1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO bài GIẢNG CHI TIẾT môn CHÍNH TRỊ học CHUYÊN đề hệ THỐNG CHÍNH TRỊ và vấn đề đổi mới hệ THỐNG CHÍNH TRỊ ở nước TA HIỆN NAY

33 680 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề: Hệ thống chính trị là một phạm trù của khoa học chính trị. Bởi vì nó là tổng hợp những vấn đề của thỰC TIỄN chính trị, của đời sống chính trị. Hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị cón rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh howngs, trường phái chính trị học khác nhau.

Trang 1

I MỤC ĐÍCH

- Trang bị một số vấn đề lý luận chung về HTCT

- Nắm được mô hình HTCT trên thế giới

- Nắm được sự cần thiết và phương hướng đổi mới HTCT ở nước ta

II NỘI DUNG

1 Một số vấn đề lý luận chung về HTCT

1.1 Quan niệm về HTCT1.2 Cấu trúc của HTCT

2 Các mô hình HTCT

2.1 Tiêu chí phân loại HTCT2.2 Các mô hình HTCT

3 Một số vấn đề về HTCT và đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay

3.1 Đặc điểm và cấu trúc HTCT Việt Nam3.2 Đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay

III THỜI GIAN: 4 tiết

IV ĐỊA ĐIỂM: giảng đường

- Gợi mở, hướng dẫn học viên nghiên cứu tài liệu và phân tích làm rõ một

số nội dung quan trọng

VI VẬT CHẤT BẢO ĐẢM:

Giáo án, tập bài giảng, tài liệu tham khảo, máy vi tính

Trang 2

Phần 2: THỰC HÀNH BÀI GIẢNGq

I Thủ tục bài giảng

- Nhận báo cáo, kiểm tra công tác chuẩn bị của học viên

- Báo cáo cấp trên (nếu có)

II Trình tự bài giảng

Thứ tự, nội dung Thời gian Phương pháp Vật chất

Phần 1 60 phút Diễn giảng, kết hợp nêu

vấn đề, phát vấnPhần 2 40 phút Diễn giảng, kết hợp nêu

vấn đề, phát vấnPhần 3 60 phút Diễn giảng, kết hợp nêu

vấn đề, phát vấn

III Kết thúc bài giảng

- Định hướng nội dung ôn tập

- Nhận xét kết quả học tập

1 Một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị

1.1 Quan niệm về HTCT

Đặt vấn đề: Hệ thống chính trị là một phạm trù của khoa học chính trị Bởi

vì nó là tổng hợp những vấn đề của thự ctieenx chính trị, của đời sống chính trị.Hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị cón rất khác nhau, phụ thuộc vàokhuynh howngs, trường phái chính trị học khác nhau

1.1.1 Một số phương pháp tiếp cận và quan điểm về HTCT

* Một số phương pháp tiếp cận HTCT

Hiện nay ở phương Tây có hai cách tiếp cận cơ bản là cách tiếp cận thể

chế và cách tiếp cận hệ thống, từ đó hình thành một số quan điểm khác nhau về

Trang 3

Trong các phẩm: HTCT (1953); Giới hạn sự phân tích chính trị (1965),

quan niệm: HTCT giống như một bộ máy tự phát triển, tự điều tiết và phản ứng

với những tác động từ bên ngoài theo nguyên lý “đầu vào”, “đầu ra”.

Ông cho rằng:

+ HTCT có “đầu vào” thu nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ của

môi trường xã hội và văn hóa xã hội quanh nó Việc nạp các yếu tố đầu vào phụthuộc vào kiểu HTCT (bản chất) Theo Ông;

# Dạng đầu vào thứ nhất là các Yêu cầu: gồm các yêu cầu chính trị, yêu

cầu về phúc lợi xã hội, dịch vụ giáo dục, bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tự do

của công dân ; dạng đầu vào thứ hai là Sự ủng hộ của nhân dân: sự ủng hộ của

nhân dân như: nộp thuế, các khoản thu, hoàn thành các nghĩa vụ lao động, quân

sự, chấp hành PL, thực hiện các chính sách của nhà nước; tham gia vào đời sốngchính trị, đến việc tích cực tham gia các hoạt động chính trị Nếu không có sựủng hộ cần thiết, HTCT không thể hoạt động có hiệu quả được

# Sản phẩm “đầu ra” của HTCT là những quyết định chính trị, hành độngchính trị để thực hiện các quyết định đó Sản phẩm đầu ra cũng phụ thuộc vào

mô hình HTCT

Ưu nhược:

+ Tiếp cận HTCT theo quan điểm hệ thống, nói được sự thống nhất giữađầu vào và đầu ra Từ đó cho thấy các yếu tố đầu vào phải được nạp một cáchhợp lý, đều đặn, nếu không sẽ HTCT sẽ quá tải

Trang 4

+ Không giải thích được có tình trạng chính phủ ra những quyết định saitrái, không phù hợp hoặc đi ngược lại với đời sống nhân dân (kết quả đầu ra tráingược với đầu vào – mong muốn của nhân dân).

- Nhà CTH Mỹ G, Almold (cách tiếp cận hệ thống)

Ông cho rằng: HTCT đó là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị, của

các tổ chức nhà nước cũng như phi nhà nước

Các hành vi đó được chia thành hai cấp độ:là (1) thể chế và (2) định hướng

+ Cấp độ thứ nhất nghiên cứu các thể chế nhà nước và phi nhà nước

+ Cấp độ thứ hai nghiên cứu các quan hệ, cấu trúc, các giá trị chính trị tạothành văn hóa chính trị

Ông khẳng định: khác với các hệ thống xã hội khác, hệ thông chính trịđược xác định bởi quyền cướng chế hợp pháp đối với công dan Đó là sức mạnhpháp lí, thâm nhập vào các yêu tố đầu vào và đầu ra, làm nên tính chất đăchjbiệt,tính bền vững của HTCT

Một số cách tiếp cận khác, cho rằng: HTCT là cơ chế để twhcj hiện và

giải quyết các vấn đề, đồng thời để hoạch định và kiểm soát sự thực hiện cácquyết địnhcũng như kiểm soát các quan hệ quản lý nhà nước

Liên quan đến hoạt động (quan hệ) quản lý của nhà nước còn có các cấutrúc phi nhà nước, không chính thức, có ảnh hưởng đến cơ chế biểu hiện và giảiquyết các vấn đề, trong hoạch định và thực hiện quyết sách

- Quan điểm của các nhà khoa học Liên Xô và Nga

+ Quan niệm những năm 70 và 80 thế kỷ XX (mô hình xô viết)

# Trong các tài liệu khoa học của Xô viết thường dùng khái niệm các tổchức chính trị của xã hội, hệ thống chuyên chính vô sản thay cho khái niệmHTCT, dẫn tới đồng nhất HTCT với hệ thống CCVS (chỉ phù hợp trong chiếntranh)

Trang 5

Do xuất phát từ quan niệm trong xã hội có giai cấp, nên không 1 hiệntượng nào trong đời sống xã hội lại không bị chi phối bởi chính trị , không thểkhông liên quan đến chính trị

Quan niệm “rộng” về HTCT này đã không phân biệt được gianh giới giữađời sống chính trị và đời sống xã hội ; không phân biệt các sinh hoạt mang tínhnhà nước và những sinh hoạt đời sống riêng tư, đời sống cá nhân, dẫn đến đồngnhất đời sống chính trị và đời sống xã hội - kết quả là chính trị hóa, nhà nướchóa mọi mặt đời sống xã hội

Nhưng cách tiếp cận này phù hợp với điều kiện chiến tranh để huy độngnguồn lực đất nước vào những công trình lớn… nhưng lại làm giảm đi tích tíchcực, chủ động sáng tạo của người dân

Đầu những năm 1980, trong các tài liệu của các nhà khoa học Liên Xô,HTCT được hiểu theo cách tiếp cận hình thái kinh tế xã hội , là một bộ phận củathượng tầng kiến trúc, được quyết định bởi hạ tầng kinh tế, theo kết cấu xã hộigiai cấp – HTCT là một kiểu xác định của hình thái kinh tế xã hội

+ Quan niệm của các nhà khoa học Nga: Hiện naymột số nhà khoa học

Nga coi hệ thống chính trị như là một tổ hợp phức tạp các thể chế nhà nước, các

đảng chính trị, các tổ chức xã hội, trong khuôn khổ đó diễn ra đời sống chính trị

và thực thi quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội.

Theo định nghĩa này, được coi là quá nhấn mạnh cách tiếp cận của chủnghĩa thể chế, vì thế không coi trọng đúng mức các quan hệ chính trị, các cơ chế

và nguyên tắc vận hành hệ thống chính trị, cũng như với các cấu trúc xã hội khácnhư: tình trạng tâm lí, tưởng của giới cầm quyền và lãnh tụ chính trị…

1.1.2 Định nghĩa HTCT

Chúng ta có thể định nghĩa HTCT như sau:

HTCT là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp ) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc,

cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi QLCT.

Trang 6

1.1.3 Chức năng của HTCT

(Chức năng chung của mọi hệ thống chính trị)

1 Xác định mục tiêu chung của hệ thống

Đảm bảo thống nhất cho toàn bộ hệ thống và các tổ chức thành viên trong

hệ thống

2 Xác định cách thức đạt mục tiêu

Ví dụ: Duy trì bảo đảm trật tự xã hội là cần thiết, là mục tiêu chung củatoàn bộ hệ thống Tuy nhiên, vụ Thiên An môn của Tổ quốc thì cáh thức đạtđược mục tiêu là đi ngược lại mục đích của nhân dân đã ủy quyền cho nhà nước.Không thể dùng mục đích để biện minh cho phương tiện

Ở Việt Nam giữ tăng trưởng GDP với vấn đề môi trường, tài nguyên – tachưa chú ý đúng mức đến vấn đề cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môitrường Hay vụ Tiên Lãng - Hải phòng là sai khi sử dụng công cụ phương tiện đểgiải quyết đạt được mục tiêu

3 Lựa chọn người lãnh đạo cho hệ thống

Đây chính là cơ chế bầu cử, lựa chọn người lãnh đạo của HTCT

Hiện nay ta phân biệt giữa quan chức chính trị với công chức nhà nước.Quan chức chính trị là những người nhận thức xu hướng vận động chính trị vàđưa ra được quyết sách phù hợp xu hướng để cân bằng lợi ích Công chức nhànước là những người chịu trách nhiệm về công vụ hành chính của nhà nước làchủ yếu

Do đó, cơ chế lựa chọn công chức khác với cơ chế lựa chọn người lãnhđạo hệ thống Nếulựa chọn công chức qua thi tuyển thì lựa chọn nwgwoif lãnhđạo phải qua bầu cử bằng tín nhiệm của nhân dân

4 Bảo vệ sự tồn tại, kỷ luật, kỷ cương của hệ thống

5 Phản hồi, điều chỉnh, thích nghi và phát triển của hệ thống

Trang 7

Khi xã hội phát HTCT phải điều chỉnh thích nghi theo.

Ví dụ: bảo vệ tìa nguyên môi trường trở thành vấn đề phổ biến của mọiquốc gia, và HTCT trên toàn thế giới

HTCT luôn vận động gắn liền với điều kiện, hoàn cảnh môi trường Nênxây dựng HTCT không thể không tính đến sự điều chỉnh, thích nghi cho phù hợpvới sự vận động phát triển của điều kiện hoàn cảnh thực tế

2 Các quan hệ chính trị, còn gọi là tiểu hệ thống quan hệ

3 Các cơ chế, còn gọi là tiểu hệ thống cơ chế

4 Các nguyên tắc vận hành, còn gọi là tiểu hệ thống các nguyên tắcvận hành

1.2.1 Các thể chế chính trị (tiểu hệ thống thể chế)

Thể chế chính trị là:

Những quy định, quy chế, chuẩn mực, quy phạm, nguyên tắc, luật lệ nhằm điều chỉnh và xác lập các quan hệ chính trị, các hành vi chính trị; là những dạng thức cấu trúc tổ chức, các bộ phận chức năng cấu thành một chủ thể chính trị, hay HTCT

Trang 8

Do đó, mọi lợi ích của các giai cấp, các lực lượng xã hội muốn hiện thựchóa đều phải thông qua nhà nước.

- Chức năng của nhà nước:

+ Chức năng chính trị (chức năng giai cấp):

Độc quyền kiểm soát lãnh thổ, thay mặt toàn xã hội thực hiện chính sách đốinội, đối ngoại, làm luật, các hoạt động điều tiết cần thiết cho toàn xã hội, thu thuế

và các khoản thu khác, quyền kiểm soát việc chấp hành pháp luật và các chuẩnmực pháp lý khác, quyền sử dụng cưỡng bức thể chất và các hình phạt khác

+ Chức năng xã hội (chức năng công quyền):

Bảo đảm quyền và lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội;bảo đảm phúc lợi xã hội, tài nguyên, môi trường

Hiện nay, thực hiện chức năng chính trị và chức năng xã hội, nhà nước nên làm gì?

+ Tạo dựng khuôn khổ pháp lý+ Đảm bảo sự ổn định của môi trường+ Cung cấp dịch vụ hàng hóa công (là hàng hóa mà khi sản xuất rangười ta không loại trừ được người sử dụng nó Ví dụ: việc bảo đảm an ninh;môi trường trong sạch.v.v Loại hàng hóa này chỉ chỉ nhà nước mới có thể sảnxuất được)

+ Xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương + Bảo vệ môi trường, văn hóa, bản sắc dân tộc

Nguyên tắc hoạt động của nhà nước: Nhà nước chỉ nên làm những dịch vụ

công khi thị trường không làm, hoặc làm kém hiệu quả

Chú ý: nhà nước cũng có thể làm một số dịch vụ kém hiệu quả hơn so với

Trang 9

Các nghị viện có thể được chia thành một hoặc hai viện Việc nghị việnchia thành 2 viện có lý do lịch sử và chính trị.

+ Về phương diện lịch sử: Thượng viện đại diện cho lợi ích của các chủ

thể quốc gia (bang ở các nhà nước liên bang, tỉnh ở các nhà nước đơn nhất)

+ Về phương diện Chính trị: Hạ viện đại diện cho lợi ích của cử tri.

Vai trò thông thường lớn hơn thượng viện, có thực quyền hơn (Đảng hoặcliên minh đảng chiếm đa số trong hạ viện có quyền thành lập chính phủ)

Việc chia nghị viện thành 2 viện có ưu nhược điểm sau:

Ưu điểm:

Một mặt, cân bằng được lợi ích và ý chí của cử tri (hạ viện) với lợi ích và

ý chí của các chủ thể quốc gia, các cơ quan nhà nước (thượng viện); mặt khác,

để hai viện kiềm chế nhau và một số lý do khác

Nhược điểm:

Đôi khi có sự mâu thuẫn giữa thượng viện và hạ viện, do mỗi đảng chiếm

đa số ở một viện Vì vậy, dẫn đến những cách nhìn nhận khác nhau về một vấn

đề Lợi ích của quốc gia và địa phương không phải bao giờ cũng thống nhất vớilợi ích của công dân

* Cơ quan hành pháp (thường được gọi là chính phủ)

+ Chức năng: thực thi quyền hành pháp, tức là thi hành PL và quản lý

hành chính nhà nước - lập quy

+ Cơ cấu tổ chức cơ quan hành pháp phụ thuộc vào mô hình nhà nước

cộng hòa tổng thống hay cộng hòa đại nghị

# Cộng hòa tổng thống (điển hình là Mỹ): Tổng thống nắm cả quyền HP,

quyền phủ quyết đối với các đạo luật mà quốc hội đã thông qua; gửi thông điệpchứa nội dung các dự án luật do tổng thống đề nghị

# Cộng hòa đại nghị (Đức, Ý): đứng đầu hành pháp là Thủ tướng.

Chính phủ ban hành các văn bản pháp luật nhằm triển khai các đạo luậtđược thông qua sao cho có lợi nhất cho quốc gia Những văn bản này không chỉ

bổ sung mà còn thay thế cả văn bản pháp luật trong điều chỉnh những vấn đềkhác nhau của đời sống xã hội

Trang 10

* Cơ quan tư pháp

+ Chức năng:

# Bảo vệ HP và PL thông qua xét xử;

# Giải thích HP và PL;

# Phối hợp với các ngành khác (giám sát, kiềm chế )

+ Yêu cầu đối với cơ quan tư pháp:

# Bảo đảm tính độc lập và tính chuyên môn cao

Bởi vì, dù luật pháp có nhiều và tốt đến đâu; hành pháp có hiệu lực hiệuquả đến đâu, nhưng tư pháp không công minh thì tính hiệu lực, hiệu quả nóichung đều mất hết ý nghĩa Do đó:

# Đa số các nước thực hiện chế độ bổ nhiệm thẩm phán theo nhiệm kỳhoặc suốt đời (Mỹ ) nhằm hạn chế sự tác động của cơ quan LP, HP và độc lậptrong xét xử;

# Bảo đảm lương cao và ổn định cho các thẩm phán

+ Lê nin định nghĩa: Đảng chính trị là tập hợp những người có tổ chức

nhất của một giai cấp, có ý thức nhất về quyền lợi của giai cấp mình, có quyếttâm chiến đấu vì lợi ích của giai cấp

- Nguồn gốc ra đời của ĐCT:

+ Đối với các nước tư bản: Đảng chính trị lúc đầu là sản phẩm của hoạt

động nghị trường Khi phong trào công nhân trở thành phong trào chính trị độc

lập xuất hiện các đảng của công nhân không gắn với hoạt động nghị trường.

Đảng của giai cấp công nhân là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân

Trang 11

-+ Đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc: Đảng cộng sản là sản phẩm

của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phongtrào yêu nước

- Vai trò của đảng chính trị:

+ Đảng của giai cấp công nhân là đảng tiên phong, chiến đấu vì sứ mệnhcủa giai cấp công nhân, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại

+ Ở các nước tư bản có chế độ đại nghị, thì đảng chính trị là một nhóm cá

nhân được tổ chức nhằm giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử, để điều hànhchính phủ và quyết định chính sách công (còn gọi là đảng bầu cử - mục tiêu của cácđảng này là giành ghế trong nghị viện và các vị trí quyền lực)

+ Vai trò của các đảng chính trị trong các chế độ xã hội, trong các thời điểm

là khác nhau Tuy nhiên, sự tồn tại của các đảng chính trị luôn gắn với cuộc đấu

tranh để giành chính quyền, và nục tiêu là để trở thành giai cấp cầm quyền.

- Chức năng của Đảng chính trị trong đời sống chính trị hiện nay:

+ Về chính trị: Vạch ra đường lối, cương lĩnh, chương trình hành động;

hoạch định chính sách của quốc gia (Biểu đạt lợi ích và kết nối nhu cầu củangười dân)

Trong các nước tư sản với chế độ đa đảng thì đảng nào thắng cử sẽ trởthành người nắm quyền hoạch định accs chính sách của quốc gia

+ Về tổ chức: Tổ chức đảng và cử người vào bộ máy nhà nước để thực

hiện các mục tiêu của mình (tuyển chọn và cung cấp nguồn nhân sự cho các vị trícủa các cơ quan công quyền);

+ Về tư tưởng: Tuyên truyền, lôi kéo các bộ phận dân cư khác hưởng ứng

đi theo hệ tư tưởng của mình (huy động và giáo dục cử tri, lôi kéo sự tham giacủa người dân vào đời sống chính trị )

Trang 12

+ Trong tranh cử: Đây là hoạt động quan trọng nhất của các đảng, bởi đây

là con đường duy nhất để nắm chính quyền;

+ Tác động vào cơ quan lập pháp: Giành nhiều ghế trong nghị viện trong

điều kiện có thể, nhất là các ghế lãnh đạo để tác động vào quá trình lập pháp vàquá trình ra quyết định của các cơ quan này có lợi cho đảng của mình

+ Giành quyền điều hành chính phủ: Đây là mục tiêu của các đảng chính

trị để giành quyền vị trí nguyên thủ quốc gia, đứng đầu nội các và các chức vụchính quyền, quyết định hệ thống quyền lực nhà nước và các chính sách (Mỹ)

1.2.1.3 Các phong trào xã hộị, các tổ chức chính trị - xã hội

- Định nghĩa: Nhóm lợi ích là các tổ chức của công dân, những người có

chung mục tiêu và muốn gây ảnh hưởng đến chính sách công

# Ở các nước khác nhau có cách gọi khác nhau: tổ chức xã hội độc lập,nhóm lợi ích, nhóm áp lực

# Ở nước ta được gọi là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, hộinghề nghiệp (khoảng 37 hội)

- Chức năng của các tổ chức CT - XH

+ Chức năng đại diện: (Đại diện cho lợi ích của nhóm)

# Bổ sung cho sự đại diện của các nghị sĩ, biểu đạt lợi ích của các thànhviên nhóm trong các lĩnh vực khác nhau

# Hiện thực hóa lợi ích (bảo vệ lợi ích) của từng tổ chức và cá nhân thôngqua các chính sách của nhà nước

+ Chức năng giáo dục:

# Cung cấp thông tin cho các cơ quan chính phủ và công chúng

# Chia sẻ thông tin và định hình quan điểm của các thành viên nhóm đốivới các vấn đề chính sách của nhà nước

1.2.1.4 Hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng (hệ thống các

phương tiện truyền thông - hệ thống quyền lực thứ tư)

Trang 13

- Các phương tiện truyền thông hoạt động với hai tư cách (1) là cơ quanphát ngôn, thông tin truyền thông của nhà nước, của các đảng, của các tổ chứcchính trị - xã hội; (2) là một hệ thống độc lập hoạt động theo pháp luật mang tínhnghề nghiệp.

# Với tư cách thứ nhất: các phương tiện truyền thông được coi là bộ phậncấu thành hệ thống mà chúng trực thuộc

# Với tư cách thứ hai, chúng được coi là một bộ phận độc lập của HTCT

- Các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò quan trọng tạo nên “quyền lực mềm” trong đời sống chính trị, xã hội, thông qua: thông tin dư luận xãhội, sự kiện chính trị quan trọng, quan điểm và hành động của các cơ quan nhànước, các đảng cầm quyền hay đối lập, của các phong trào xã hội , hình thànhcác hình ảnh chính trị,

- Góp phần quan trọng trong kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhànước và bảo đảm quyền lực của nhân dân

1.2.1.4 Các thể chế tôn giáo

- Tùy từng nước mà các tổ chức tôn giáo có thể được coi là bộ phận thuộcHTCT (ví dụ: các nước Hồi giáo ở Trung cận Đông; Ả rập, Châu Phi; Mỹ Latinh) hoặc được phép hoạt động theo pháp luật nhưng không phải là một bộ phậncủa HTCT

- Trong lịch sử chính trị thế giới (chế độ PK) đã có sự kết hợp giữa thếquyền và thần quyền để duy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền

- Hiện nay, quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước ở từng nước, từng khu vực

có những biểu hiện đa dạng và phức tạp:

# Một số nước có sự phân chia giữa thế quyền và thần quyền;

# Các nước Trung Cận Đông, Arập , tôn giáo có vai trò lớn trong đờisống chính trị, nhất là các quốc gia hồi giáo

# Ở nhiều nước, các tổ chức tôn giáo được hoạt động, nhưng không là một

bộ phận của HTCT

Trang 14

1.2.1.5 Hệ thống bầu cử

- Trong các nhà nước dân chủ đây là con đường cơ bản để tổ chức ra cơquan quyền lực nhà nước, chính đáng hóa quyền lực chính trị; là con đường đểnhân dân chọn người xứng đáng, thay mặt mình thực thi quyền lực nhà nước

- Bầu cử là điều kiện để các đảng chính trị lựa chọn những nhà chính trị

1.2.2 Các quan hệ chính trị

* Vị trí, vai trò của các quan hệ chính trị:

- QHCT là yếu tố kết nối các bộ phận chức năng, các cấu trúc của hệ thốngchính trị

- QHCT có vai trò đặc biệt quan trọng là yếu tố biểu đạt và bảo đảm sự cânbằng về lợi ích, sự tập trung, trạng thái thực tế chấp nhận được giữa các lợi ích,các nhóm, các giai cấp trong hệ thống quyền lực công và nhân danh quyền lựccông cộng để bảo vệ, duy trì sự cân bằng ấy

- Có nhiều loại QHCT trong HTCT, đan xen, đa dạng, nhiều chiều, nhiềutầng, trực tiếp, gián tiếp tạo thành nền tảng xã hội, môi trường văn hóa của hoạtđộng chính trị; trực tiếp duy trì sự tồn tại và hoạt đông của HTCT

* Các loại QHCT trong HTCT:

- Quan hệ các chủ thể quyền lực và người được ủy quyền.

# Bao gồm:

Quan hệ giữa công dân và nhà nước

Quan hệ giữa đảng viên của một đảng chính trị của họ, giữa hội viên,thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội với tổ chức của mình

# Trong các quan hệ này:

Người được ủy quyền (cán bộ, công chức, thành viên), thực chất không

có quyền mà nhận quyền lực từ các chủ thể quyền lực và thực thi quyền lực đó

Các chủ thể quyền lực quyết định hình thức tổ chức, nội dung và phươngthức hoạt động của các cơ quan được ủy quyền

Trang 15

- Quan hệ theo chiều ngang của hệ thống.

# Đây là mối quan hệ cùng cấp, giữa các thể chế cấp trung ương với cấp trungương

Ví dụ: Quan hệ giữa cơ quan lập pháp tối cao (Quốc hội) với cơ quan hành

chính tối cao (Chính phủ) và cơ quan tư pháp tối cao (Tòa án tối cao)

# Mối quan hệ này vừa quy định vai trò chức năng của các thể chế chínhtrị, vừa thống nhất, phối hợp, ràng buộc, kiềm chế (kiểm soát) lẫn nhau

- Quan hệ bên trong và bên ngoài của HTCT.

# Đây là quan hệ của HTCT của một quốc gia với HTCT bên ngoài; vàcũng có thể có những quan hệ khác nhau giữa thể chế độc lập của HTCT

# Nhưng quan trọng nhất, trong mối quan hệ này đó là quan hệ giữa cácnhà nước quốc gia dân tộc với nhau

1.2.3 Các cơ chế vận hành của HTCT

- Vị trí, vai trò: Các cơ chế vận hành của HTCT vừa phản ánh bản chất của

HTCT vừa chi phối hoạt động của HTCT

- Các loại cơ chế vận hành của HTCT:

+Cơ chế mệnh lệnh hành chính: đi kèm là một hệ thống công cụ cưỡng

bức, trừng phạt (thể hiện rõ trong thực thi quyền lực nhà nước)

+Cơ chế thể chế (xây dựng hệ thống các tổ chức).

Trang 16

Khi các tổ chức được đặt đúng vị trí, xác định rõ chức năng nhiệm vụ củachúng, đồng thời các cơ chế, các quan hệ thông suốt, HTCT vận hành đúngnguyên tắc, thì quá trình thực thi QLCT, QLNN diễn ra tự nhiên, HTCT tự hoạtđộng, tự điều chỉnh và tư hoàn thiện.

- Cơ chế tư vấn: là tổng hợp các phương thức làm thay đổi nhận thức của

các đối tượng thực thi quyền lực để thay đổi hành vi của họ

- Cơ chế kiểm soát quyền lực:

Cơ chế kiểm soát quyền lực bảo đảm cho các cơ quan thực thi quyền lựcthực thi đúng thẩm quyền

Thực chất là tập trung quyền lực đủ mức, đủ lớn, đi đối với phân quyền(phân lập, phân công, phân cấp, ủy quyền ) hợp lý nhằm bảo đảm quyền lựcchính trị của nhân dân

1.2.4 Các nguyên tắc vận hành của HTCT

Mỗi HTCT có những nguyên tắc và cơ chế vận hành riêng, trên cơ sở đócác quan hệ, hàn vi chính trị được định hướng và tạo thành một bộ phận hữu cơcủa hệ thống Hiện nay, hầu hết HTCT được vận hành theo những nguyên tắcphổ biến sau:

* Quyền lực chính trị thuộc về nhân dân

Nội dung nguyên tắc: Xác định nhân dân là chủ thể (nguồn gốc, cội nguồn)

của QLCT, QLNN; các cơ quan nhà nước chỉ là người đại diện được nhân dân ủy

quyền một phần quyền của mình để tổ chức và thực thi QLCT, QLNN

* Ủy quyền có điều kiện và có thời hạn

Nội dung nguyên tắc: xác định ai là người được ủy quyền và được ủy

quyền bao lâu

Nhà nước cần phải xây dựng thể chế bầu cử, từ lựa chọn các ứng cử viên,thể thức bầu cử và thủ tục truất quyền khi cần thiết (đều phải được luật hóa)

* Nguyên tắc dân chủ

Ngày đăng: 14/05/2017, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w