• Lợi tức quốc gia được phân phối thành thu nhập của người lao động, lợi nhuận của tư bản và tiền tô ruộng đất và những cái lợi chênh lệch khác từ sản xuất.. - Phân phối theo tỷ lệ cho n
Trang 1CHỦ ĐỀ 5
HỌC THUYẾT KINH TẾ TÂN CỔ ĐIỂN
Trang 2• Lợi tức cổ phần của quốc gia (tức GNP) vừa là sản phẩm ròng của các yếu tố sản xuất, vừa là nguồn duy nhất của những khoản thanh toán của các yếu tố đó
• Lợi tức quốc gia được phân phối thành thu nhập của người lao động, lợi nhuận của tư bản
và tiền tô ruộng đất và những cái lợi chênh lệch khác từ sản xuất
5.1 Alfred Marshall (1842-1924) Một đại biểu Phái thành Cambridge (Anh)
Trang 3- Phân phối theo tỷ lệ cho nhu cầu giới hạn
mà dân cư có những dịch vụ khác nhau của các nhân tố sản xuất Giới hạn của các nhân
tố sản xuất bị chi phối bởi những điều kiện chung của cầu so với cung
- Tiền công của người lao động là những phí tổn cần thiết để nuôi dưỡng, giúp đỡ người lao động và duy trì năng lực của họ
- Tiền công có xu hướng đi đến sự cân bằng với sản phẩm ròng của lao động
Trang 4- Năng suất giới hạn của lao động điều chỉnh giá cả của cầu Năng suất giới hạn của lao động cao, sản phẩm ròng của lao động sẽ cao
và tiền công sẽ cao, mức cân bằng tiền công phụ thuộc trực tiếp vào năng suất tư bản, của ngành sản xuất mà anh ta làm việc, kể cả năng suất của người thợ
- Sự cạnh tranh dẫn tới tiền công kiếm được trong một thời gian nhất định đối với các công việc tương tự là không bằng nhau, nhưng nó
tỷ lệ với sản xuất của công nhân
Trang 5• Lợi nhuận là tiền thù lao thuần túy cho năng khiếu quản lý kinh doanh, sử dụng tư bản và năng lực tổ chức hoạt động công nghiệp
(Một số khác cho rằng lợi nhuận là sự bù đắp lòng dũng cảm khi đưa tư bản vào lưu thông)
• Có 2 loại nhà kinh doanh: cách tân và thủ cựu, mỗi loại sẽ thu được P khác nhau
Trang 6Marshall nhấn mạnh 3 điểm:
- Thứ 1, những bất bình đẳng của tỷ suất lợi nhuận bình quân hàng năm trong các ngành công nghiệp khác nhau là do các tỷ lệ khác nhau về số lượng của tư bản lưu động, tư bản
cố định, tiền công, chi phí vật liệu và giá cả ruộng đất
- Thứ 2, P trên mỗi đợt vốn quay trở lại phụ thuộc vào độ dài thời gian và tổng số lao động cần thiết cho sự hoàn vốn
Trang 7- Thứ 3, nếu P là một yếu tố của giá Cung bình thường thì thu nhập sinh ra từ tư bản đã đầu tư phụ thuộc vào Cầu tương đối về các sản phẩm của nó.
• Lợi tức là cái giá phải trả cho việc sử dụng tư bản.
• Đạt được ở mức cân bằng cung và cầu về tư bản Nếu tiết kiệm nhiều sẽ tăng tư bản và giảm lợi tức.
Trang 8Frank Kninght (1885 - 1972) (HIỆP SĨ)
• F Knight tham gia sáng lập trường phái kinh tế Chicago;Milton Fricdman và George Stigle là những thành viên hàng đầu những năm 1950 -1980.
• Tác phẩm nổi tiếng là: Rủi ro, không chắc chắn và lợi nhuận
Theo Knight, "Sự không chắc chắn," là một sự kiện có khả năng không thể biết được
Trang 9• Ông có 3 đóng góp quan trọng khác cho kinh
tế Một là Tổ chức kinh tế, một tập hợp các bài giảng xuất bản lần đầu vào năm 1933 Trong
đó ông đã đưa ra mô hình dòng chảy của nền kinh tế và nhấn mạnh rằng các khoản đầu tư sẽ được thực hiện cho đến khi trở về
• "Một số ngụy biện trong các Giải thích chi phí
xã hội"
• Lý thuyết vốn, ông cho rằng vốn có thể được xác định như một thời kỳ sản xuất
Trang 105.4 MÔ HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ TÂN CỔ ĐIỂN
Kinh tế học tân cổ điển là một trường phái có trọng tâm nghiên cứu là cơ chế quyết định giá
cả, sản lượng, phân phối thu nhập thông qua nguyên lý cung – cầu dựa trên các giả định tối
đa hóa thỏa dụng của người tiêu dùng trong điều kiện một ngân sách giới hạn hay tối đa hóalợi nhuận của nhà sản xuất trong điều kiện chi phí bị giới hạn
Trang 11• Kinh tế học tân cổ điển khởi đầu và khẳng định mình bằng lý luận về kinh tế học vi
mô, chủ yếu từ sau chiến tranh TGII
• Kinh tế học tân cổ điển phối hợp với Kinh
tế học Keynes hình thành nên trường phái Kinh tế học vĩ mô tổng hợp
Trang 12• Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một mặt kinh tế học tân cổ điển tiếp tục phát triển ở mảng kinh tế học vi mô với một loạt lý luận
mà điển hình là mô hình Arruw - Debreu Mặt khác, nó phát triển sang lĩnh vực kinh
tế học vĩ mô với sự đóng góp nổi bật của Robeb Solow và Samuelson
Mô hình thiên về thể hiện ở các cân bằng trong kinh tế
Trang 13• Mô hình Arrow - Debreu (còn gọi là mô hình Arrow-Debreu-McKenzie ) này là trung tâm của Lý thuyết chung kinh tế cân bằng và nó thường được sử dụng như một tài liệu tham khảo chung cho các mô hình kinh tế vi mô khác sau này
Trang 14NHỮNG PHÊ PHÁN
• Kinh tế học tân cổ điển bị phê phán bởi tính quá lý thuyết; dựa quá nhiều vào các mô hình toán phức tạp, ví dụ như các mô hình trong lý thuyết cân bằng tổng thể
• Điều kiện giả sử là các cá nhân hành động theo
kỳ vọng hợp lý đã lờ đi các khía cạnh quan trọng của hành vi con người "Con người kinh tế" khác với con người thực tế
• Doanh nghiệp ngoài mục tiêu kinh tế còn có các các mục tiêu xã hội nhưng ít được tính đến
Trang 15HET