1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo chuyên đề môn quan hệ đất cây trồng

18 567 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 45,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta hiện nay nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng trong những năm qua sản xuất nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn. Việc sử dụng đất và phân bón hợp lý đã làm gia tăng sản lượng cây trồng và phẩm chất cây nông sản, giúp cho hạt gạo và một số nông sản khác của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới. Như chúng ta đã biết Đất là nơi nuôi dưỡng cây trồng sinh trưởng và phát triển,cung cấp cho cây chất dinh dưỡng, nước và oxi với số lượng thích hợp cho sự phát triển tối hảo của cây. Các loại đất khác nhau, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng khác nhau. Tuy nhiên để đảm bảo được cây trồng phát triển được một các tối ưu nhất ta cần phải quan tâm đến các vấn đề xung quanh như lượng nước, sâu bệnh, dịch hại và quan trọng nhất là phải đảm bảo chất dinh dưỡng đủ cũng như kịp thời cho cây trồng. Chính vì thế mà Chuyên Đề: “ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DINH DƯỠNG TRONG ĐẤT” được thực hiện nhằm đề ra những biện pháp cấp thiết để bảo quản dinh dưỡng tránh thất thoát dinh dưỡng qua những quá trình hóa học và sinh học trong trong đất.

Trang 1

I/ Mở Đầu:

Ở nước ta hiện nay nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng trong những năm qua sản xuất nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn Việc sử dụng đất và phân bón hợp lý đã làm gia tăng sản lượng cây trồng và phẩm chất cây nông sản, giúp cho hạt gạo và một số nông sản khác của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới Như chúng

ta đã biết Đất là nơi nuôi dưỡng cây trồng sinh trưởng và phát triển,cung cấp cho cây chất dinh dưỡng, nước và oxi với số lượng thích hợp cho sự phát triển tối hảo của cây Các loại đất khác nhau, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng khác nhau Tuy nhiên để đảm bảo được cây trồng phát triển được một các tối ưu nhất ta cần phải quan tâm đến các vấn đề xung quanh như lượng nước, sâu bệnh, dịch hại và quan trọng nhất là phải đảm bảo chất dinh dưỡng đủ cũng như kịp thời cho cây trồng Chính vì thế mà Chuyên Đề: “ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DINH DƯỠNG TRONG ĐẤT” được thực hiện nhằm đề ra những biện pháp cấp thiết để bảo quản dinh dưỡng tránh thất thoát dinh dưỡng qua những quá trình hóa học và sinh học trong trong đất

II/ Lược Khảo Tài Liệu

II.1 Khái niệm đất trồng:

Đất trồng là lớp về mặt tơi xốp của vỏ trái đất trên đó cây trồng có thể sống và sản xuất ra sản phẩm

2 Vai Trò:

Là môi trường cung cấp nước và oxi cho cây trồng, là giá thể giúp cho cây đứng vững, là môi trường sống cho vi sinh vật gián tiếp giúp cây phát triển tốt, vi sinh vật tạo nên khí khổng giữ nước và khí cho cây

3 Phân loại & Đặc điểm:

Căn cứ vào tỉ lệ các loại hạt (thành phần đá và khoáng chất) trong đất người ta chia đất ra làm 3 loại chính đất cát, đất thịt và đất sét Chúng có các tỉ lệ các hạt cát, limon và sét như sau:

Đất cát: 85% cát, 10% limon và 5% sét.

Đất thịt:45% cát, 40% limon và 15% sét.

Đất sét:25% cát, 30% limon và 45% sét.

 Giữa các loại đất này còn có các loại đất trung gian.Ví dụ: Đất cát pha, đất thịt nhẹ

Có những loại đất chính như sau:

Cồn cát và cát biển:

Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc và thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính Thành phần cơ giới rất nhẹ, rời rạc Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ lệ cát khô khá cao Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa

ổn định, hiện tượng di dộng của cát đang thường xuyên xảy ra Những nơi có địa hình thấp thì đã có

Trang 2

sự phân hóa về màu sắc; nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu xám vàng xen vệt trắng Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng; cation trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ nước, giữ phân kém Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang

Ðất mặn:

Đất mặn là đất có chứa lượng muối tan đủ lớn làm giảm sự tăng trưởng của cây trồng Một số ion thường gặp trong đất mặn là Na+, Ca2+, Mg2+, Cl-, SO4(2-), Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, nếu đất mặn chỉ chúa một loại muối tan thì sẽ có tính độc cao hơn rất nhiều

so với đất cùng độ mặn và chứa nhiều loại muối tan khác nhau Hiện tượng này có thể được giải thích bằng sự đối kháng ion

_Đất mặn thướng có độ trương lớn và dẻo quánh lại khi gặp nước trong khi vào mùa khô thì lại co lại tạo nên sự nứt nẻ Từ đó, nước mang theo muối càng dễ dàng leo lên lớp đất mặt và bốc hơi, để lộ ra những vệt muối tráng trên lớp mặt vào thời gian (khô) đó Hiện tượng trương và co lại của đất được giải thích do sự xuất hiện của ion Na+ dẫn tới khả năng tán keo trong đất của ion Na+

_Đối với đất mặn, pH thường trung tính và có khuynh hướng hơi kiềm (do chứa nhiều ion kiềm Na+ )

_Áp suất thẩm thấu của dung dịch trong đất mặn cao, gây cản trở cho sự hấp thụ của nước và dinh dưỡng của cây trồng Bên cạnh đó, do TSMT tỷ lệ thuận với áp lực thẩm thấu trong dung dịch đất, nên độ mặn của đất càng lớn áp suất thẩm thầu càng mạnh dẫn đến ảnh hưởng

sự hấp thụ cây trồng càng tăng Đấy là lý do tại sao phần lớn cây trồng thông thường không sinh trưởng và phát triển được ở loại đất mặn nhiều trở lên

Ðất phèn:

Đất phèn là đất chứa nhiều gốc sunphat (SO42-) và có độ pH rất thấp, chỉ khoảng 2-3, Nhóm đất này được hình thành do quá trình biển tiến cách đây 6.000 năm để lại, đặc biệt trong môi trường vũng vịnh biển nông, trên đó rừng ngập mặn phát triển mạnh mẽ như đước, sú,

mắm…Các loại thực vật này thường tích lũy chất lưu huỳnh trong thân và rễ dưới dạng các hợp chất hữu cơ Khi những khu rừng này bị vùi lấp, xác của chúng được các vi sinh vật yếm khí phân hủy và thải lưu huỳnh ra môi trường dưới dạng sunfit Chúng kết hợp với các ion kim loại sắt, nhôm vừa được dòng nước mang đến từ lục địa tạo thành những lớp đất chứa nhiều pyrite.Pyrite chứa trong tầng trầm tích đầm lầy còn gọi là tầng phèn tiềm tàng, nhưng chúng lại dễ bị oxy hóa trong điều kiện tiếp xúc với không khí.Dựa trên nguồn gốc hình thành và mức độ nhiễm phèn trong đất, có thể chia đất phèn ở An Giang thành các loại tầng đất sinh phèn (phèn tiềm tàng), tầng đất than bùn chứa phèn, đất nhiều phèn và đất bị nhiễm phèn

Trang 3

Ðất phù sa:

1 Đất phù sa được bồi hàng năm (Dystric Fluvisols): Đất được hình thành do lắng đọng phù

sa sông, nhưng do các sông ở một số nơi có vận tốc dòng chảy lớn, nên lắng đọng được các sản phẩm thô, vì vậy đất có thành phần cơ giới nhẹ, hình thái phẫu diện tương đối đồng nhất

về thành phần cơ giới và màu sắc Một vài nơi cũng gặp hiện tượng phân hóa về thành phần

cơ giới, nhưng không phải do quá trình rửa trôi mà do các lớp bồi tích ở từng đợt lũ khác nhau Đất có phản ứng chua vừa, hàm lượng mùn ở tầng mặt trung bình (1-1,5%), đạm tổng

số và lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, độ no bazơ trung bình (50-60%)

Như vậy, loại đất này có độ phì tự nhiên khá, lại có những ưu điểm như: thành phần cơ giới nhẹ, đất tơi xốp, tầng đất dày, thoát nước tốt, nên thích hợp với nhiều loại cây trồng như: ngô, đậu, lạc, rau màu , tuy vậy, do địa hình thấp nên lưu ý khi bố trí cây trồng phải lựa chọn thời

vụ để tránh mùa ngập lụt

2 Đất phù sa không được bồi hàng năm (Dystric Fluvisols): Đất cũng có nguồn gốc hình thành như đất phù sa được bồi hàng năm nhưng do phân bố ở xa sông hoặc ở địa hình cao, nên rất ít được bồi đắp phù sa Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét Đất có phản ứng chua; hàm lượng mùn từ trung bình - hơi nghèo (0,9 - 1,5%), đạm tổng số trung bình (0,08 - 0,1%), lân tổng số khá (0,1 - 0,12%), lân dễ tiêu trung bình, độ no bazơ thấp - trung bình (40 - 55%) Như vậy, đất có độ phì tự nhiên khá, có thể bố trí nhiều công thức luân canh cây trồng khác nhau và có thể cho năng suất khá

3 Đất phù sa glây (Gleyic Fluvisols): Đất cũng được hình thành do quá trình lắng đọng phù

sa, nhưng phân bố ở địa hình thấp, khó thoát nước Đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét vật lý cao, chặt, bí, trong đất các quá trình khử xảy ra mãnh liệt, hình thái phẫu diện thường

có màu xanh ánh thép nguội, dính dẻo, glây trong toàn phẫu diện, màu xám xanh có xen lẫn những vệt vàng Đất có phản ứng chua vừa (pHKCl dao động từ 4,4 - 4,8), mùn ở tầng mặt khá cao (2 - 3%), đạm, lân tổng số và cation trao đổi đều thuộc loại khá Đây là vùng đất trọng điểm lúa của tỉnh, có khả năng cho năng suất cao, tuy vậy cần bón vôi khử chua cho đất

và tìm cách giảm quá trình khử để hạn chế quá trình glây làm xấu tính chất của đất

4 Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Dystric Plinthosols): Đất cũng có nguồn gốc hình thành như các loại đất cùng nhóm, nhưng phân bố ở địa hình vàm cao hoặc cao, có chế độ nước không đều trong năm, mùa mưa cũng bị ngập nhưng mùa khô đất bị thiếu nước nghiêm trọng Vì vậy trong đất xảy ra 2 quá trình: quá trình khử và quá trình oxy hóa; mùa mưa ngập nước thì quá trình khử xảy ra mạnh, mùa khô thì quá trình oxy hóa xảy ra, Fe2+ bị oxy hóa thành Fe3+ tạo ra những vệt loang lổ đỏ vàng trong phẫu diện đất Đất có khả năng thoát nước tốt, quá trình rửa trôi trọng lực trong phẫu diện đất xảy ra mạnh, thành phần cơ giới trung bình, có phản ứng chua vừa đến ít chua (pHKCl4,6 - 5,5), hàm lượng mùn trung bình (1,5 - 2%), đạm tổng số khá, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo

Loại đất này hiện đang sử dụng với nhiều phương thức khác nhau nhưng phần lớn là trồng lúa, một số khá lớn diện tích chỉ sản xuất được 1 vụ lúa do thiếu nước Nếu giải quyết được vấn đề tưới thì có thể mở rộng diện tích bằng con đường tăng vụ từ 1 vụ thành 2 - 3 vụ trong năm

5 Đất phù sa phủ trên nền cát biển (Areni Dystric Fluvisols) Đất hình thành do quá trình bồi lắng của phù sa trên nền cát biển Độ dày của lớp phù sa phụ thuộc rất nhiều vào khả năng

Trang 4

bồi đắp của hệ thống sông và địa hình của vùng cát trước khi bồi đắp Thành phần cơ giới đất tầng mặt từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, dưới lớp phù sa là cát trắng xám hoặc cát vàng nhạt; đất có phản ứng chua vừa đến ít chua; tầng mặt có hàm lượng mùn trung bình (1 - 1,5%), nghèo đạm, nghèo lân tổng số cũng như dễ tiêu Đây là loại đất có ý nghĩa cho các vùng cát biển trong việc trồng lúa để cung cấp lương thực tại chỗ Cần chú ý không nên phá vỡ tầng đế cày của đất

6 Đất phù sa úng nước (Stagni Dystric Fluvisols) Là một loại đất trong nhóm đất phù sa, nhưng phân bố ở địa hình trũng dạng lòng chảo khó thoát nước, được coi là địa hình tích đọng, đất ngập nước quanh năm nên hạn chế quá trình khoáng hóa, quá trình tích lũy mùn mạnh, nên giàu mùn, đất bị glây mạnh, rất chua, đạm tổng số giàu, nhưng nghèo lân và kali tổng số cũng như dễ tiêu Đây là loại đất có nhiều yếu tố hạn chế, không chỉ do ngập úng mà trong đất chứa nhiều chất độc cho cây như: Al3+ di động, H2S, CH4, vì thế đất thường cho năng suất lúa thấp, không ổn định

7 Đất phù sa ngòi suối (Dystric Fluvisols): Đất hình thành do sự lắng đọng của phù sa suối, nên thành phần cơ giới thường thô, nhẹ, lẫn nhiều khoáng vật nguyên sinh bền Độ phì nhiêu

tự nhiên tùy từng nơi mà rất khác nhau, nhưng nói chung đất có phản ứng chua đến rất chua, hàm lượng mùn trung bình, đạm tổng số khá, lân và kali nghèo Tuy là diện tích không nhiều, nhưng loại đất này có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết lương thực trên địa bàn miền núi, nhưng do thường thiếu nước nên năng suất lúa thấp và bấp bênh, có nơi chỉ trồng được 1 vụ lúa, 1 vụ màu.

Ðất lầy và than bùn:

Đầm lầy là một vùng đất ngập nước với hoặc một khu vực được hình thành do lũ lụt mà nước đọng lại chưa thể thoát được, đây là một kiểu hệ sinh thái và có cấu trúc đất mềm, địa hình lõm hoặc những chỗ lồi lõm, đất khô xen lẫn đất ướt Đầm lầy thường được bao phủ bởi thảm thực vật thủy sinh, hoặc thảm thực vật có khả năng chịu đựng ngập lụt, ngâm nước Nguồn nước và độ sâu của đầm lầy hơn các vùng đồng lầy hay bãi lầy trong các vùng đất ngập nước

Than bùn được hình thành do sự tích tụ và phân huỷ không hoàn toàn tàn dư thực vật trong

điều kiện yếm khí xảy ra liên tục

Quá trình này diễn ra tại các vùng trũng ngập nước Các vùng đầm lầy là những vùng có năng suất sinh học cao, điều kiện phát triển của thực vật rất thuận lợi Tuy nhiên, lớp thổ

nhưỡng tại các vùng này luôn trong điều kiện yếm khí; do đó, mặc dù sinh khối các loài cỏ sống trên mặt nước tăng nhanh, nhưng quá trình phân giải xác thực vật lại xảy ra chậm và không đạt tới giai đoạn vô cơ hoá dẫn đến tích luỹ hữu cơ Tiếp theo cỏ là lau, lách, cây bụi, cây thân gỗ thay thế, kết hợp với quá trình kiến tạo địa chất, quá trình bồi tụ, lắng đọng phù

sa đã chôn vùi kể cả cây thân gỗ, làm cho hữu cơ tích tụ thành các lớp và tạo thành than bùn.

Trang 5

Ðất xám bạc màu:

 Đất màu xám nhạt, nhiều cát, có thành phần cơ giới nhẹ, hạt thô Tầng đấy dầy mỏng không điều nhiều nơi rất mỏng sâu nhất chỉ đạt 1-2 m Đất nói chung có nước ngầm sâu, chua, nghèo mùn, nghèo sét, nghèo Ca, đất rời rạc dễ bị dí dẽ

 Đất bạc màu có tỉ trọng từ 2.60-2.65, dung dịch từ 1.57-1.68 Độ xốp dưới 40% nước giữ kém, có độ thoáng khí cao, kết cấu đất kém có mâu thuẫn giữa chế độ nước và không khí thường hay xảy ra Độ ẩm đồng ruộng dao động từ 22 – 27%, độ ẩm cây héo thấp, chế độ nhiệt không ổn định

 Hóa tính đất nói chung nghèo Đạm, Phân, Kali Dung tích hấp thụ và độ no bazo thấp,

độ không khí cao nên nuóc và chất hữu cơ khó tích lũy Tính đệm kém Vi sinh vật có ích đất bạc màu hoạt động kém, nhất là các loại cố định đạm

Ðất đỏ và xám nâu vùng bán khô:

 Nhóm đất feralit chiếm diện tích lớn và phân bố chủ yếu ở các vùng miền núi trung du

Đất feralit có nguồn gốc được hình thành từ quá trình phong hoá các loại đá mẹ (đá gốc)

 Đất feralit của nước ta nhìn chung là khá màu mỡ có tầng phong hoá dầy, có hàm lượng các ion sắt, nhôm, titan, magiê khá cao

- Đất feralit gồm nhiều loại khác nhau nhưng điển hình là một số loại sau đây:

- Đất feralit đỏ vàng phân bố nhiều nhất ở trung du miền núi phía Bắc và thích hợp nhất với trồng chè búp, sơn, hồi, lạc, mía

- Đất đỏ bazan phong hoá từ các đá bazan có màu nâu đỏ, phân bố nhiều nhất ở Tây Nguyên, ĐNB, Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An Đất này rất tốt thích hợp với trồng cà phê, cao su, tiêu, điều

- Đất đỏ đá vôi phân bố trong các thung lũng đá vôi và hình thành phong hoá từ đá vôi

có màu nâu đỏ Đất này khá tốt và thích hợp nhất với trồng các cây công nghiệp, cây ăn quả mà điển hình là lạc, mía, cam, dừa

- Đất feralit mùn trên núi phân bố ở các vùng núi cao phía Bắc, đất nhiều mùn thích hợp nhất trồng các cây dược liệu (tam thất, ) và các cây ăn quả (đào, mận…) cận nhiệt và

ôn đới.

Ðất đen:

Chúng phát triển trên đá bazan, đá bazan lỗ hổng và đá bọt bazan, có thành phần thịt

cơ giới trung bình và thịt nặng Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng như ngô, hành tỏi, dưa hấu, cao su, điều Nhóm đất này được phân ra 4 đơn vị đất (đất đen điển hình, đất đen mới biến đổi, đất nâu thẫm, đất đen có kết vón) và 7 đơn vị phụ đất (đất đen điển hình đá lẫn nông, đất đen điển hình đá lẫn sâu, đất đen mới biến đổi điển hình, đất đen mới biến đổi

đá lẫn nông, đất đen mới biến đổi đá lẫn sâu, đất nâu thẫm điển hình, đất đen có kết vón nông)

Trang 6

Ðất mùn vàng đỏ trên núi:

 Phân bố: Nằm ở vùng núi, trong độ cao tuyệt đối từ 700-900m đến 2000m Khí hậu lạnh và ẩm, nhịêt độ bình quân trong năm từ 15-20 oC Thảm rừng xanh tốt Ðây là loại đất feralit phát triển trên đá macma bazơ, trung tính hoặc đá vôi có tầng A tích luỹ nhiều mùn

 Ðất có thành phần cơ giới nặng, tảng lớn hoặc cục, đất khá tới xốp ở tầng mặt Phản ứng đất chua, đất giàu mùn Các chất dinh dưỡng khác trung bình, riêng lân dễ tiêu và kali trao đổi thấp

Ðất mùn trên núi cao:

 Ở độ cao >700 m, cường độ của quá trình Feralit giảm dần theo độ cao, tuy nhiên ở tầng B vẫn diễn ra quá trình tích luỹ sẽt khá điển hình dể tạo nên tầng B.Argic Mặt khác, khi độ cao tăng thì nhiệt độ giảm và độ ẩm tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích luỹ mùn Kết quả của những quá trình trên hình thành đất xám mùn trên núi

 Lấy đơn vị đất xám mùn trên núi phát triển trên macma axit đại diện cho đất xám mùn

Các loại đất khác và đất chưa điều tra

II/ Khái quát dinh dưỡng trong đất:

1/ Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho cây:

Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trong đất có thể có trong thiên nhiên và được bón thêm cho đất Nguồn gốc tự nhiên được nhận từ các khoáng trong đất và từ sự phân hủy của dư thừa thực vật và chất hữu cơ Nguồn gốc thêm vào là lượng phân bón hóa học hoặc phân hữu cơ Tất cả các chất dinh dưỡng điều chịu tác động của quá trình di động và bất động chúng trong đất Các tiến trình này thay đổi với các chất dinh dưỡng khác nhau bao gồm tiến trình sinh học và hóa học

Tiến trình sinh học xảy ra chủ yếu do vi sinh vật hấp thụ dinh dưỡng và giải phóng khi chúng chết đi và phân hủy Tiến trình này đặc biệt quan trọng đối với sự cung cấp đạm cho cây

Trang 7

Chất dinh dưỡng trong đất thường tồn tại dưới ba dạng sau đây:

Chất dinh dưỡng hòa tan trong nước

Chất dinh dưỡng trao đổi

Chất dinh dưỡng dự trữ

2/ Phân loại:

Có 16 loại chất dinh dưỡng có trong đất thiết yếu cho cây bao gồm: C, H, O, N, P, K, S, Ca,

Mg, Fe, Mn, B, Cl, Zn, Cu, Mo

Nhóm đạ lượng gồm: N, P, K

Nhóm trung lượng gồm: S, Mg, Ca

Nhóm vi lượng gồm: : C, H, O, Mg, Fe, Mn, B, Cl, Zn, Cu, Mo

3/ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG KHOÁNG TRONG ĐẤT THIẾT YẾU TRONG CÂY

- Tham gia cấu tạo chất sống

- Điều tiết quá trình trao đổi chất, các hoạt động sinh lý trong cây

+ Thay đổi đặc tính lý hóa của keo nguyên sinh chất

+ Hoạt hóa enzim, làm tăng hoạt động trao đổi chất

+ Điều chỉnh quá trình sinh trưởng của cây

- Tăng tính chống chịu của cây trồng

III/ Quản lý chất dinh dưỡng trong đất trồng:

1/ Khái niệm:

Quản lý dinh dưỡng có nghĩa là việc sử dụng phân bón và bảo vệ, bồi bổ đất làm sao đảm bảo đất tốt, cây tốt, đạt năng suất, chất lượng cao mà chi phí lại thấp nhất

2/ Các biện pháp quản lý:

- Bón phân:

Dinh dưỡng cây trồng lấy đi từ đất để tạo sản phẩm không những chỉ có các chất đa lượng là đạm, lân, kali mà còn có cả các chất trung lượng như calcium (Ca),

magnesium (Mg), lưu huỳnh (S) và các chất vi lượng thiết yếu như bo (B), kẽm (Zn), đồng (Cu) v.v Việc sử dụng nhiều phân đạm hóa học, bón phân không cân đối hoặc bón phân không đủ làm cho cây bị suy yếu, dễ bị sâu bệnh xâm nhiễm, đồng thời đất đai ngày càng thoái hóa, cằn cỗi

Trang 8

- Sử Dụng Axit Humic (Humic Acid) Giữ Dinh Dưỡng Cho Cây Trồng:

Axit Humic nguồn gốc tự nhiên từ sự phân hủy của thực vật và vi sinh vật Axit Humic là nền tảng của tất cả các đất đai màu mỡ Trong nhiều năm, axit humic tích lũy trong đất để giúp đất tăng khả năng giữ chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước, là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật có lợi cho đất Đây là cách để giảm thiểu tổn thất chất dinh dưỡng để duy trì

độ phì nhiêu của đất và đảm bảo phát triển bền vững của thiên nhiên

- Cải tạo đất:

Trong trồng trọt, sau một thời gian dài canh tác, đất bị bạc màu do sử dụng nhiều phân hóa học và ngày càng cạn kiệt dinh dưỡng dẫn tới năng suất cây trồng ngày càng giảm

Do đó ta phải cải tạo đất để tái tạo lại nguồn dinh dưỡng ban đầu và loại từ các vi khuẩn, nấm

có hại trong đất Và giúp cho cây dễ dàng hấp thụ dinh dưỡng chúng ta bổ sung hơn

- Bón phân hóa học cân đối và hợp lý:

Bón phân hợp lý là sử dụng lượng phân bón thích hợp cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại các hậu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái Nói một cách ngắn gọn, bón phân hợp lý là thực hiện 5 đúng và một cân đối:

a Đúng loại phân:

Cây cần phân gì bón đúng loại phân đó Phân có nhiều loại Mỗi loại có những tác dụng riêng Bón không đúng loại phân không những phân không phát huy được hiệu quả, mà còn

có thể gây ra những hậu quả xấu

Bón đúng loại phân không những phải tính cho nhu cầu của cây mà còn phải tính đến đặc điểm và tính chất của đất Đất chua không bón các loại phân có tính axit Ngược lại, trên đất kiềm không nên bón các loại phân có tính kiềm

b) Bón đúng lúc:

Nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng của cây thay đổi tuỳ theo các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Có nhiều giai đoạn sinh trưởng cây cần đạm nhiều hơn kali, có nhiều giai đoạn cây cần kali nhiều hơn đạm Bón đúng thời điểm cây cần phân mới phát huy được tác dụng Cây trồng cũng như các loài sinh vật khác, có nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng thường xuyên, suốt đời Vì vậy, để cho cây có thể sử dụng tốt các loại phân bón, tốt nhất là chia ra bón nhiều lần và bón vào lúc cây hoạt động mạnh Bón tập trung vào một lúc với nồng độ và liều lượng phân bón quá cao, cây không thể sử dụng hết được, lượng phân bị hao hút nhiều, thậm chí phân còn có thể gây ra những tác động xấu đối với cây

Trang 9

c Bón đúng đối tượng:

Trong cách hiểu thông thường bón phân là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây Vì vậy, đối tượng của việc bón phân là cây trồng

Tuy vậy, thực tế cho thấy, một lượng khá lớn chất dinh dưỡng của cây, nhất là các nguyên

tố vi lượng, cây được tập đoàn vi sinh vật đất cung cấp thông qua việc phân huỷ các chất hữu

cơ hoặc cố định từ không khí Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy bón phân để kích thích và tăng cường hoạt động của tập đoàn vi sinh vật đất cho phép cung cấp cho cây một lượng chất dinh dưỡng dồi dào về số lượng và tương đối cân đối về các chất Trong trường hợp này thay vì bón phân nhằm vào đối tượng là cây trồng, có thể bón phân nhằm vào đối tượng là tập đoàn vi sinh vật đất

Trong một số trường hợp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh tích luỹ và gây hại nặng Càng bón thêm phân, cây lại sinh trưởng thêm, sâu bệnh lại phát sinh nhiều hơn và gây hại nặng hơn Ở những trường hợp này, bón phân cần nhằm đạt mục tiêu là ngăn ngừa sự tích luỹ và gây hại của sâu bệnh

Bón phân trong một số trường hợp có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với các điều kiện không thuận lợi trong môi trường và với sâu bệnh gây hại Đặc biệt các loại phân kali phát huy tác dụng này rất rõ Như vậy, bón phân không phải lúc nào cũng là để cung cấp thêm chất dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây trồng

Có những trường hợp phải tác động theo chiều hướng ngược lại: cần kìm hãm bớt tốc độ tăng trưởng và phát triển của cây trồng, làm tăng tính chống chịu của chúng lên

Ở phần trên đã trình bày là trong các hệ sinh thái, tồn tại và hoạt động 3 nhóm các mối liên hệ: thông tin, năng lượng và vật chất

Trong các mối liên hệ này, liên hệ vật chất có liên quan đến việc vận động, chuyển hoá một khối lượng vật chất lớn Các mối liên hệ thông tin và năng lượng trong nhiều trường hợp chỉ cần những tác động nhẹ với những lượng vật chất không lớn có thể tạo ra những phản ứng

và hiệu quả lớn Bón phân là đưa vào hệ sinh thái nông nghiệp những yếu tố mới và có tác động lên các mối liên hệ Cho đến nay, trong việc bón phân người ta chỉ mới chú ý đến các mối liên hệ vật chất, đến trao đổi chất Trong thực tế, phân bón có thể có những tác động sâu sắc trong các mối liên hệ thông tin và năng lượng Phát hiện được tác dụng của phân bón lên các mối liên hệ thông tin và năng lượng, có thể với lượng phân bón không nhiều, tạo ra những hiệu quả to lớn và tích cực trong việc tăng năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường sinh thái

Như vậy, đối tượng của phân bón không chỉ có cây trồng, tập đoàn vi sinh vật đất, mà còn

có cả toàn bộ các thành tố cấu thành nên hệ sinh thái nông nghiệp Chọn đúng đối tượng để tác động, có thể mở ra những tiềm năng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của phân bón

d Đúng thời tiết, mùa vụ

Thời tiết có ảnh hưởng đến chiều hướng tác động và hiệu quả của phân bón Mưa làm rửa trôi phân bón gây lãng phí lớn Nắng gắt cùng với tác động của các hoạt động phân bón có thể cháy lá, hỏng hoa, quả

Trang 10

Trong điều kiện khí hậu, thời tiết và sản xuất của nước ta đối với các loại cây ngắn ngày, mỗi năm có 3 - 4 vụ, thậm chí 8 - 9 vụ sản xuất Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây trồng ở từng vụ có khác nhau, cho nên nhu cầu đối với các nguyên tố dinh dưỡng cũng như phản ứng đối với tác động của từng yếu tố dinh dưỡng cũng khác nhau

Lựa chọn đúng loại phân, dạng phân và thời vụ bón hợp lý có thể nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón Việc sử dụng đúng các loại phân phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết mùa

vụ đã được trình bày một phần ở phần II của sách này

e Bón đúng cách

Có nhiều phương pháp bón phân: bón vào hố, bón vào rãnh, bón rải trên mặt đất, hoà vào nước phun lên lá, bón phân kết hợp với tưới nước, v.v

Có nhiều dạng bón phân: rắc bột, vo viên dúi vào gốc, pha thành dung dịch để tưới

Có nhiều thời kỳ bón phân: bón lót, bón thúc đẻ nhánh, thúc ra hoa, thúc kết quả, thúc mẩy hạt, v.v

Lựa chọn đúng cách bón thích hợp cho loại cây trồng, cho vụ sản xuất, cho loại đất, v.v

có thể làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón lên gấp nhiều lần

Cách bón thích hợp vừa đảm bảo tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả phân bón, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng cơ sở sản xuất, phù hợp với từng trình độ của người nông dân

g Bón phân cân đối

Cây trồng có yêu cầu đối với các chất dinh dưỡng ở những lượng nhất định với những tỷ lệ nhất định giữa các chất Thiếu một chất dinh dưỡng nào đó, cây sinh trưởng và phát triển kém, ngay cả những khi có các chất dinh dưỡng khác ở mức thừa thãi

Các nguyên tố dinh dưỡng không chỉ tác động trực tiếp lên cây mà còn có ảnh hưởng qua lại trong việc phát huy hoặc hạn chế tác dụng của nhau

Đối với mỗi loại cây trồng có những tỷ lệ khác nhau trong mức cân đối các yếu tố dinh dưỡng Tỷ lệ cân đối này cũng thay đổi tuỳ thuộc vào lượng phân bón được sử dụng Tỷ lệ cân đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng cũng khác nhau ở các loại đất khác nhau

Điều cần lưu ý là không được bón phân một chiều, chỉ sử dụng một loại phân mà không chú ý đến việc sử dụng các loại đất khác

Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân, gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất cây trồng và đối với môi trường

Bón phân cân đối có các tác dụng tốt là:

- Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của chất, bảo vệ đất chống rửa trôi, xói mòn

Ngày đăng: 03/02/2016, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w