lại vẻ đẹp của giai nhân trong câu thơ sáu chữ để rồi mở rộng hơn, nâng cao hơn vẻ đẹp ấy đến tột đỉnh trong một so sánh khái quát:
“ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
- Với Thuý Vân – một người con gái có vẻ đep đoan trang, phúc hậu, có tính chất
thung dung điềm đạm, thiên nhiên sẵn sàng “thua” và “ nhường” còn vẻ đẹp của
Kiều khiến cho hoa cũng phải “ghen”, liễu cũng phải “ hờn”, hay nói cách khác nhìn vẻ đẹp của Thuý Kiều thiên nhiên, tạo hoá nhận ra khuyết điểm của mình, để rồi mặc cảm với chính mình Từ đó mới nảy sinh thái độ ghen ghét, đố kị Nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, tiểu đối được sử dụng một cách tài tình khiến cho tính chất đố kị của thiên nhiên với vẻ đẹp của Kiều càng tăng thêm gấp bội
- Với việc sử dụng thành ngữ Tiếng Việt và điển cố văn học “Một hai nghiêng nước nghiêng thành”, Nguyễn Du đã khẳng định: Kiều có một vẻ đẹp tuyệt thế
giai nhân, trên đời không ai sánh bằng (Sắc đành đòi một – nhan sắc thì chỉ có một mình kiều mà thôi) Nhan sắc của Thuý Kiều rõ ràng thuộc đẳng cấp khác, ở bên kia của giới hạn thông thường
* Tài năng: Kiều không chỉ đẹp mà còn là một cô gái thông minh và rất mực tài
hoa Nguyễn Du đề cao sắc đẹp của Kiều nhưng ông chỉ miêu tả sắc đẹp trong ba câu thơ, trong khi đó lại dành tới sáu câu thơ để nói về tài năng của nàng Phải chăng đó là một dụng ý nghệ thuật của ông Nếu như khi nói về Thuý Vân, nhà thơ chỉ miêu tả nhan sắc thì với Thuý Kiều ông lại rất chú trọng đến tài năng Sáu câu thơ liên tiếp miêu tả tài năng trên mọi phương diện của nàng :
" Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ắn đứt hồ cầm một chương Khúc nhà tay lựa nên chương.
Một thiên tài bạc mệnh lại càng não nhân”.
Trang 7Kiều là một cô gái " thông minh vốn sẵn tính trời", đó là một trí thông minh
thiên bẩm - một quà tặng của tạo hóa Không chỉ thông minh, Thúy Kiều còn rất nhiều tài năng Theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến, một người con gái có tài năng phải giỏi “ cầm, kì, thi, hoạ” ( đánh đàn, chơi cờ, làm thơ, vẽ tranh) Kiều đã đạt đến mức lý tưởng ấy Nàng có một tài năng hiếm có, một năng khiếu trời
Những chữ “ pha nghề”, “ đủ mùi”, “lầu”, “ ăn đứt”, “nghề riêng”, “khúc nhà”
đã nói đã khẳng định tài của Kiều là toàn diện, tài nào cũng tuyệt đỉnh Đặc biệt sở trường hơn người của nàng là đánh đàn: “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương” Nàng còn giỏi nhạc đến mức soạn riêng cho mình khúc nhạc bạc mệnh ai nghe
cũng buồn thảm Với vẻ đẹp và tài năng ây, nhà thơ đã khẳng định: “ Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai”
-> Dùng 6 câu thơ để nói về cái tài chính là Nguyễn Du muốn nhấn mạnh thêm cái sắc đẹp của Thuý Kiều Đó là vẻ đẹp hoàn
mĩ, toàn bích
* Tình: Tả sắc, kể tài là để gợi cái tình Kiều không chỉ có một vẻ đẹp
mặn mà, tài năng thiên bẩm mà còn có một tâm hồn đa sâu đa cảm Bởi vậy không ngẫu nhiên mà Nguyễn Du là đặc tả đôi mắt của nàng Và đôi mắt của Thúy Kiều không chỉ đẹp mà đó còn là một đôi mắt có hồn Đôi mắt của một con người đa sầu, đa cảm
- Sự đa cảm của Kiều còn được thể hiện ngay trong khúc " Bạc mệnh" của nàng
Cung đàn mà Kiều sáng tác ấy chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm, là tiếng nói nội tâm sâu sắc Điều đó không những chứng tỏ cái
“tài” mà còn thể hiện cái “tình” của nàng đối với cuộc đời.
c Đánh giá nâng cao: Chỉ trong 12 câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du đã ca
ngợi và khẳng định một nhan sắc mặn mà, một tài năng hiếm có, một cái tình
đằm thắm Tất cả đều đạt đến mức tuyệt mĩ Tạo hóa đã ban tặng cho nàng quá nhiều mà ở đời vốn có lẽ công bằng, ca dao đã từng nói :
"Một vừa phải ai ơi Tài tình chi lắm cho trời đất ghen"
Bản thân Nguyễn Du cũng đã từng quan niệm : "Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau ; Chữ tài liền với chữ tai một vần" Vậy mà dưới ngòi bút của
Nguyễn Du, vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp cả sắc – tài – tình Một
lần nữa, chúng ta lại thấy nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Nguyễn Du tuyệt vời đến
Trang 8mức nào Chỉ với hai chữ “ghen”, “hờn” vậy thôi mà vừa gợi tả được vẻ đẹp
tuyệt mĩ của Thuý Kiều lại vừa dự báo được tương lai, số phận, cuộc đời của
nàng Đó là một số phận không yên ổn, lênh đênh chìm nổi trong gió bụi cuộc
đời Ở đây, Nguyễn Du đã lồng sự linh cảm đó trong nét bút tài hoa gợi tả nhan sắc của Kiều Hình như một số phận bạc bẽo, éo le đã dành sẵn trước cho Thuý Kiều
- Khẳng định tài năng NT của ND: Đoạn trích đã thể hiện bút
pháp nghệ thuật bậc thầy của ND trong việc khắc họa và xây nhân vật Vẽ chân dung Thuý Kiều cũng như Thuý Vân, Nguyễn
Du đã sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng quen thuộc trong thơ Nôm thời Trung đại Qua đó, chân dung mỗi nhân vật hiện lên rất
sống động, có hồn Đặc biệt qua mỗi chân dung đó, người đọc cảm nhận được tính cách và dự cảm số phận nhân vật
- Đoạn trích còn thể hiện thái độ trận trọng, ca ngợi của ND đối với người phụ nữ trong xã hội Đó là sự thể hiện một phương diện của giá trị nhân đạo
Giáo sư Đặng Thanh Lê đã nhận xét: Nguyễn Du khắc hoạ
chân dung Thuý Kiều, Thuý Vân để “thể hiện khuynh hướng tâm
lí hoá ngoại hình và hơn thế nữa khuynh hướng thân phận hoá phẩm cách nhân vật”.
c/ Đến bốn câu thơ cuối, Nguyễn Du nhận xét chung về cuộc
sống của hai chị em:
“Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”
Ở đây, ông đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ (Phong lưu rất mực hồng quần; Êm đềm trướng rủ màn che) để nhấn mạnh cuộc sống phong lưu, êm đềm của chị em Thuý Kiều Họ đều đã “ xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” Cái hay của câu thơ này là ở cách sử dụng phối hợp các phụ âm một cách tài tình Một câu thơ
mà thi sĩ đã dùng tới bốn phụ âm “x” ( xuân xanh xấp xỉ), hai phụ âm “t” ( tới tuần), hai phụ âm “ c – k” (cập kê) Sự cộng hưởng của các phụ âm này trong một dòng thơ đã tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, êm đềm của cuộc sống yên vui, êm ấm của
Trang 9thiếu nữ phòng khuê Với việc dùng một loạt từ Hán – Việt: “Phong lưu”,
“hồng quần”, “cập kê” và thành ngữ Tiếng việt “trướng rủ màn che”, tác giả đã nhấn mạnh cả hai chị em đã đến tuổi yêu, tuổi lấy chồng Mặc dù vậy, họ vẫn giữ được nền nếp gia đình: “ Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai”
Sự đối lập giữa khát vọng và thái độ của chị em Thuý Kiều càng làm tăng thêm vẻ đẹp về đức hạnh của hai người, khiến ai cũng động lòng trắc ẩn
Tóm lại, đoạn thơ nói về “ chị em Thuý kiều” là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều Nó đã để lại cho người đọc biết bao rung cảm thẩm mĩ Đoạn trích thể hiện một tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du Ngôn ngữ cô đúc, lời thơ giàu cảm xúc Các phép tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hoá, nghệ thuật đòn bẩy….được Nguyễn Du vận dụng một cách tài tình Vì thế, dù ông sử dụng ngôn ngữ hình ảnh ước lệ, tượng trưng, công thức nhưng bức chân dung của hai thiếu nữ Vân – Kiều vẫn hiện lên một cách cụ thể hấp dẫn, sinh động và có hồn Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp con người là một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân
đạo ở Truyện Kiều.