Từ đó có thể định nghĩa một cách chính xác hơn, nói rõ hơn về đối tượng nghiên cứu của lô gích học biện chứng:“Lô gích học biện chứng là khoa học về những quy luật và hình thức tư duy ph
Trang 1BÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG DUY VẬT
(LÔ GÍCH BIỆN CHỨNG) Người biên soạn: PGS.TS Trần Ngọc Linh
Theo Aristote, lô gích học là công cụ giúp chúng ta tư duy đúng đắn, mạch
lạc, là khoa học nghiên cứu những quy luật và hình thức của tư duynhằm hướng
nhận thức con người đạt tới chân lý
Quan niệm này tồn tại suốt hơn 20 thế kỷ, lô gích học truyền thống (lô gíchhình thức, công thức lô gích, công thức và quy tắc tư duy) đến nay vẫn đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển của tư duy khoa học
Cũng như mọi khoa học khác, lô gích học luôn luôn được bổ sung và pháttriển Nhưng bản thân lô gích truyền thống có những hạn chế của nó, thể hiện ởchỗ lô gích truyền thống chỉ xem xét các hình thức của tư duy trong sự cô lập,không vận động, phát triển
Để nghiên cứu, xem xét thế giới vật chất trong sự vận động, biến đổi khôngngừng, trong những mối liên hệ mật thiết không thể tách rời giữa các yếu tố cấuthành lên nó, đúng như nó vốn có, ngoài lô gích hình thức cần phải bổ sung có mộtcông cụ thích hợp hơn, khắc phục được những hạn chế của lô gích hình thức Đó là
lô gích biện chứng Lô gích biện chứng nghiên cứu những quy luật, những hìnhthức của tư duy trên lập trường, nguyên tắc duy vật biện chứng
Trang 2Lô gích biện chứng sẽ cùng với lô gích hình thức (lô gích truyền thống)giúpcho con người nhận thức, phản ánh thế giới hiện thực khách quan một cách đúngđắn hơn, chính xác hơn.
Người đầu tiên nghiên cứu lô gích học biện chứng một cách toàn diện, có hệthống là nhà triết học duy tâm vĩ đạiGeorg Wilhelm Friedrich Hegel1
Hegel cho rằng, tư duy của con người phải đi theo lô gích nội tại của chính
thực tại, nghĩa là phải đồng nhất lý tính với thực tại; lô gích và các quan hệ lô gích
phải được thể hiện trong cái hiện thực chứ không phải trong cái suy luận trống
rỗng, bởi vì triết học là sự khám phá cái có lý, nó là sự thấu triệt cái hiện tại và cáihiện thực, chứ không phải là tạo ra một cái gì đó siêu việt (siêu thực), giả định làđang tồn tại mà chẳng ai biết là đó đang ở đâu
Theo Hegel, lô gích học là tiến trình mà qua đó chúng ta diễn dịch từ cáckinh nghiệm của chúng ta về cái hiện thực những phạm trù mô tả về (ý niệm) tuyệtđối.Tiến trình này chính là tâm điểm của triết học biện chứng của Hegel
Quan niệm biện chứng về tư duy của Hegel chỉ ra một chuyển động ba giaiđoạn (tam đoạn thức), đi từ chính đề (thesis) sang phản đề (antithesis) rồi kết thúc
ở hợp đề (synthesis) Nhưng hợp đề này lại trở thành một chính đề (thesis) mới và
1 Georg Wilhelm Friedrich Hegel (phát âm: [ˈgeɔʁk ˈvɪlhɛlm ˈfʁiːdʁɪç ˈhegəl]; 27 tháng 8 năm 1770 - 14 tháng 11 năm 1831) là một nhà triết học người Đức, cùng với Johann Gottlieb Fichte và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling, Hegel được coi là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm Đức.
Hegel là người có ảnh hưởng tới vô số các nhân vật, bao gồm cả những người hâm mộ ông (Bauer, Marx, Bradley, Sartre, Küng) lẫn những người nói xấu ông (Schelling, Kierkegaard, Schopenhauer, Nietzsche, Heidegger, Russell) Ông bàn luận về mối quan hệ giữa tự nhiên và tự do, tính nội tại và sự siêu nghiệm, về sự thống nhất của hai mặt
mà không phải loại trừ hay giảm bớt thái cực nào Những khái niệm có tầm ảnh hưởng của ông là về logic phân tích, biện chứng, chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối, tinh thần, biện chứng về "ông chủ/nô lệ", về cuộc sống đạo đức và tầm quan trọng của lịch sử Hegel bị kết tội là cha đẻ của chủ nghĩa phát xít, dù nhiều người ủng hộ ông lại không đồng ý với nguyên tắc này.
Dù thế nào đi nữa thì Hegel vẫn là người có công lớn trong việc phát triển triết học thế giới vì ông là người đầu tiên
sử dụng phép biện chứng một cách có hệ thống, chính nhờ vào phép biện chứng của Hegel và sự kết hợp một cách hữu cơ với thế giới quan duy vật mà Marx đã có những thành công rực rỡ trong việc phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, là hạt nhân của chủ nghĩa Marx-Lenin ngày nay.
Công trình Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học lô gích (Logik der enzyklop die) nằm trong
bộ Hiện tượng luận về trí tuệ được C.Mác đánh giá như là “cái nôi thật và bí ẩn của triết lý Hegel”
Trang 3một chuyển động ba giai đoạn mới lại bắt đầu.Cứ như thế cho đến khi quá trình tưduy kết thúc ở “Ý niệm tuyệt đối”.
Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Hegel đã xây dựng được một
lý luận biện chứng với tư cách là lô gích học và phương pháp luận.Đồng thời, ông
đã kết hợp phương pháp biện chứng với lô gích học thành một quan niệm thốngnhất về lô gích biện chứng
Hegel nhấn mạnh rằng, trong lô gích học biện chứng của ông tư duy luônvận động, mâu thuẫn trong tư duy không làm cho quá trình tư duy dừng lại, mà cótác động như một động lực tích cực trong việc suy lý của con người
Phương pháp biện chứng là linh hồn của lô gích học biện chứng.Tuy nhiên,phương pháp biện chứng cũng như lô gích học biện chứng của Hegel có một hạnchế cơ bản là chúng được xây dựng trên cơ sở lập trường duy tâm
C.Mác, Ph.Ăng ghen và V.I.Lê nin đã kế thừa hạt nhân hợp lý và khắc phụcnhững yếu tố duy tâm trong học thuyết biện chứng của Hegel và xây dựng nên họcthuyết về phương pháp biện chứng và lô gích học biện chứng trên lập trường củachủ nghĩa duy vật biện chứng
Từ đó có thể định nghĩa một cách chính xác hơn, nói rõ hơn về đối tượng
nghiên cứu của lô gích học biện chứng:“Lô gích học biện chứng là khoa học về
những quy luật và hình thức tư duy phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của thế giới hiện thực khách quan, về những quy luật của quá trình nhận thức chân lý”.
Cũng có thể hiểu lô gích học biện chứng với ý nghĩa là một học thuyết về
phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
II/ Nhiệm vụ của lô gích học biện chứng.
Với đối tượng nghiên cứu của lô gích học biện chứng được xác định nhưtrên, có thể nêu lên những nhiệm vụ cơ bản của lô gích học biện chứng như sau:
Trang 4- Một là, lô gích học biện chứng nghiên cứu sự cần thiết, cách thức thể hiện
sự vận động, phát triển, những mâu thuẫn bên trong của sự vật, hiện tượng, nhữngbiến đổi về chất hay sự chuyển hóa lẫn nhau của chúng Đây chính là nhiệm vụtrung tâm của lô gích học biện chứng.Với nhiệm vụ này, lô gích học biện chứngđóng vai trò là một bộ phận hợp thành của triết học duy vật biện chứng
- Hai là, lô gích học biện chứng nghiên cứu bản chất biện chứng của cácphạm trù lô gích, tính linh hoạt, tính mềm dẻo của chúng…Phương pháp biệnchứng cũng chính là một học thuyết lô gích, vì chúng nghiên cứu chức năng nhậnthức, là lô gích của những quy luật phổ biến và những phạm trù của sự vận động vàphát triển
- Ba là,lô gích học biện chứng nghiên cứu quá trình hình thành và phát triểncủa bản thân quá trình nhận thức Lô gích học biện chứng được xây dựng trên cơ
sở lịch sử quá trình nhận thức.Đó là lịch sử phát triển khái quát của tư duy, của lịch
sử thực tiễn xã hội loài người
Nói một cách khái quát, lô gích học biện chứng là cơ sở lô gích chung màdựa vào đó người ta có thể và cần phải giải thích tất cả những lý luận lô gích riêngbiệt và cụ thể, giải thích ý nghĩa và vai trò của những lý luận ấy2
III/ Mối quan hệ giữa lô gích học hình thức và lô gích học biện chứng.
Lô gích học hình thức và lô gích học biện chứng là hai môn khoa học đềunghiên cứu tư duy phản ánh thế giới hiện thực khách quan.Tuy nhiên, chúng khácnhau về đối tượng, nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
- Lô gích học hình thức nghiên cứu các quy luật và hình thức của tư duynhằm bảo đảm tính đúng đắn, chặt chẽ và nhất quán trong suốt quá trình tư duy Lô
gích học hình thức quan tâm chủ yếu đến hình thứctrong khi trừu tượng hóa nội dungcủa tư duy.
2 Xem Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1986, tr.322-323.
Trang 5Lô gích học biện chứng cũng nghiên cứu các quy luật của tư duy nhưng
quan tâm chủ yếu đến tính biện chứng của nội dung tư duy Có thể gọi đó là lô gích
nội dung
- Lô gích học hình thức xem xét quá trình tư duy qua việc phản ánh sự vậttrong trạng thái tách rời, cô lập, đứng im tương đối, ổn định tạm thời Vì thế lôgích học hình thức dựa trên cơ sở tính đồng nhất, trừu tượng của các khái niệm,phạm trù cố định
Lô gích học biện chứng lại xem xét quá trình tư duy qua sự phản ánh sự vậthiện tượng trong mối liên hệ, trong trạng thái mâu thuẫn, vận động, chuyển hóa vàphát triển Do đó, lô gích học biện chứng dựa trên cơ sở của tính đồng nhất, cụ thểcủa các phạm trù biến đổi Lô gích học biện chứng phản ánh sinh động hiện thựckhách quan Lê nin viết về điều này như sau: “Những quan hệ ( = chuyển hóa =
mâu thuẫn ) của những khái niệm = nội dung chủ yếu của lô gích, hơn nữa những
khái niệm ấy ( và những quan hệ, chuyển hóa và mâu thuẫn của chúng ) đều đượctrình bày như là những phản ánh của thế giới khách quan”3
- Lô gích học hình thức xem xét hình thức và quy luật của tư duy không tínhđến điều kiện lịch sử,, văn hóa, xã hội …
Lô gích học biện chứng xem xét hình thức và quy luật của tư duy theonguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thế Lô gích học biệnchứng coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
- Lô gích biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật biện chứng của
tư duy nhằm phản ánh đúng đắn biện chứng khách quan của sự vật Tư duy và cáchình thức của tư duy của con người có tính biện chứng vì chúng vận động, pháttriển, liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau tuân theo các quy luật biện chứng
Theo nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng, biện chứng của tư duy(biện chứng chủ quan) là sự phản ánh biện chứng khách quan của sự vật
3 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.1981,t.29, tr.209
Trang 6Lê nin nhiều lần nhấn mạnh rằng, có sự thống nhất (đồng nhất, phù hợp) củaphương pháp biện chứng duy vật, lý luận nhận thức và lô gích học Điều đó cónghĩa là nói đến lô gích biện chứng cũng có nghĩa là nói đến phương pháp biệnchứng duy vật, nói đến lý luận nhận thức.Sự thống nhất giữa chúng dựa trên cơ sởthống nhất giữa quy luật tồn tại và quy luật tư duy.
- Lô gích biện chứng nghiên cứu các khái niệm, phạm trù không phải trongtrạng thái cô lập, tách rời, bất biến mà trong sự vận động, phát triển, trong mâuthuẫn của chúng, trong sự liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau của chúng
- Lô gích hình thức đặt các hình thức tư duy ở ngoài sự vận động, phát triểncủa chúng, cái nọ bên cạnh cái kia, thiếu nguyên tắc thực tiễn và nguyên tắc lịch sử
- cụ thể Trái lại, lô gích biện chứng suy từ hình thức tư duy này ra hình thức tưduy khác, phát triển từ hình thức tư duy thấp lên hình thức duy cao, xác định mốiliên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng, đồng thời quan tâm đến tính lịch sử - cụ thểcủa tư duy, đến thực tiễn nhằm phản ánh đúng đắn thế giới hiện thực khách quan
- Lô gích học biện chứng là một bước phát triển của tư duy Nó không hề thủtiêu, phủ nhận lô gích học hình thức, mà trái lại lô gích học biện chứng cho phépxác định vị trí quan trọng cua lô gích học hình thức và sự cần thiết của lô gích họchình thức trong nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống
B CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LÔ GÍCH HỌC BIỆN CHỨNG I/ Nguyên tắc và quy luật.
- Quy luật là những mối liên hệ bản chất, ổn định, được lặp đi lặp lại giữacác sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy
- Nguyên tắc là những điều cơ bản được định ra buộc chủ thể phải tuân theotrong quá trình nhận thức hoặc hành động nhằm đạt được mục đích nào đó
- Khái niệm nguyên tắc và khái niệm quy luật có quan hệ hữu cơ với nhau vàgiữa chúng có nhiều điểm chung
Trang 7- Nguyên tắc và quy luật đều phản ánh hiện thực khách quan Nhưng sựphản ánh hiện thực khách quan của nguyên tắc và quy luật có nhiều điểm khácnhau.
- Quy luật phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng khái quát
- Nguyên tắc phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng những yêu cầu, đòihỏi chủ thể nhận thức, hành động theo những chuẩn mực nhất định được quy địnhbởi những quy luật khách quan
II/ Một số nguyên tắc của lô gích học biện chứng.
Trên cơ sở những quy luật và phạm trù của phương pháp biện chứng duyvật, lô gích biện chứng rút ra những yêu cầu cơ bản với tính cách là những nguyêntắc phương pháp luận cơ bản định hướng cho chủ thể trong nhận thức và hànhđộng
Lô gích biện chứng gồm những nguyên tắc sau (5 nguyên tắc): Nguyên tắckhách quan, Nguyên tắc toàn diện, Nguyên tắc phát triển, Nguyên tắc thực tiễn,Nguyên tắc chân lý và cụ thể
1 Nguyên tắc khách quan.
1.1 Nội dung nguyên tắc khách quan.
“Mọi nhận thức và hành động phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phải phát huy tính năng động chủ quan”
Có thể nói, nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên, là xuất phát điểmcủa lô gích học biện chứng
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm tính khách quan trong quá trình phản ánh,bảo đảm sự phù hợp giữa tư duy với bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giớikhách quan
Nguyên tắc này đòi hỏi, trong cuộc sống, khi đề ra một kế hoạch hành
động nào đó (trong lĩnh vực nhận thức hoặc trong lĩnh vực thực tiễn) chúng ta
luôn luôn phải xuất phát từ tình hình thực tế khách quan, phải tôn trọng và làm
Trang 8theo quy luật khách quan Không bao giờ được xuất phát từ ý muốn, tình cảm, nguyện vọng, ý chí chủ quan Đồng thời cần phát huy tính năng động chủ quan
trong quá trình tìm ra kế hoạch hành động, phương tiện và các biện pháp hànhđộng thích hợp, có hiệu quả cao, đạt được một cách tốt nhất mục tiêu của kế hoạchhành động
1.2 Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan.
1.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan là nguyên lý về mối quan hệ
Tuy nhiên, ý thức không phụ thuộc một cách bị động tuyệt đối vào vật chất,
mà nó có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với vật chất Tính độc lập tương đối đó thể hiện ở chỗ, ý thức sau khi đã hình thành, thông qua hoạt động thực tiễn của con người, có tác động trở lại thế giới vật chất.
Như vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng không tuyệt đối hóa sự đối lập giữavật chất và ý thức, mà chỉ ra sự đối lập giữa vật chất và ý thức vừa có tính tuyệtđối, vừa có tính tuyệt đối.Tuyệt đối là ở chỗ, suy đến cùng, vật chất là cái có trước,
là cái quyết định đối với ý thức.Đó là nguyên tắc tuyệt đối của chủ nghĩa duy vật.Tương đối là ở chỗ: thứ nhất, đây là sự đối lập của vật chất với một thuộc tính củavật chất (thuộc tính phản ánh), gắn liền với vật chất Ý thức gắn liền với vật chất,
là một thuộc tính của vật chất; thứ hai, trong những điều kiện nhất định, trongnhững hoàn cảnh cụ thể, ý thức, tinh thần có thể đi trước, quyết định sự thay đổihoàn cảnh khách quan (Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền.Đào núi vàlấp biển Quyết chí ắt làm nên; Thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn ; Trong
Trang 9bài nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên lao động thành phố Hải Phòngngày 30/5/1957, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Vì sao cách mạng của ta thànhcông? Vì tinh thần! Vật chất cố nhiên là trọng, tinh thần cũng là trọng….Tinhthần trọng hơn! Cô chú nào không hiểu, về học thêm duy vật biện chứng.”4.
Lê nin viết: “Sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trongnhững phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đềnhận thức luận cơ bản: thừa nhận cái gì là cái có trước, và cái gì là cái có sau?Ngoài giới hạn đó ra thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tươngđối”5
- Vai trò của vật chất đối với ý thức: Vật chất có trước ý thức và giữ vai trò
quyết định đối với ý thức Ý thức chỉ là sự phản ánh (dù là năng động và sáng tạo)thế giới vật chất vào trong một dạng vật chất có kết cấu đặc biệt,, trình độ tổ chứccao (bộ óc con người).Vật chất quyết định ý thức: vật chất là cơ sở, là nguồn gốccủa ý thức; quyết định nội dung của ý thức, quyết định sự biến đổi của ý thức v v
- Vai trò của ý thức đối với vật chất: Ý thức có tác động trở lại vật chất theo
hai khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất: có tác động tích cực, thúc đẩy sự pháttriển của thế giới vật chất Tác động của ý thức đối với vật chất là tác động giántiếp, phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Khi ý thức phản ánh đúngđắn hiện thực khách quan, sẽ có tác động thúc đẩy hoạt động thực tiễn của conngười trong quá trình cải tạo thế giới hiện thực khách quan Dựa trên sự phản ánhđúng đắn thế giới hiện thực khách quan (các lý luận khoa học, những tư tưởng tiến
bộ v.v ), con người có thể đề ra được những mục tiêu, phương hướng đúng đắn của hoạt động thực tiễn, xác định, tìm ra được các biện pháp, cách thức tổ chức, sử
dụng các yếu tố vật chất trong hoạt động thực tiễn sao cho có hiệu quả nhất Với
4 Xem: bài “Nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên lao động Hải Phòng ngày 30/5/1957” trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t.8, tr.383
5 V.I Lê nin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t.18, tr.173
Trang 10một tình yêu sâu sắc, với một nỗ lực ý chí mạnh mẽ, con người sẽ vượt qua đượcnhững khó khăn trở ngại để đạt tới được mục tiêu đã đề ra.
Khuynh hướng thứ hai, là khuynh hướng ngược lại với khuynh hướng thứnhất: có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất, thậm chí cóthể hủy hoại thế giới vật chất, nếu ý thức phản ánh sai lạc thế giới vật chất (mê tín
dị đoan; những nguyên tắc sai trái về cuộc sống, về thế giới hiện thực khách quanv.v )
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc khách quan.
- Nắm vững và vận dụng đúng đắn nguyên tắc khách quan trong cuộc sống
sẽ giúp chúng ta tránh được nguyên tắc duy tâm trong hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn
Tôn trọng cái khách quan, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân tốchủ quan trong nhận thức và hành động Có như vậy chúng ta mới có thể, một mặt,chống lại, khắc phục thái độ xem thường, không tôn trọng quy luật khách quan;mặt khác khắc phục thái độ trông chờ, ỷ lại, trì trệ, thụ động, không sáng tạo
1.4.Ví dụ về vận dụng nguyên tắc khách quan
Từ nhận thức được vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, Đại hộitoàn quốc lần thứ VI của Đảng ta (1986) đã rút ra bài học: phải xuất phát từ thực tếkhách quan, phải tôn trọng và hành động tuân theo quy luật khách quan
Sở dĩ có bài học này vì trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc phải “bệnh”chủ quan, duy ý chí, xa rời thực tế khách quan trong hoạt động thực tiễn xây dựngđất nước
Trong khi cơ sở vật chất còn thấp kém, lực lượng sản xuất còn lạc hậu, chưaphát triển, chúng ta lại nôn nóng, muốn đốt cháy giai đoạn, muốn trong một thờigian ngắn xây dựng ngay quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tiên tiến, thuần khiết(chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể)
Trang 11Chính vì sự nôn nóng, chủ quan, duy ý chí, bất chấp quy luật , không căn cứvào thực tế khách quan để đề ra mục tiêu, phương hướng cho hoạt động thực tiễn,
đã dẫn đến những trì trệ kéo dài trong lĩnh vực sản xuất, đời sống nhân dân khókhăn, lòng tin vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng bị giảm sút Nước ta đã lâmvào khủng hoảng kinh tế-xã hội
Từ bài học mà Đại hội VI rút ra, vận dụng nguyên tắc khách quan, Đảng ta
đã nhận thức được rằng muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có cơ sởvật chất vững vàng Đảng ta đã chủ trương: phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng giao lưu kinh tế với nướcngoài; tận dụng mọi nguồn lực, nhân lực, tài lực trong nước cũng như ngoài nước
để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đồng thời, từ nhận thức được tác động trở lại của ý thức đối với vật chất,Đảng ta đã đề ra chủ trương tiến hành đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tưduy.Đổi mới tư duy là điều kiện và là tiền đề cho đổi mới trong hoạt động thựctiễn Hơn nữa, Đảng ta kiên trì khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động vì đây là hệ thống lýluận, hệ tư tưởng khoa học, tiến bộ, phản ánh đúng đắn sự vận động phát triểnkhách quan của xã hội loài người nói chung và của nước ta nói riêng
Đảng ta còn chủ trương tạo mọi điều kiện để phát huy tính năng động, sángtạo của ý thức, phát huy mặt tích cực của nhân cách, đạo đức, tình cảm, ý chí v.v ,tăng cường giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học cho nhân dân v.v
2 Nguyên tắc toàn diện.
2.1 Nội dung nguyên tắc toàn diện.
“Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó” 6
6 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.1979, t.42, tr.364
Trang 12Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới hiện thực khách quan có những mốiliên hệ, quan hệ rất phong phú và đa dạng Để có thể phản ánh một cách đầy đủ vàchính xác các sự vật, hiện tượng này, chúng ta phải xem xét tất cả các mối liên hệ,quan hệ vốn có của chúng.Nói cách khác, chúng ta phải nắm vững và thực hiệnđúng đắn nguyên tắc toàn diện.Điều này có nghĩa là, để bảo đảm nhận thức đúngđắn sự vật, hiện tượng chúng ta không chỉ vận dụng nguyên tắc khách quan khixem xét sự vật, hiện tượng mà còn phải xem xét sự tác động qua lại giữa sự vật,hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác.Nếu không làm được như vậy,chúng ta sẽ phạm phải sai lầm phiến diện, cứng nhắc, siêu hình.
Tuy nhiên, việc xác định được tất cả các mối liên hệ, quan hệ mà sự vật hiệntượng vốn có là một việc vô cùng khó khăn, do những hạn chế của những điều kiệnthực tế khách quan, hoặc hạn chế về năng lực nhận thức Lê nin viết: “Con ngườikhông thể nắm được = phản ánh, = miêu tả toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ,
“tính chỉnh thể” trực tiếp” của nó, con người chỉ có thể đi gần mãi đến đó, bằngcách tạo ra những trừu tượng, những khái niệm, những quy luật, một bức tranhkhoa học về thế giới”7
Trong hoạt động nhận thức, nguyên tắc toàn diệnđòi hỏi chúng ta khi muốn
nhận thức đúng một sự vật, một hiện tượng hay một quá trình nào đó chúng ta phảixem xét sự vật (hiện tượng hay quá trình) đó:
+ trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khácnhau của chính đối tượng nhận thức
+ trong mối liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác (cả mối liên hệ trựctiếp lẫn mối liên hệ gián tiếp)
+ trong mối liên hệ với nhu cầu của con người trong cuộc sống (cần haykhông cần, có lợi hay không có lợi cho cuộc sống v.v )
7 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va.1981, t.29, tr.193
Trang 13Nói cách khác, để nhận thức được đúng đắn một sự vật nào dó chúng ta cần
phải xem xét tất cả mọi mối liên hệ mà nó có (bên trong, bên ngoài, trực tiếp, gián
tiếp v.v ) Việc xem xét tất cả các mối liên hệ, “xem xét tất cả mọi mặt sẽ đềphòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và cứng nhắc”8
Đồng thời, nguyên tắc toàn diện cũng đòi hỏi, trong việc nhận thức sự vật
(hiện tượng, quá trình), chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
của sự vật đến chỗ khái quát rút ra những mối liên hệ, những mặt cơ bản, bản
chất, chi phối, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật (hiện tượng, quá trình)
đó
Thực hiện nguyên tắc phương pháp luận toàn diện trong quá trình nhận thức
sự vật (hiện tượng, quá trình), chúng ta sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là: đi
từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể đến nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đócủa sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó; và cuốicùng, khái quát những tri thức này, rút ra tri thức về bản chất của sự vật (hiệntượng, quá trình)
Trong hoạt động thực tiễn, để cải tạo được sự vật (hiện tượng, quá trình)
nguyên tắc (nguyên tắc) toàn diệnđòi hỏi chúng ta, bằng hoạt động thực tiễn của
mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như mối liên hệ qua lạigiữa sự vật đó với các sự vật khác.Muốn vậy, phải sử dụng đồng bộ nhiều biệnpháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động vào sự vật nhằm thay đổi nhữngmối liên hệ tương ứng.Chúng ta cần phải kết hợp chặt chẽ “chính sách dàn đều”với “chính sách có trọng điểm”
2.2 Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện.
2.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về sự phổ biếncủa các mối liên hệ
2.2.2 Nội dung của nguyên lý về sự phổ biến của các mối liên hệ
8 V.I Lê nin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1979, t.42, tr.364
Trang 14Mọi sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới vừa tách biệt
nhau tương đối, vừa có mối liên hệ (sự ràng buộc, quy định lẫn nhau, sự tác động qua lại), thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau làm cho thế giới trở thành một chỉnh
thể thống nhất.
- Định nghĩa mối liên hệ:
+ Mối liên hệ là phạm trù triết học chỉ sự ràng buộc, quy định lẫn
nhau, sự tác động qua lại giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình;
hoặc giữa các mặt, các bộ phận, các quá trình trong một sự vật
+ Đặc tính của các mối liên hệ trong thế giới vật chất:
- Tính khách quan
- Tính phổ biến
- Tính phong phú đa dạng (mối liên hệ bên trong, bên ngoài, chủ yếu, thứyếu, cơ bản, không cơ bản v.v )
2.3 Ý nghĩa của nguyên tắc toàn diện.
Nắm vững và thực hiện đúng những đòi hỏi của nguyên tắc toàn diện giúpcho chúng ta nhận thức và hành động đúng đắn, có cách nhìn toàn diện về sự vật,hiện tượng, đánh giá đúng bản chất của chúng, tránh được những sai lầm chủ quanphiến diện, cực đoan
Nguyên tắc toàn diện hoàn toàn khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụybiện
Chủ nghĩa chiết trung là cách lập luận kết hợp một cách vô nguyên tắcnhững mặt, những yếu tố của sự vật vốn dĩ không thể kết hợp được với nhau, hoặcđánh đồng giá trị, ý nghĩa của các mối liên hệ khác nhau của sự vật, coi mọi mốiliên hệ của sự vật (bên trong, bên ngoài, chủ yếu, thứ yếu, cơ bản, không cơ bảnv.v ) đều như nhau
Thuật ngụy biện là cách lập luận có vẻ như hợp quy luật lô gích, có vẻ đúng,
từ đó rút ra kết luận xuyên tạc sự thật, đổi trắng thay đen
Trang 15Ngụy biện là lối lập luận quanh co, vi phạm luật lôgíc nhằm làm cho ngườikhác hiểu sai sự thật.
Những người ngụy biện thường dùng mọi thủ thuật để đánh lừa người khácbằng cách dựa vào những chỗ giống nhau bề ngoài để đánh tráo khái niệm, đánhtráo đối tượng, đánh tráo tư tưởng v.v…
Đối với nhà ngụy biện thì mục đích của họ không phải là vạch ra chân lý,
mà là che giấu sự thật.Họ luôn luôn muốn thay thế sự chứng minh đúng đắn bằnglòng tin chất phác của người khác vào lý lẽ giả dối của họ
Nét đặc trưng của thuật ngụy biện là việc tách các sự kiện ra khỏi mối liên
hệ sẵn có giữa chúng với các sự kiện khác.Nếu không nắm vững phương pháp luậnbiện chứng duy vật (cụ thể là nguyên tắc toàn diện), không nắm vững các quy luật,quy tắc lô gích thì khó vạch ra sai lầm của người ngụy biện
2.4.Ví dụ về vận dụng nguyên tắc khách quan.
Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, cáclĩnh vực của quá trình đổi mới (dàn đều), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng cũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xãhội là khâu đột phá (trọng điểm)
Trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnhvực chính trị (dàn đều), Đảng ta đã coi đổi mới kinh tế là trọng tâm (trọng điểm)
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Xét trên tổng thể,Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạchđịnh đường lối và chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không
có mọi sự đổi mới khác Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việcthực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tê-xãhội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây
Trang 16dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác củađời sống xã hội”9.
3 Nguyên tắc phát triển.
3.1 Nội dung nguyên tắc phát triển.
“Không nên quan niệm phát triển chỉ là sự vận động tăng lên hoặc giảm
đi, chỉ là sự lặp lại Trái lại, phải quan niệm phát triển là sự gián đoạn của tính “tiệm tiến” là “sự chuyển hóa thành mặt đối lập” là sự “xóa bỏ cái cũ và nảy sinh cái mới”
- Mọi sự vật, hiện tượng đều vận động, biến đổi và phát triển Bản thân sự
vật, hiện tượng nào cũng là kết quả của quá trình vận động, biến đổi và phát triển
Do đó, trong hoạt động nhận thức,nguyên tắc phát triểnđòi hỏi chúng ta khi
nghiên cứu, xem xét mọi sự vật (hiện tượng, quá trình) phải đặt chúng trong sự vậnđộng, sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúngtheo những quy luật khách quan vốn có của nó Lê nin viết: “Logic biện chứng đòihỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động” (…), trong sựbiến đổi của nó”10
Nguyên tắc phát triển hoàn toàn đối lập với nguyên tắc bảo thủ, trì trệ, định
kiến (tuyệt đối hóa một kết luận nào đó – dù là đúng – về sự vật (hiện tượng, quátrình) được rút ra trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định, ứng với giai đoạnphát triển nhất định của nó và xem đó là chân lý vĩnh cứu, là nhận thức duy nhấtđúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó) Nguyên tắc bảothủ, trì trệ, định kiến sẽ dẫn chúng ta đến những sai lầm nghiêm trọng trong hoạtđộng thực tiễn
- Đồng thời, nguyên tắc phát triển cũng đòi hỏi trong hoạt động nhận thức,
chúng ta không chỉ nhận thức, xem xét sự vật (hiện tượng, quá trình) như là cái
9 ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.71.
10 V.I Lê nin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, t.29, tr.379
Trang 17đang có, mà còn phải dự báo, nắm được khuynh hướng phát triển tương lai của nó.Trong quá trình phát triển, sự vật (hiện tượng, quá trình) thường có sự biến đổitheo những xu hướng khác nhau, có cả biến đổi tiến lên (phát triển), có cả nhữngbiến đổi thụt lùi (thoái bộ).
Sự phát triển của các sự vật (hiện tượng, quá trình) trong thực tế là một quá
trình biện chứng đầy mâu thuẫn Do đó vận dụng nguyên tắc phát triển trong quá
trình nhận thức đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ sự quanh co, phức tạp của quá trìnhphát triển là có tính phổ biến Điều này giúp chúng ta tránh được bi quan dao độngkhi trong hoạt động thực tiễn gặp những khó khăn trở ngại hoặc gặp những thấtbại, thụt lùi tạm thời
- Trong hoạt động thực tiễn, nguyên tắc phát triểnđòi hỏi chúng ta khi muốn
thúc đẩy sự vật phát triển theo quy luật vốn có của nó, cần phải tìm ra mâu thuẫncủa chính sự vật, phải phản ánh được những mâu thuẫn biện chứng đóng vai trò làđộng lực, nguyên nhân của sự phát triển, và bằng hoạt động thực tiễn giải quyếtmâu thuẫn đó Chỉ có như thế chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển
Sự phát triển biện chứng của các quá trình hiện thực và của tư duy được thựchiện bằng con đường thông qua những sự tích lũy về lượng mà tạo ra sự thay đổi
về chất, thông qua sự phủ định biện chứng sự vật cũ, phủ định của phủ định Do
đó, vận dụng nguyên tắc phát triển vào hoạt động thực tiễn còn đòi hỏi chúng ta
phải phát huy nỗ lực chủ quan của mình phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện hiệnthực cho cái mới tồn tại và tiếp tục phát triển, hiện thực hóa sự phát triển nói trên
Hiện thực khách quan luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển.Quá trìnhphát triển sẽ nảy sinh ra những yếu tố mới, thuộc tính mới, mối liên hệ, mặt đốilập, mâu thuẫn mới Nguyên tắc phát triển đòi hỏi con người phải phản ánh kịpthời, hình thành, bổ sung những khái niệm, phạm trù, phán đoán v.v mới, xâydựng hệ thống lý luận mới, phản ánh ngày càng đúng đắn hơn thế giới hiện thwncjkhách quan
Trang 18Khái quát ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệphổ biến và nguyên lý về sự phát triển, tức là phương pháp biện chứng trong hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn, Ph Ăng-ghen viết: “Phép biện chứng làphương pháp mà điều căn bản của nó là xem xét những sự vật và những phản ánhcủa chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sựràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”11 Lê nin cũng cónhận xét tương tự khi cho rằng, để có tri thức đúng về sự vật, “bản thân sự vật phảiđược xem xét trong những quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó”12.
3.2 Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển.
3.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nguyên lý về sự phát triển.3.2.2 Nội dung nguyên lý về sự phát triển
- Mọi sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới luôn luôn vận
động Vận động có thể diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau Phát triển là một trong những khuynh hướng của vận động, trong đó sự vật, hiện tượng, quá trình nảy sinh những tính quy định mới, có trình độ cao hơn về chất.
- Định nghĩa sự phát triển
+ Sự phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vậnđộng tiến lên từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ kết cấu đơn giản đến kết cấu phứctạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
+ Tính chất của sự phát triển:
• Trong thế giới hiện thực khách quan, tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể
của các dạng vật chất, sự phát triển được thể hiện rất đa dạng và phong phú.
Ví dụ: Trong giới hữu cơ, sự phát triển thể hiện ở việc tăng cường khả
năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường sống; ở khả năng tựsản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn; ở khả năng hoàn
11 C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội, 1994, t.20, tr.38
12 V.I Lê nin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1979, t.42, tr.238
Trang 19thiện quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường Trong lĩnh vực xã hội, sự
phát triển thể hiện ở con người ngày càng có khả năng cao hơn trong việc chinhphục giới tự nhiên, trong việc cải tạo xã hội ngày càng tiến bộ hơn, ngày càng tiếngần tới mục tiêu giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người ngày càng
hoàn thiện hơn cả về vật chất lẫn tinh thần Trong tư duy, sự phát triển thể hiện ở
khả năng con người ngày càng phản ánh đúng đắn hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơnthế giới hiện thực khách quan
• Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển thừa nhận tính phức tạp,tính không trực tuyến của quá trình phát triển Sự phát triển trong thế giới hiện
thực và trong tư duy diễn ra theo con đường quanh co, zích zắc, phức tạp, trong đó
có thể có những bước thụt lùi tương đối.
Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi về lượng dẫn đến sự thayđổi về chất, sự phát triển diễn ra theo đường xoáy trôn ốc, trong quá trình phát triểndường như có sự lặp lại cái cũ, nhưng thực ra là lặp lại trên cơ sở trình độ mới caohơn
• Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự phát triển có tính khách quan và
tính phổ biến Về tính khách quan của sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng
cho rằng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu
thuẫn cuả sự vật quy định Phát triển là một quá trình tự thân của mọi sự vật trong
thế giới hiện thực khách quan, hoàn toàn độc lập với ý thức con người, không phụ
thuộc vào ý thức con người Về tính phổ biến của sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ giới tự nhiên
đến xã hội và tư duy.
(Phần đọc thêm:Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Nguyên lý về sự phát triển được thể hiện một cách cụ thể qua ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng phản ánh những mối liên hệ cơ bản nhất, những khía cạnh, những mặt cơ bản nhất của
Trang 20sự vật (hiện tượng, quá trình) nói riêng và của thế giới hiện thực khách quan nói chung.
Nghiên cứu nội dung ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chúng
ta sẽ nắm vững được nguyên nhân, cách thức và xu hướng của sự phát triển.
1 Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
a) Các định nghĩa:
Chất: là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật (hiện tượng, quá trình) là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính của sự vật (hiện tượng, quá trình) làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác.
+ Thuộc tính chính là sự biểu hiện của chất của sự vật trong những mối liên
hệ cụ thể, những điều kiện cụ thể, với những sự vật khác Để có thể nhận thức được đầy đủ chất của một sự vật, chúng ta phải nhận thức được tổng hợp toàn bộ các thuộc tính của sự vật trong tất cả các mối liên hệ có thể có giữa sự vật đó với các sự vật khác
+ Với tư cách là những khía cạnh của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ, các thuộc tính của sự vật có vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật Thông thường, sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản.
Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo nên chất cơ bản của sự vật Ở mỗi
sự vật chỉ có một chất cơ bản, đó là loại chất mà sự có mặt hay mất đi của nó quyết định sự có mặt hay mất đi của bản thân sự vật.
+ Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành, mà còn được xác định bởi cấu trúc của sự vật, bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó.
+ Khi chúng ta xem xét sự vật trong tính xác định về chất của nó, chúng ta cũng so sánh nó với các sự vật khác Mỗi sự vật có những giới hạn tồn tại của
Trang 21nó.Vượt ra ngoài giới hạn đó, sự vật không còn là nó nữa mà là một cái gì đó khác.Điều đó có nghĩa chất của sự vật nói lên tính có giới hạn của sự vật đó.
Lượng: là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn
có của sự vật biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp độ của sự vận động và phát triển của sự vật (hiện tượng, quá trình) cũng như của các thuộc tính của nó.
+ Trong thực tế, lượng có thể được xác định bằng những đơn vị đo lường cụ thể và chính xác (chiều dài, khối lượng, tốc độ …), nhưng cũng có lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng, khái quát như trình độ giác ngộ cách mạng, trình
độ phát triển của một xã hội, tâm địa con người (sông sâu còn có thể dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng)
b) Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
+ Sự thống nhất giữa chất và lượng:
- Một sự vật (hiện tượng, quá trình) có vô vàn chất và cũng có vô vàn lượng Chất và lượng là hai mặt quy định lẫn nhau không thể tách rời: một chất nào đó trong sự vật có lượng tương ứng của nó, lượng là lượng của chất Sự biến đổi tương quan giữa chất và lượng tạo nên tiến trình phát triển của sự vật.
- Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời trong một sự vật (hiện tượng, quá trình) Bất cứ sự vật nào cũng là một thể thống nhất giữa chất và lượng của nó.Trong quá trình vận động của sự vật, chất và lượng đều biến đổi Sự biến đổi của lượng và chất không diễn ra một cách độc lập, tách rời nhau, mà chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào nhau.Sự thay đổi của mặt này sẽ kéo theo sự thay đổi của mặt kia và ngược lại, tuân theo một quy luật nhất định.
- Tuy nhiên, không phải bất cứ sự thay đổi nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi về căn bản chất của sự vật Lượng của sự vật có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó Giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng không làm thay đổi chất của sự vật, được gọi là Độ.