1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng học thuyết cận biên

39 557 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Herman Gossen 1810 - 1858 - Định luật nhu cầu: Thỏa mãn nhu cầu từ bất kỳ một sản phẩm nào đó càng tăng thì giá trị của nó sẽ giảm dần cho đến “không còn giá trị nữa” - Tư tưởng về ích

Trang 1

CHỦ ĐỀ 4

HỌC THUYẾT CẬN BIÊN

Trang 2

4.1 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HỌC THUYẾT CẬN BIÊN

• Các lý thuyết kinh tế hiện tại khó khăn trong giải quyết các vấn đề kinh tế thị trường mới phát sinh

• Ủng hộ lí thuyểt giá trị chủ quan

• Ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước

• Sử dụng công cụ toán học, mô hình, công thức lượng hóa vào quá trình phân tích kinh tế, góp

Trang 3

Herman Gossen (1810 - 1858)

- Định luật nhu cầu: Thỏa mãn nhu cầu từ bất kỳ một sản phẩm nào đó càng tăng thì giá trị của nó sẽ giảm dần cho đến “không còn giá trị nữa”

- Tư tưởng về ích lợi gới hạn: Vật phẩm có ích lợi có

thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (Ích lợi khách quan, chủ quan, cụ thể, giới hạn)

Trang 4

WILLIAM JEVONS Ông có những đóng góp quan

trọng trong mở đầu cho dùng toán học trong phân tích

vi mô về kinh tế chính trị, kinh tế thực tế, lý thuyết tiện ích, những vấn đề về giới hạn nguồn tài nguyên …

FRANCIS YSIDRO EDGEWORTH là giáo sư kinh

tế chính trị tại Oxford, đóng góp đặc biệt của ông đối với kinh tế là việc áp dụng các phép đo toán học, có công trong việc đưa vào trong nghiên cứu phương pháp

4.2 HỌC THUYẾT WILLIAM JEVONS VÀ

SỰ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CỦA ÔNG BỞI

FRANCIS YSIDRO EDGEWORTH

Trang 5

Anne Bobert Jacques Turgor (1727-1771)

Người đầu tiên bênh vực cho lí luận chủ quan về giá trị; phân biệt 2 loại giá trị:

Giá trị chủ quan (được đánh giá theo chủ quan của một người nào đó đánh giá một vật phẩm nào đó)

Giá trị khách quan (được đánh giá ở trên thị trường – thể hiện giá trị trao đổi)

Giá trị trao đổi phụ thuộc giá trị chủ quan Nghĩa là giá trị không phải do lao động quyết định mà do sự ích lợi của vật phẩm quyết định.

4.3 HỌC THUYẾT CỦA ĐẠI DIỆN TRƯỜNG PHÁI CẬN BIÊN ÁO

Trang 6

Phái thành Viene

Đại biểu nổi bật là K Menger (1840 - 1921)

Điểm khác biệt trong lý thuyết giá trị của phái thành Viene [so với lý thuyết giá trị - ích lợi

mà Xe1nephon, A.Turgor, J.Say ủng hộ]

Phái thành Viene đưa ra lý thuyết giá trị - ích lợi, giá trị chủ quan trên cơ sở kết hợp phạm trù “ích lợi giới hạn”, “giá trị giới hạn”

Trang 7

Một là Lý thuyết “ích lợi giới hạn”

K Menger (1840 - 1921) vận dụng thuyết nhu cầu của

- Cùng với đà tăng lên của vật để thỏa mãn nhu cầu,

“mức độ bão hòa” về vật phẩm tăng lên, còn mức độ cấp thiết của nhu cầu thì giảm xuống Do vậy, vật sau đưa ra để thoả mãn nhu cầu có ích lợi ít hơn vật trước

Trang 8

• Với một lượng sản phẩm nhất định thì vật phẩm cuối cùng là “vật phẩm giới hạn”; ích lợi của nó là “ích lợi giới hạn” Nó quyết định ích lợi chung của tất cả các vật khác

Ví dụ, một ngày dùng 4 thùng nước

• Như vậy “ích lợi giới hạn” sẽ là ích lợi của thùng nước thứ tư, nó là 1- ích lợi ít nhất 1 sẽ là ích lợi chung của tất cả các thùng nước

• Vậy ích lợi giới hạn là ích lợi của vật phẩm cuối cùng đưa ra thỏa mãn nhu cầu, nó có ích lợi nhỏ nhất và

Trang 9

• Số lượng vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu tỷ lệ thuận với “mức độ bão hòa” về vật phẩm và tỷ

lệ nghịch với mức độ cấp thiết của nhu cầu.

• Nếu số sản phẩm cứ tăng lên mãi thì “ích lợi giới hạn” có thể dẫn đến không Trong ví dụ trên vì nước có quá nhiều, nên không còn khan hiếm nữa, do vậy nước chỉ có ích lợi trừu tượng, tức ích lợi chung.

Trang 10

• Trên cơ sở lý luận “ích lợi giới hạn” phái thành Viene xây dựng lý luận “giá trị giới hạn” Lý luận này phủ nhận lý luận giá trị của lao động.

• “Ích lợi giới hạn”, tức ích lợi của sản phẩm cuối

cùng quyết định giá trị sản phẩm

• “Giá trị giới hạn” chính là giá trị của “sản phẩm

giới hạn”, quyết định giá trị của tất cả các sản phẩm khác

• Trong ví dụ “ích lợi giới hạn” là 1, vậy giá trị của mỗi thùng nước đều là 1

Trang 11

Hai là Giá trị trao đổi

• K Menger cho rằng giá trị trao đổi là chủ quan, yếu tố tâm lý, nhu cầu đóng vai trò quan trọng

• (sở dĩ 2 người trao đổi sản phẩm cho nhau, chỉ vì

cả 2 đều tin rằng sản phẩm mà mình bỏ ra đối với mình, ít giá trị hơn so với sản phẩm mà mình thu về)

• Khi trao đổi, các cá nhân tính toán căn cứ vào nhu cầu, tức là so sánh giữa sản phẩm mình sẽ có sau khi trao đổi với nhu cầu của bản thân Nếu có lợi anh

ta mới chịu trao đổi

Trang 12

• Ví dụ 2 nông dân A và B đều có bò và ngựa Nông dân A nhiều bò và ít ngựa; nông dân B

có nhiều ngựa, ít bò nên các ông sắp xếp thứ

tự giá trị như sau:

• Vì ít ngựa, nhiều bò nên nông dân A đánh giá giá trị giới hạn của ngựa cao hơn bò Nông dân B thì ngược lại

• Cả 2 người này do thứ tự thang bậc giá trị giữa ngựa và bò là khác nhau nên họ cho rằng trao đổi sẽ có lợi cho họ

Trang 13

B có 7 ngựa và 3 bò

ngựa thứ 7 với giá trị là 4 nhưng thêm 1 con bò thứ 4 với giá trị là 6 [LỢI 4]

• Trao đổi lần II: B bỏ ra 1 con ngựa nữa với giá trị là

5 và thu về con bò có giá trị là 5 [HUỀ]

cũng mất thêm 1 con ngựa

có giá trị là 6 thu về 1 con

bò có giá trị là 4, lỗ mất 2.

[KHÔNG ĐỔI NỮA]

A có 7 bò và 3 ngựa

bò thứ 7 với giá trị là 4

nhưng thêm 1 con ngựa

thu từ giá trị là 6 [LỢI 4]

con bò nữa với giá trị là 5

và thu về con ngựa nữa

có giá trị là 5 [HUỀ]

thêm 1 con bò có giá trị

là 6 và thu về 1 con ngựa

có giá trị là 4, lỗ mất 2

[KHÔNG ĐỔI NỮA]

Trang 14

K Menger đưa ra 2 điều kiện để hành vi trao đổi thực hiện được là:

- Cả 2 người đều phải có lợi trong trao đổi.

- Sản phẩm dư thừa của người này là khan hiếm của người kia và ngược lại.

Theo K Menger, hành vi trao đổi tạo ra ích lợi nên phải quan niệm như nó có tính chất sản xuất.

Trang 15

• Ba là Các hình thức giá trị

• Lý luận giá trị của K Menger được Bohm

Bawerh (1851-1914) tiếp tục phân tích, và phân loại thành:

Giá trị khách quan: xuất phát từ tác dụng

của 1 vật trong việc mang lại cho ta 1 kết quả

cụ thể

• Giá trị khách quan là mối quan hệ giữa vật

và kết quả xuất phát từ việc sử dụng vật đó Mối quan hệ này không bao hàm những phán đoán chủ quan của con người

Trang 16

– Giá trị chủ quan: xuất phát từ sự tiêu

dùng những kết quả mà sản phẩm đó

mang lại cho con người và con người

quyết định sử dụng nó như thế nào

– Ví dụ, củi đem đốt sẽ cho ta 1 nhiệt lượng là giá trị khách quan, tức tương quan giữa nhiệt lượng và số lượng củi đem đốt là giá trị khách quan

– Nếu ta phán đoán số nhiệt lượng đó giúp ta

sử dụng để sưởi ấm chẳng hạn, thì có nghĩa

là người ta đề cập đến giá trị chủ quan

Trang 17

Từ sự phân biệt trên, Bohm Bawerk cho rằng,

một vật phẩm có thể có 4 hình thức giá trị:

• - Giá trị sử dụng chủ quan.

• - Giá trị trao đổi chủ quan.

• - Giá trị sử dụng khách quan.

• - Giá trị trao đổi khách quan.

• Căn cứ của sự phân chia này là nơi nhận sản phẩm, của cải tới tay ai?

• [Để làm rõ vấn đề, xem 2 ví dụ sau]

Trang 18

• Vd1: Làm thế nào để xác định giá trị của tủ sắt

- Căn cứ vào chỗ ai sẽ là chủ sở hữu của nó Nếu chủ của nó là 1 nhà trí thức thì ông xác định tủ sắt có giá trị sử dụng

- Nếu chủ của nó là 1 nhà buôn thì ông xác định tủ sắt có giá trị trao đổi

Cả nhà trí thức và nhà buôn đều là chủ quan, vậy

tủ sắt có giá trị sử dụng chủ quan và giá trị trao đổi chủ quan.

Trang 19

• Vd2: 1m3 củi có chứa nhiệt lượng nhất định.

- Nếu đốt củi để tạo ra nhiệt lượng rồi dùng vào một công việc nào đó thì đó là định giá trị sử dụng khách quan

- Nếu chỉ căn cứ vào số nhiệt lượng chứa đựng để tính toán rồi đem củi đổi lấy vật khác thì định giá trị trao đổi khách quan

Trang 20

Bốn là Sự tách rời giá trị với lợi ích

Theo Von Wieser (1851-1926) giữa giá

trị và lợi ích có sự tách biệt.

• Khi số lượng sản phẩm càng tăng lên để thỏa mãn nhu cầu thì “ích lợi giới hạn” sẽ giảm dần “giá trị giới hạn” cũng giảm và

do vậy tổng “giá trị giới hạn” cũng giảm

Trang 21

• Theo ví dụ về các thùng nước, thì

thùng thứ 4 là “sản phẩm giới hạn” có giá trị là 1 Vậy giá trị tổng cộng của 4 thùng nước là 1 x 4 = 4

• Như vậy số lượng hàng hóa tăng lên thì giá trị hàng hóa sẽ giảm Từ đó ông cho rằng muốn có nhiều giá trị phải tạo ra sự khan hiếm.

Trang 22

• Tuy nhiên, nếu căn cứ trên ích lợi, thì tuy 4 thùng nước là như nhau về

phẩm chất và công dụng, nhưng vì mỗi thùng nước được sử dụng vào những mục đích khác nhau với nhu cầu và cường độ nhu cầu cũng khác nhau Suy ra:

Ích lợi tổng cộng của 4 thùng nước là:

9 + 4 + 2 + 1 = 16

Trang 23

• Nếu số sản phẩm tăng lên mãi thì “ích lợi giới hạn” có thể tiến tới 0

• Lúc đó vật chỉ có ích lợi trừu tượng (tức

là nói ích lợi chung) do đó không có ích lợi

cụ thể nữa (tức là ích lợi gắn với 1 số

lượng vật phẩm nhất định)

• Khi vật có ích lợi trừu tượng thì ích lợi

đó không tạo ra giá trị.

Trang 24

Thuyết lợi tức của Bohm Bawerk

• Cơ cấu SX CNTB phụ thuộc 1 phần vào

tỷ suất lợi tức (là giá cả của tương lai, là

sự biểu hiện của giảm giá TB theo thời gian)

• Ai cũng thích của cải hiện tại hơn là của cải tương lai Người có tiền khi cho vay

đã phải hy sinh sở thích của mình Nên lợi tức chẳng qua là việc trả công cho sự hy sinh đó

Trang 25

• Những nhân tố ảnh hưởng đến TSLT:

- Lý do tâm lý: do không thể chi phối được

tương lai và sự giảm sút giá trị TB theo thời gian ảnh hưởng tới mức lợi tức.

- Lý do kinh tế: căn cứ vào sự khác nhau

trong quan hệ giữa của cải và nhu cầu của mỗi cá nhân.

Thuyết lợi tức của Bohm Bawerk

Trang 26

- Lý do kỹ thuật: quá trình SX TBCN

thường có năng suất vật chất “số lượng SP lớn hơn với LĐ ngang trước” và năng suất bằng giá trị của chúng có xu hướng giảm xuống trong tương lai.

=> Có mối quan hệ nghịch giữa lợi tức với

cơ cấu SX và độ dài của thời kì SX Nếu lợi tức giảm thì cơ cấu SX và độ dài của thời kì

SX sẽ tăng lên và ngược lại.

Thuyết lợi tức của Bohm Bawerk

Trang 27

PHÁI “GIỚI HẠN” Ở MỸ

với các đại biểu

- John Bates Clark (1847 - 1938):

Nghiên cứu kinh tế tĩnh

- John Maurice Clark (1884 - 1963):

Nghiên cứu kinh tế động

Trang 28

John Bates Clark (1847-1938)

+ Phân kinh tế chính trị thành:

Kinh tế tổng hợp Kinh tế tĩnh Kinh tế động

J.B.Clark nghiên cứu nhiều vấn đề của kinh tế tĩnh

và đưa ra các lý thuyết: "năng suất giới hạn", lý thuyết "phân phối".

Trang 29

Con trai J.B.Clark là John Maurice Clark

(1884-1963) Nghiên cứu kinh tế động và đưa ra

Lý thuyết "Năng suất giới hạn"

• Theo David Ricardo, khi điều kiện của các

nhân tố khác không đổi, thì sự gia tăng thêm của một nhân tố sản xuất nào đó sẽ làm cho năng suất của nhân tố tăng thêm đó giảm đi

• Ví dụ: khi quy mô tư bản không đổi, nhưng

số lượng công nhân cứ tăng lên thì năng suất của công nhân mới sẽ thấp hơn so với công nhân thuê trước

Trang 30

• Phối hợp các lý thuyết Năng suất giới hạn của

J.B.Clark; Lý thuyết "Ba nhân tố" của Say;

lý thuyết "Năng suất bất tương xứng" của

D.Ricardo và lý thuyết "ích lợi giới hạn" của trường phái Vienne

J.B Clark cho rằng: Ích lợi của lao động tăng thêm lại giảm sút, do vậy người công nhân được thuê sau cùng là "công nhân giới hạn" tạo ra "sản phẩm giới hạn" theo "năng suất giới hạn" Năng suất giới hạn này quyết định năng suất của tất cả các công nhân khác

Trang 31

J.B Clark cho rằng:

Ích lợi của lao động tăng thêm lại giảm sút, do vậy người công nhân được thuê sau cùng là "công nhân giới hạn" tạo ra "sản phẩm giới hạn" theo "năng suất giới hạn" Năng suất giới hạn này quyết định năng suất của tất cả các công nhân khác

Trang 32

Ích lợi của LĐ thể hiện ở NS của nó Song NSLĐ của công nhân vận động ngược chiều với đà tăng lên số lượng công nhân

Do vậy, người công nhân được thuê sau cùng là người “công nhân giới hạn”, NS của họ là “NS giới hạn” nó quyết định NS của tất cả các công nhân khác.

Lý thuyết “năng suất giới hạn”

Trang 33

• Trên cơ sở lý thuyết “NS giới hạn” và

lý thuyết “năng lực chịu trách nhiệm”, J.B.Clark đưa ra lý thuyết phân phối

• Thu nhập là “năng lực chịu trách nhiệm” của các nhân tố SX Còn “lý luận về 3 nhân tố”, có 3 nhân tố tham gia vào SX ra giá trị

Lý thuyết phân phối

Trang 34

• Có 3 hình thức thu nhập phù hợp với 3 nguồn gốc của giá trị: LĐ của công nhân tạo nên tiền lương, TB tạo nên lợi nhuận, ruộng đất tạo ra địa tô

• Công nhân có lao động, nhà TB có TB, địa chủ có ruộng đất, tất cả họ đều nhận được phần “SP giới hạn” tương ứng

Lý thuyết phân phối

Trang 35

• Tiền lương công nhân bằng “SP giới hạn” của LĐ; lợi tức là “SP giới hạn” của TB cho vay; địa tô bằng “SP giới hạn” của đất đai; phần còn lại là lợi nhuận của nhà kinh doanh.

• Với sự phân phối như vậy Clark cho rằng sẽ không còn sự bóc lột nữa

Lý thuyết phân phối

Trang 36

• Người công nhân “giới hạn” nhận được sản phẩm đầy đủ do anh ta tạo ra -> anh ta không

bị bóc lột

• Những công nhân khác nhận được tiền lương theo mức tiền lương của người công nhân “giới hạn” -> họ cũng không bị bóc lột.

• Nguyên tắc này được áp dụng để trả công

Lý thuyết phân phối

Trang 37

Leon Walras

• Leon Walras phát triển ý tưởng của tiện ích cận biên

và do đó được coi là một trong những người sáng lập của "cuộc cách mạng biên." Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất Walras là cân bằng tổng thể lý thuyết

• Amstein giúp Leon Walras về xây dựng các điều kiện

toán học của chi phí tối thiểu của sản xuất, Amstein đã giới thiệu cho ông một mô hình năng suất cận biên gần như hoàn hảo, thậm chí sử dụng các phương pháp nhân của Lagrange

4.4 Học thuyết phái thành Lausanne (Thụy Sỹ)

đại biểu Leon Walras (1834-1910) Wiefredo Damaso Pareto (1848-1923)

Trang 38

W Pareto cho rằng, lợi tức là giá cả của tiết kiệm

Lợi tức phụ thuộc vào 2 nhân tố:

- Thứ 1, phụ thuộc vào thu nhập mà nhờ có nó mà người ta có được.

- Thứ 2, phụ thuộc vào nhu cầu dự trữ.

• Pareto được coi là người khai trương cho kinh tế vi mô hiện đại

• Ông cũng được coi là người đã phá hủy các liên minh kinh tế và triết học thực dụng

Wiefredo Damaso Pareto (1848-1923)

Trang 39

• Ông cho rằng một hệ thống kinh tế khi có nhóm này được lợi ích và sự hài lòng tối đa thì sẽ có tác động làm cho nhóm người khác tồi tệ hơn

• Pareto tối ưu được sử dụng rộng rãi trong kinh

tế phúc lợi và lý thuyết trò chơi

• Một lý tiêu chuẩn là một thị trường cạnh tranh hoàn hảo tạo ra các bản phân phối của cải mà là tối ưu Pareto

HET

Ngày đăng: 10/03/2016, 09:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• Có  3  hình  thức  thu  nhập  phù  hợp  với  3  nguồn gốc của giá trị: LĐ của công nhân tạo  nên tiền lương, TB tạo nên lợi nhuận, ruộng  đất tạo ra địa tô - Bài giảng học thuyết cận biên
3 hình thức thu nhập phù hợp với 3 nguồn gốc của giá trị: LĐ của công nhân tạo nên tiền lương, TB tạo nên lợi nhuận, ruộng đất tạo ra địa tô (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w