Với chức năng là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, hầu hết ngân hàng Trung ương các nước đều có chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc quản lý và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN BẢO NGỌC
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ KINH DOANH VÀNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN BẢO NGỌC
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ KINH DOANH VÀNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 603850
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Hà Nội - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Bảo Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ nhiệt tình của Quý thầy cô Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Lan Hương, Cô
đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS Đỗ Việt Cường và Chị Nguyễn Thị Hà Ngân – những người đồng nghiệp đã hướng dẫn, chỉ bảo
và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và số liệu t ại Ngân Hàng Nhà nước
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè , các anh chị em trong lớp cao học 14 chuyên ngành Luật kinh tế
Xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn ở bên cạnh động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể yên tâm học tập làm việc và hoàn thành luận văn
Hà Nội ngày 03 tháng 12 năm 2010
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH VÀNG VÀ QUẢN LÝ KINH DOANH VÀNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 10
1.1 Tổng quan về kinh doanh vàng 10
1.1.1 Vai trò của vàng và hoạt động kinh doanh vàng 10
1.1.2 Hoạt động kinh doanh vàng 11
1.1.3 Lịch sử tiền tệ của vàng 18
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh vàng 20
1.2 Tổng quan về quản lý kinh doanh vàng của Ngân hàng trung ương 22 1.2.1 Chức năng quản lý của Ngân hàng Trung ương đối với hoạt động kinh doanh vàng 22 1.2.2 Mô hình quản lý hoạt động kinh doanh vàng của một số nước trên thế giới 25 CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM 35
2.1 Khái quát pháp luật về quản lý kinh doanh vàng 35
2.2 Pháp luật Việt Nam công nhận quyền sở hữu và kinh doanh vàng của các tổ chức, cá nhân 38
2.2.1 Nội dung chính của Nghị định 63/1993/NĐ-CP 38
2.2.2 Thực trạng thi hành Nghị định 63/1993/NĐ-CP 39
2.2.3 Đánh giá hoạt động của thị trường vàng, giai đoạn 1993-1999 40
2.2.4 Những kết quả đạt được của Nghị định 63/1993/NĐ-CP 47
2.2.5 Những hạn chế của Nghị định 63/1993/NĐ-CP và nguyên nhân 49
2.3 Điều kiện đăng ký kinh doanh vàng 52
2.3.1 Nội dung nghị định 174/1999/NĐ-CP, Nghị định 64/2003/NĐ-CP 52
Trang 62.3.2 Tình hình thực hiện 53
2.4 Tổ chức sàn giao dịch vàng 58
2.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của các Sàn giao dịch vàng 58
2.4.2 Phân loại các sàn giao dịch vàng 60
2.4.3 Quy định của Sàn giao dịch vàng ACB 60
2.4.4 So sánh Mô hình hoạt động của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải và Sàn giao dịch vàng ở Việt Nam 61
2.4.5 Đánh giá hoạt động của Sàn giao dịch vàng 63
2.5 Quan hệ giữa quản lý hoạt động kinh doanh vàng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia 74
CHƯƠNG 3 – ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 76
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 76
3.1.1 Ảnh hưởng của hoạt động đầu tư vàng của NHTW ở một số nước trên thế giới 76 3.1.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ kinh nghiệm quốc tế trong việc quản lý vàng 76 3.1.3 Định hướng công tác quản lý thị trường vàng trong nước thuộc thẩm quyền quản lý của NHNN 78
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý kinh doanh vàng 80 3.2.1 Tổ chức kinh doanh vàng 80
3.2.2 Biện pháp nới lỏng quản lý cụ thể 82
3.2.3 Sàn giao dịch vàng 83
3.2.4 Phối hợp hoạt động của các cơ quan 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Những mốc quan trọng trong lịch sử tiền tệ của vàng………18 Bảng 1.2 Một số Sở giao dịch hàng hóa lớn có giao dịch vàng trên thế giới 23 Bảng 2.1 Thống kê tổng số giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vàng 41 Bảng 2.2 Hạn ngạch vàng qua các năm……… 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, vai trò của các ngân hàng trung ương đã
có sự thay đổi rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008 đã tác động mạnh mẽ tới việc điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng trung ương, dẫn đến yêu cầu cấp thiết trong việc mở rộng vai trò của các ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tài chính và giám sát hệ thống một cách hiệu quả Với chức năng là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, hầu hết ngân hàng Trung ương các nước đều có chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia và quản lý thị trường trong nước
Tại Việt Nam, sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống tài chính nói riêng đã đặt ra yêu cầu cần phải có quy định cụ thể hơn về trách nhiệm, thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) với vai trò
là một ngân hàng trung ương, và các cơ quan liên quan trong việc hoạch định
và thực thi chính sách tiền tệ, cũng như hoạt động kinh doanh vàng hiện nay
Những năm gần đây, biến động mạnh của giá vàng tại các thị trường trong nước và quốc tế, kéo theo những bất ổn trên các sàn vàng và trong các giao dịch vàng tài khoản ở Việt Nam trong khi nhà nước vẫn chưa có biện pháp nhằm kiểm soát các hoạt động này Không có ngành kinh doanh nào bất
ổn và nhiều rủi ro như kinh doanh vàng ở Việt Nam Thời gian qua đã có hàng loạt vụ kiện tụng, tranh chấp, mà cuối cùng nhà đầu tư đều chấp nhận thua cuộc, mất toàn bộ vốn liếng trên sàn vàng, bởi vì chưa có pháp luật điều chỉnh hoạt động này, và đại bộ phận nhà đầu tư còn thiếu hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực này
Trang 102 Mục đích, lý do chọn đề tài
Có thể nói, đây là thời điểm thích hợp để đánh giá vai trò của vàng và hoạt động kinh doanh vàng đối với kinh tế thế giới nói chung, và nền kinh tế Việt Nam nói riêng Các nhà quản lý, lập chính sách và kinh doanh tại Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm đến tác động của giá vàng trong việc điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Trung ương, cũng như hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Mục đích lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hoạt động quản lý kinh doanh vàng ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp” là tìm hiểu và làm rõ tình hình kinh doanh vàng & quản lý kinh doanh vàng của Ngân hàng Trung ương thông qua việc ban hành các chính sách, trên cơ sở đó nhằm mục đích đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Chỉ trong một thời gian ngắn, vốn kiến thức và khả năng phân tích tổng hợp của bản thân còn nhiều hạn chế, do đó tôi chỉ xin trình bày trong Luận văn này tình quản lý hoạt động kinh doanh vàng ở nước ta hiện ta dưới góc độ là một chức năng của Ngân hàng trung ương thông qua việc ban hành các chính sách để quản lý đối với thị trường vàng trong nước
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong luận văn, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp Với những kiến thức, những tài liệu tích lũy được trong quá trình học tập từ những năm tháng là sinh viên, học viên tại Khoa Luật- ĐHQGHN; bằng khả năng tổng hợp; liên kết logic; đánh giá vấn
đề trên cơ sở lý luận biện chứng, tôi mạnh dạn đưa ra những quan điểm, ý kiến của cá nhân mình
5 Bố cục của luận văn
Trang 11Chương 1 Tổng quan về kinh doanh vàng & quản lý kinh doanh vàng của
Ngân hàng Trung ương
Chương 2 Thực trạng hoạt động quản lý kinh doanh vàng tại Việt Nam hiện
nay
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng
Do thời gian có hạn, trình độ nghiên cứu, khả năng đánh giá, nhìn nhận vấn đề còn nhiều hạn chế nên Luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ phía quý thầy cô và bạn
bè để Luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 12CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH VÀNG VÀ QUẢN LÝ KINH DOANH VÀNG CỦA NGÂN HÀNG
TRUNG ƯƠNG
1.1 Tổng quan về kinh doanh vàng
1.1.1 Vai trò của vàng và hoạt động kinh doanh vàng
Vàng vừa có vai trò là một hàng hóa đặc biệt vừa có vai trò là tiền tệ
1.1.1.1 Vai trò hàng hóa của vàng
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, được trao đổi, mua bán nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị
sử dụng - ích dụng của hàng hóa thỏa mãn như cầu nào đó của con người và giá trị - lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Với cách hiểu này, vàng được coi là một loại hàng hóa do có đầy đủ hai thuộc tính kể trên
Giá trị sử dụng của vàng rất đa dạng Vàng trước tiên được dùng làm
đồ trang sức, mỹ nghệ do vàng có mầu sắc rực rỡ, dễ gia công và không bị ăn mòn Đồ trang sức bằng vàng từ lâu đã được ưa chuộng nhờ tính thẩm mỹ và
độ bền của màu vàng, là biểu tượng của sự giàu có và quyền lực Ngày nay, với sự phát triển của trình độ kim hoàn, sản phẩm trang sức bằng vàng có mẫu
mã ngày càng phong phú, thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng và
do đó nhu cầu vàng trang sức vẫn không ngừng tăng cao ở các quốc gia
Ngoài được sử dụng làm đồ trang sức, vàng còn là nguyên liệu quan trọng trong các ngành dược, thực phẩm, cơ khí và điện tử
1.1.1.2 Vai trò tiền tệ của vàng
Vàng có đầy đủ chức năng của tiền tệ đó là: thước đo giá trị, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới Vàng được dùng để làm chuẩn đo giá trị của các tài sản khác đặc biệt là tài sản có giá trị lớn như
Trang 13nhà cửa, đất đai…Việc sử dụng vàng là thước đo giá trị chung cho tất cả các loại hàng hóa giúp cho việc trao đổi được thực hiện dễ dàng thông qua phương tiện thanh toán là vàng
Ngoài ra, vàng còn là phương tiện cất trữ phổ biến hơn bất kỳ loại tiền
tệ nào do tính chất vật lý bền vững trước nguy cơ xảy ra thiên tai, chiến tranh, hỏa hoạn Đồng thời, tiền vàng khác tiền giấy ở chỗ tiền vàng luôn giữ được giá trị lâu dài, không phải là tài sản nợ của bất kỳ quốc gia nào do đó giá trị tiền vàng không phụ thuộc vào tình hình chính trị và sự kiểm soát của các quốc gia như tiền giấy [12] Đó chính là lý do vàng được lựa chọn là phương tiện cất trữ phổ biến đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hay leo thang chính trị
Vàng cũng đóng vai trò tiền tệ thế giới do vàng được chấp nhận thanh toán ở các quốc gia, không phân biệt biên giới lãnh thổ Do vậy, vàng thường được ngân hàng trung ương các nước nắm giữ một tài sản dự trữ quốc tế bên cạnh các đồng tiền mạnh để hỗ trợ cán cân thanh toán trong trường hợp đối mặt với khủng hoảng, thiên tai hay chiến tranh
1.1.2 Hoạt động kinh doanh vàng
Việt Nam là nước chủ yếu nhập khẩu vàng để tiêu thụ trong nước, theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước hàng năm Việt Nam nhập khẩu khoảng từ 50-60 tấn vàng, lượng vàng khai thác trong nước không đáng
kể, chỉ đạt 1-2 tấn/năm [15] Do đó, lượng vàng nằm trong dân còn rất lớn, chưa huy động đúng mức nguồn vốn đầy tiềm năng này để đầu tư phát triển kinh tế, trong khi đó Việt Nam hàng năm phải tiêu tốn hàng triệu USD để nhập khẩu vàng Trong thời gian vừa qua, giá vàng quốc tế biến động không ngừng khiến các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kể cả người dân có tích trữ vàng gặp nhiều khó khăn do chưa có điều
Trang 14kiện sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh vàng [12]
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 [10] cho phép các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng có đủ điều kiện được kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài Đây là bước đi tích cực của Cơ quan quản lý Nhà nước trong việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh vàng theo hướng hội nhập quốc tế Quyết định này mới chỉ quy định hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài, tuy đang ở phạm vi, mức độ hẹp nhưng đã góp phần gắn kết thị trường vàng Việt Nam với thị trường vàng quốc tế
Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp và những rủi ro trong hoạt động của sàn giao dịch vàng, ngày 06 tháng 01 năm 2010 Ngân hàng Nhà nước đã ban hành thông tư số 01/2010/TT-NHNN [16] bãi bỏ quyết định 03/2006/QĐ-NHNN Sự ra đời của thông tư 01/2010/TT-NHNN đã gây ra nhiều tranh cãi trong cách thức quản lý các sàn giao dịch vàng hiện nay của
cơ quan có thẩm quyền
1.1.2.1 Lý do đầu tư vào vàng
Vàng đã hấp dẫn nhà đầu tư trong nhiều thế kỷ qua và vẫn là công cụ đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư hiện đại mặc dù vai trò tiền tệ của vàng đã giảm bớt và nhu cầu về vàng vật chất đáp ứng nhu cầu sử dụng cũng không lớn như các hàng hóa thông thường khác Chính tính chất đặc biệt của vàng vừa là tiền
tệ vừa là hàng hóa là lý do hấp dẫn các nhà đầu tư khi muốn tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá vàng và phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu tư
- Đầu tư vàng để hưởng chênh lệch giá:
Cũng giống như hoạt động đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay đầu tư vào thị trường hàng hóa, nhà đầu tư lựa chọn vàng với kỳ vọng vào sự tăng giá của loại tài sản này Mặc dù giá vàng thường xuyên biến động, khó dự báo
Trang 15nhưng những nhà đầu tư có kinh nghiệm sẽ tận dụng chính đặc điểm thường xuyên biến động này của giá vàng để tìm kiếm chênh lệch giá trong chiến lược đầu tư ngắn hạn
Đồng thời, do sản lượng khai thác không phải vô tận trong khi nhu cầu
về vàng vật chất phục vụ các ngành công nghiệp, dược phẩm vẫn tăng lên đều đặn thì xu hướng vàng tăng giá trong dài hạn là hiển nhiên
Do đó, cả nhà đầu tư ngắn và dài hạn đều có thể tìm đến vàng như là công cụ đầu tư nhằm hưởng chênh lệch giá
- Đầu tư vào vàng như phương tiện phòng ngừa rủi ro:
Một danh mục đầu tư bao gồm vàng thường lành mạnh và ít biến động hơn danh mục đầu tư không chứa vàng do đầu tư vào vàng sẽ hạn chế rủi ro lạm phát khi tiền tệ mất giá và rủi ro giảm giá danh mục tài sản
Do vàng là một loại hàng hóa nên khi xảy ra lạm phát khiến đồng tiền mất giá, giá cả hàng hóa tăng cao thì giá vàng cũng sẽ tăng Nhờ đó, danh mục đầu tư gồm tiền và vàng sẽ hạn chế được rủi ro lạm phát Đặc biệt, vàng
là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro mất giá của đồng đô la Mỹ hơn bất
kỳ tài sản nào khác do giá vàng phụ thuộc chặt chẽ và diễn biến theo chiều ngược với giá USD [12]
Đồng thời, với vai trò tiền tệ, vàng là công cụ phòng ngừa rủi ro giảm giá của danh mục tài sản Giá vàng ít biến động hơn so với các chỉ số giá cả hàng hóa và chứng khoán Do vậy, trong trường hợp do diễn biến kém khả quan của tình hình kinh tế dẫn tới sự sụt giảm của các loại chứng khoán, dầu
mỏ hay các hàng hóa khác thì vàng sẽ đóng vai trò hạn chế sự sụt giảm giá trị của toàn bộ danh mục
Như vậy, nhờ tính chất vừa là hàng hóa vừa là tiền tệ nên khi có diễn biến bất thường đối với giá trị tiền tệ hay giá cả hàng hóa thì giá vàng vẫn
Trang 16được củng cố, nhờ đó sẽ hạn chế được rủi ro tổng thể đối với toàn bộ danh mục đầu tư
Các hình thức kinh doanh vàng:
Hình thức kinh doanh vàng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú cùng với sự phát triển của thị trường tài chính nói chung Về cơ bản, nhà đầu tư có thể kinh doanh vàng vật chất hoặc vàng tài khoản thông qua các hình thức dưới đây:
Kinh doanh vàng vật chất:
Kinh doanh vàng vật chất là việc nhà đầu tư mua và nắm giữ vàng vật chất dưới dạng tiền vàng, vàng thỏi, vàng miếng nhằm bảo toàn giá trị hoặc bán ra khi có biến động có lợi về giá Việc mua bán vàng vật chất sẽ đi cùng với việc giao nhận vàng trên thực tế Hoạt động này có thể diễn ra tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc nhỏ lẻ đối với thị trường chưa phát triển nơi nhà đầu tư trực tiếp tới cửa hàng để mua bán vàng hoặc thông qua các sàn giao dịch kim loại quý tại các thị trường phát triển Lúc này, vàng được giao dịch cũng như các loại hàng hóa thông thường khác
Ưu điểm của kinh doanh vàng vật chất là nhà đầu tư có thể bảo toàn lượng vàng vật chất nắm giữ và hạn chế rủi ro khi có biến động lớn về giá do nhà đầu tư sử dụng 100% vốn của mình để thực hiện hoạt động đầu tư mà không sử dụng đòn bẩy tài chính do các tổ chức kinh doanh vàng cung cấp Tuy nhiên, mua bán vàng vật chất phát sinh những chi phí đáng kể liên quan tới giao nhận, bảo quản Đồng thời, việc không sử dụng đòn bẩy tài chính cũng hạn chế quy mô giao dịch của các thành viên trên thị trường
Gửi tiết kiệm vàng
Trang 17Gửi tiết kiệm vàng là việc nhà đầu tư gửi tiết kiệm bằng vàng tại các ngân hàng có uy tín và được nhận lãi như các khoản tiền gửi thông thường khác Đến kỳ đáo hạn, nhà đầu tư có thể rút cả gốc lẫn lãi bằng vàng
Ưu điểm của hình thức gửi tiết kiệm vàng là nhà đầu tư vẫn có thể bảo toàn được trạng thái vàng vật chất mà họ muốn duy trì, vừa có thể hưởng lãi
từ tài khoản gửi tiết kiệm, đồng thời hạn chế được rủi ro và chi phí trong việc
tự cất trữ vàng Ngoài ra, mặc dù đã được gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại các ngân hàng nhưng tính thanh khoản của vàng trên tài khoản tiết kiệm vẫn được bảo đảm thông qua việc mua bán, chuyển nhượng hay cầm cố các chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng huy động phát hành
Tuy nhiên, do tính an toàn tương đối cao nên mức lợi nhuận thu được
từ việc gửi tiết kiệm vàng thường thấp hơn các hình thức kinh doanh khác
Cho vay vàng:
Cho vay vàng là việc người nắm giữ vàng cho người có nhu cầu sử dụng hoặc đầu tư vay trong kỳ hạn và với mức lãi suất nhất định được quy định tại hợp đồng vay Hợp đồng cho vay thường được ký kết giữa bên cho vay là các Ngân hàng Trung ương và bên vay là các định chế tài chính trung gian (ngân hàng, công ty tài chính…) hoặc giữa bên cho vay là các định chế tài chính trung gian và bên đi vay là các tổ chức kinh doanh vàng
Lợi ích của việc cho vay vàng cũng tương tự gửi tiết kiệm vàng Đó là khả năng bảo toàn trạng thái vàng vật chất, thu lãi từ hợp đồng vay và hạn chế rủi ro, chi phí bảo quản vàng vật chất Ngoài ra, cho vay vàng thường có mức lợi tức cao hơn so với gửi tiết kiệm vàng
Tuy nhiên, tính thanh khoản của hợp đồng cho vay vàng thấp hơn so với gửi tiết kiệm vàng do bên cho vay không thể lấy lại lượng vàng cho vay trước khi hợp đồng vay đến hạn trong khi người gửi tiết kiệm có thể rút gốc
Trang 18trước kỳ đáo hạn Điều này ảnh hưởng tới quyết định cho vay vàng của các nhà đầu tư khi cân nhắc tính thanh khoản của tài sản
Mua các chứng chỉ quỹ đầu tư vàng:
Quỹ đầu tư vàng (GETF) là quỹ đầu tư huy động vốn của nhà đầu tư
để kinh doanh vàng vật chất Các quỹ đầu tư phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn và niêm yết chứng chỉ quỹ trên các sàn chứng khoán lớn trên thế giới như một loại chứng khoán Các nhà quản lý GETF là những chuyên gia kinh doanh vàng, họ theo dõi sát biến động giá vàng và kiếm lời từ những biến động này Hiện nay, trên thế giới có các chứng chỉ GETF nổi tiếng đang được giao dịch như Gold Bulltion Securities, SPDR Gold Trust, Dubai Gold Securities, Gold Bulltion Securities Australia, NewGold…, trong đó SPDR Gold Trust là quỹ đầu tư vàng vật chất lớn nhật thế giới Chứng chỉ Quỹ này hiện đang được niêm yết tại thị trường chứng khoán New York, Singapor, Nhật Bản và Hồng Kông
Nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ đầu tư vàng sẽ thu được lợi nhuận từ chênh lệch giá mua bán chứng chỉ quỹ và lãi đầu tư hàng năm theo quyết định của hội nghị nhà đầu tư Giá chứng chỉ quỹ biến động phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của quỹ thể hiện qua sự biến động của tổng tài sản ròng Tài sản ròng của quỹ ngày càng tăng thì giá chứng chỉ quỹ đó sẽ có xu hướng tăng và ngược lại
Ưu điểm của hình thức kinh doanh này là nhà đầu tư có thể tham gia vào thị trường vàng vật chất một cách gián tiếp, tận dụng được trình độ, kinh nghiệm của các nhà quản lý quỹ cũng như giảm thiếu chi phí trong giao nhận, bảo quản vàng vật chất Do vậy, hiệu quả kinh doanh thường cao hơn so với việc nhà đầu tư cá nhân trực tiếp tham gia kinh doanh vàng vật chất, đặc biệt với những nhà đầu tư nhỏ lẻ, không có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh
Trang 19vàng Đồng thời, tính thanh khoản của chứng chỉ đã được niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoản là cao
Tuy nhiên, nhà đầu tư khi mua chứng chỉ quỹ sẽ không chắc chắn thu được một tỷ lệ lợi nhuận nhất định như gửi tiết kiệm hoặc cho vay vàng Nhà đầu tư sẽ gặp rủi ro không bảo toàn được tài sản khi quỹ hoạt động không hiệu quả, tài sản ròng ngày càng sụt giảm Do vậy, nhà đầu tư cần lựa chọn những quỹ có uy tín, kết quả hoạt động tốt, có chế độ công bố thông tin minh bạch, rõ ràng để ủy thác đầu tư
Kinh doanh vàng trên tài khoản:
Khác với kinh doanh vàng vật chất thông qua 4 hình thức như đã nêu
ở trên, kinh doanh vàng trên tài khoản là việc nhà đầu tư mở tài khoản (thông thường mở 01 tài khoản vàng và 01 tài khoản tiền với số dư nhất định ban đầu
để thực hiện đầu tư) tại các ngân hàng hay tổ chức được phép kinh doanh vàng và tiến hành các giao dịch mua bán trên tài khoản để đầu cơ chênh lệch giá Kinh doanh vàng tài khoản không đi kèm với việc giao nhận vàng trên thực tế, tài khoản vàng chỉ sử dụng để ghi chép việc mua bán các giao dịch vàng mà không được rút, chuyển nhượng hay chuyển thành vàng vật chất Do
đó, đây đơn thuần chỉ là hoạt động đầu cơ chênh lệch giá hay một công cụ đầu
tư tài chính phái sinh từ hoạt động kinh doanh vàng vật chất
Thông thường, các tổ chức cung cấp dịch vụ kinh doanh vàng tài khoản sẽ cung cấp đòn bẩy tài chính cho các nhà đầu tư thông qua việc quy định tỷ lệ ký quỹ Chẳng hạn, nếu tỷ lệ ký quỹ là 10% thì nhà đầu tư có số dư tương đương 10 lượng vàng sẽ được phép vay 90 lượng để giao dịch với trị giá lên tới 100 lượng
Kinh doanh vàng trên tài khoản là kênh đầu tư tài chính hấp dẫn giúp nhà đầu tư có thể tối đa mức lợi nhuận thu được bằng việc sử dụng đòn bẩy
Trang 20tài chính Đồng thời không phát sinh các chi phí vận chuyển, bảo quản vàng vật chất
Tuy nhiên, kinh doanh vàng trên tài khoản đi kèm với sử dụng đòn bẩy tài chính cao tiềm ẩn rủi ro thua lỗ lớn đối với nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư thiếu kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vàng do giá vàng biến động thường xuyên và rất khó dự báo
1.1.3 Lịch sử tiền tệ của vàng
Việc sử dụng vàng như một loại tiền tệ đã trải qua quá trình lịch sử lâu dài Lịch sử tiền tệ của vàng có thể tóm tắt như trong bảng sau:
Bảng 1.1 Những mốc quan trọng trong lịch sử tiền tệ của vàng
5000 năm trước Công nguyên Vàng là phương tiện trung gian
trao đổi
600 năm trước Công nguyên Electrum- hợp kim tự nhiên giữa
vàng và bạc dùng để đúc những đồng tiền đầu tiên tại Thổ Nhĩ Kỳ
500 năm trước Công nguyên Những đồng tiền đầu tiên được
đúc bằng vàng nguyên chất với trọng lượng và độ tinh khiết được đảm bảo 1300-1400 sau Công nguyên Thời kỳ của tiền giấy cùng với
những đồng tiền vàng, bạc và tiền kim loại khác
vàng và bạc sang chế độ bản vị đơn: Chế độ bản vị vàng đầy đủ
Trang 21vị vàng khối, giấy bạc được đảm bảo bằng vàng khối với tỷ lệ do pháp luật quy định
vàng chuyển đổi, nguồn dự trữ tiền tệ
có thể giữ dưới dạng tiền đảm bảo bằng vàng Sau năm 1940, đồng tiền duy nhất các Ngân hàng trung ương
có thể dùng để mua vàng là USD với bản vị chuyển đổi giá ngang nhau là 35USD/oz
35USD/oz Thị trường vàng chia thành Thị trường chính thức cho các giao dịch của Ngân hàng trung ương
trường tự do Các nhà kinh doanh tư nhân và chính thức được tự do kinh doanh vàng
Trang 22Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008), Lịch sử tiền tệ của vàng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội [13]
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh vàng
Không tính những biến động về sản lượng khai thác tại một thời điểm nào đó hoặc nhu cầu vàng trang sức tăng theo mùa như lễ hội, cưới hỏi vào cuối năm có thể tác động nhất định tới giá vàng, những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới tâm lý tích trữ hoặc bán ra vàng của nhà đầu tư gồm:
- Biến động của đồng đô la Mỹ
Đồng đô la Mỹ mất giá sẽ khiến giá vàng quy đổi ra USD tăng lên và ngược lại Do vậy, giá vàng sẽ có xu hướng tăng khi nhà đầu tư kỳ vọng vào
sự giảm giá của đồng bạc xanh khi nhìn vào các chỉ số kinh tế như lạm phát, lãi suất tiền gửi của Mỹ… Kỳ vọng lạm phát tăng trong tương lai dẫn tới lo ngại về sự mất giá của USD sẽ khiến nhà đầu tư từ bỏ đầu tư vào đồng tiền này Tương tự như vậy, khi lãi suất USD thấp sẽ khiến đồng tiền này trở thành kênh đầu tư kém hấp dẫn hơn so với các đồng tiền khác, từ đó có thể dẫn tới sự giảm giá của đồng USD Tóm lại, bất kể yếu tố nào có thể ảnh hưởng tới sự lên giá hay mất giá của đồng USD đều là yếu tố ảnh hưởng tới giá vàng
- Biến động của các thị trường hàng hóa
Do vàng vừa có vai trò hàng hóa vừa có vai trò tiền tệ nên sự biến động giá cả trên thị trường hàng hóa ảnh hưởng rất lớn tới giá vàng Khi giá các hàng hóa chủ chốt như dầu thô sụt giảm thì nhà đầu tư sẽ tìm đến hàng hóa khác thay thế hoặc đầu tư vào thị trường tiền tệ Trong cả hai trường hợp này thì vàng vẫn là một kênh đầu tư thay thế hấp dẫn
- Biến động của thị trường chứng khoán (thị trường vốn)
Trang 23Bên cạnh thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa, thị trường vốn cũng
là một kênh thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhà đầu tư Do đó, sự biến động của thị trường chứng khoán toàn cầu đặc biệt là thị trường chứng khoán Mỹ là yếu tố quan trọng tới tâm lý của nhà đầu tư Sự sụt giảm của các chỉ số chứng khoán do tín hiệu bi quan về triển vọng phát triển của các doanh nghiệp sẽ khiến các nhà đầu tư tìm đến các kênh đầu tư thay thế khác trong đó có vàng Đồng thời, thị trường chứng khoán với tư cách là hàn thử biểu của nền kinh tế nếu liên tục đi xuống sẽ là dấu hiệu không khả quan cho sự phát triển của các nền kinh tế, từ đó gây cho nhà đầu tư tâm lý ngại đầu tư vào các tài sản rủi ro
và tìm đến công cụ an toàn hơn là vàng
- Diễn biến bất thường của nền kinh tế
Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng hoặc có xảy ra chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn… thì vai trò của vàng với tư cách là phương tiện cất trữ giá trị được đánh giá cao hơn bao giờ hết Kinh tế khủng hoảng khiến tiền giấy mất giá hoặc biến cố thay đổi về chính trị có thể gây nguy cơ biến đồng tiền của chế độ cũ trở thành vô giá trị thì tích trữ vàng rõ ràng là sự lựa chọn an toàn Bên cạnh các trường hợp đó, khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn có thể gây hư hỏng tiền giấy nhưng vàng thì không
Do vậy, để đề phòng các trường hợp khẩn cấp, bất thường xảy ra đối với nền kinh tế như các trường hợp kể trên, dân chúng đặc biệt là chính phủ các nước thường có tâm lý tích trữ vàng vì vàng luôn là vàng, luôn giữ được giá trị trong mọi trường hợp và là tiền tệ quốc tế trong trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia Điều này lý giải tại sao giá vàng thường lên cao kỷ lục trong những thời kỳ khủng hoảng, chẳng hạn khủng hoảng tài chính thế giới bùng
nổ năm 2008 đã đẩy giá vàng vượt qua mốc 1.000USD/1ounce
Như vậy, giá vàng thường xuyên biến động do phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế, chính trị khác nhau Khi giá vàng biến động sẽ tác động mạnh
Trang 24đến mặt bằng giá trong nước, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đến hoạt động ngân hàng do đó tác động đến việc điều hành chính sách tiền
tệ
1.2 Tổng quan về quản lý kinh doanh vàng của Ngân hàng trung ương
1.2.1 Chức năng quản lý của Ngân hàng Trung ương đối với hoạt động kinh doanh vàng
Như đã phân tích tại vai trò của vàng, một trong hai vai trò quan trọng của vàng là vai trò tiền tệ Trên thực tế, mặc dù vai trò tiền tệ của vàng có giảm theo thời gian nhưng không thể hoàn toàn mất đi đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và tiền tệ quốc tế Do vậy, với chức năng là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, hầu hết ngân hàng Trung ương các nước đều có chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia và quản lý thị trường trong nước
Đối với hoạt động quản lý vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc tế, hầu hết ngân hàng trung ương các nước đều được giao quản lý tài sản dự trữ trong
đó có vàng để thực thi chính sách tiền tệ
Đối với quản lý kinh doanh vàng trên thị trường vàng trong nước, tùy vào từng mức độ sử dụng vàng như một loại tiền tệ ở từng quốc gia mà chính sách quản lý cũng khác nhau
Ở những nước phát triển, giá trị đồng nội tệ ổn định hoặc có đồng nội
tệ là đồng tiền tự do chuyển đổi, thị trường tài chính và các công cụ đầu tư tài chính phát triển thì vàng chỉ đóng vai trò là hàng hóa hoặc công cụ đầu tư tài chính thông thường Do vậy, thường không còn hạn chế đối với hoạt động kinh doanh vàng ở các thị trường này Ở rất nhiều nước, vàng được giao dịch như hàng hóa tại các Sở giao dịch hàng hóa chính thức Các Sở giao dịch hàng hóa được thành lập dưới dạng công ty, có tư cách pháp nhân độc lập, do
tư nhân đầu tư 100% hoặc kết hợp giữa vốn tư nhân và Nhà nước Hoạt động
Trang 25của Sở do các Ủy ban chuyên trách như Ủy ban chứng khoán và hàng hóa giám sát và quản lý Khi đó, NHTW không thực hiện chức năng quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng Dưới đây là một số Sở giao dịch hàng hóa lớn
có giao dịch vàng trên thế giới:
Bảng 1.2 Một số Sở giao dịch hàng hóa lớn có giao dịch vàng trên
Thế giới
Sở giao dịch Tên viết tắt Địa điểm Hàng hóa giao dịch
New York Mercantile
Exchange (CME Group)
NYMEX New York,
US
Energy, Precious Metans, Industrial Metans
Dubai Gold &
Commodities Exchange
Hong Kong Mercantile
Exchange
TOCOM Pakistan Energy, Precious
Metals, Industrial Metals, Agricultural
Trang 26London Metal Exchange LME London,
UK
Industrial Metals, Plastic
Nguồn: Tổng hợp từ website www.gold.org
Ngược lại, ở những nước đang phát triển, các phương tiện thanh toán, đầu tư còn nghèo nàn, giá trị đồng bản tệ kém ổn định thì việc dùng vàng làm phương tiện cất trữ giá trị, tự bảo hiểm chống lạm phát còn rất phổ biến khiến vai trò tiền tệ của vàng được phát huy [28] Do vậy, Ngân hàng Trung ương các nước này (ví dụ như Trung Quốc, Myanma, Việt nam,…) thường có chính sách quản lý chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh vàng để bảo đảm thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia Cụ thể, trong Luật Ngân hàng trung ương Trung quốc, Myanma và Việt Nam có quy định rõ một trong những chức năng của cơ quan này là quản lý và giám sát thị trường vàng
Tuy nhiên, cùng với xu thế tự do hóa thị trường tài chính của các nước đang phát triển, chính sách quản lý hoạt động kinh doanh vàng của các nước cũng ngày càng được nới lỏng Thông thường quá trình tự do hóa thị trường vàng trải qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nền kinh tế đóng cửa, các hoạt động về vàng bị cấm hoàn toàn
Giai đoạn 2: Các quy định về hạn chế hoạt động kinh doanh vàng được nới lỏng dần trong một môi trường có sự quản lý của Nhà nước
Giai đoạn 3: Không có cản trở gì trong hoạt động kinh doanh vàng (hoàn toàn tự do), kể cả trong quan hệ xuất nhập khẩu [27]
Trang 271.2.2 Mô hình quản lý hoạt động kinh doanh vàng của một số nước trên thế giới
1.2.2.1 Quản lý giao dịch hàng hóa trên các thị trường được cấp phép của
Tiểu vương quốc Ả rập
Tại tiểu vương quốc Ả rập, các thị trường được cấp phép trong đó có
Sở giao dịch vàng và hàng hóa Dubai chịu sự quản lý và giám sát của Ủy ban chứng khoán và hàng hóa (The Emirate Securities & Commodities Authority- ESCA, dưới đây gọi tắt là “Ủy ban”) Ủy ban là pháp nhân 100% vốn Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, giám sát hoạt động của các thị trường được cấp phép nhằm giúp thị trường hoạt động an toàn, hiệu quả, bảo đảm lợi ích của các thành viên tham gia thị trường, hướng tới sự ổn định của thị trường tài chính và nền kinh tế nói chung
Ủy ban thực hiện chức năng quản lý, giám sát hoạt động của các thị trường được cấp phép thông qua các quy định cụ thể sau:
- Cấp phép thành lập thị trường: Việc thành lập thị trường phải được
Ủy ban cấp phép, không giao dịch nào được phép thực hiện trên một thị trường chưa được cấp phép Điều kiện cấp phép bao gồm: (i) thành lập dưới hình thức 100% vốn Nhà nước hoặc vốn Nhà nước chiếm đa số hoặc hình thức khác do Ủy ban chấp thuận; (ii) có địa điểm thích hợp với các trang thiết
bị kỹ thuật cần thiết
- Hoạt động thanh tra, giám sát: Thị trường phải hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban có quyền tiến hành điều tra, thanh tra việc tuân thủ các Luật và các quy định có liên quan
- Giám sát các quy định của thị trường: thị trường được phép đưa ra các quy định đối với hoạt động trên thị trường nhưng các quy định này phải được sự xem xét chấp thuận của Ủy ban
Trang 28- Chế độ thông tin, báo cáo: Thị trường phải cung cấp cho Ủy ban bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán quốc tế trong vòng 3 tháng sau khi kết thúc năm tài chính Ủy ban cũng
có quyền yêu cầu Thị trường cung cấp thông tin bổ sung bất kể lúc nào nếu cần thiết Đồng thời, khi có bất kể sự thay đổi nào ảnh hưởng tới tình hình tài chính, Thị trường có nghĩa vụ báo cáo ngay lên Ủy ban
Thị trường phải cung cấp cho Ủy ban các báo cáo giao dịch định kỳ như:
- Báo cáo giao dịch hàng ngày gồm có báo cáo về loại hàng hóa hoặc hợp đồng hàng hóa được giao dịch, giá cả, số lượng và tổng số giao dịch trong ngày;
- Báo cáo giao dịch hàng tháng bao gồm số lượng giao dịch, giá trị giao dịch trong tháng và giá đóng cửa cuối ngày;
- Báo cáo giao dịch hằng năm bao gồm số lượng giao dịch của các loại hàng hóa, giá trị giao dịch và số lượng giao dịch của năm so với năm trước
đó, đồng thời, đưa ra những biến động nổi bật của Thị trường trong năm, ảnh hưởng đối với thị trường và đề xuất của Ban lãnh đạo nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của những biến động đó
- Phối hợp giữa các thị trường: theo sự chỉ đạo của Ủy ban, thị trường phải phối hợp với các thị trường khác và các cơ quan quản lý nước ngoài khi cần thiết để điều tra hoặc tiến hành các vụ kiện liên quan đến nhiều thị trường
- Đình chỉ giao dịch, Luật lệ và quy định liên quan đến thị trường: Ban Giám đốc Ủy ban có quyền, với đa số phiếu đồng thuận, buộc thị trường tạm dừng toàn bộ giao dịch hoặc dừng giao dịch đối với một hàng hóa hoặc hợp đồng hàng hóa nào đó nếu xảy ra sự cố đe dọa tới hoạt động thông thường của Thị trường
Trang 29Đồng thời, Ban giám đốc Ủy ban có quyền đình chỉ hoặc hủy bỏ các luật lệ và quy định liên quan tới thị trường nếu thấy không phù hợp
- Áp dụng các hình thức phạt: Trong trường hợp thị trường vi phạm việc đóng tiền cho Ủy ban, Ban Giám đốc Ủy ban có quyền áp một trong các hình thức phạt sau:
Gửi thông báo nhắc nhở;
Gửi thông báo yêu cầu thị trường đóng tiền trong vòng 30 ngày kể từ ngày thông báo;
Áp dụng các tỷ lệ phạt 1%, 2%, 5% số tiền phải đóng tương ứng với thời gian chậm thanh toán là 1 tháng, 2 tháng và trên 2 tháng
Ngoài ra, Ủy ban cũng có thể quyết định tạm đình chỉ giao dịch đối với những vi phạm về tài chính này
Như vậy, hoạt động của Sở giao dịch vàng và hàng hóa Dubai là một thị trường được cấp phép sẽ chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan chuyên trách là Ủy ban chứng khoán và hàng hóa Tiểu vương quốc Ả rập Ủy ban này mặc dù không trực tiếp tham gia vào bộ máy quản lý của thị trường nhưng thực hiện việc quản lý bằng cấp phép thành lập, giám sát từ xa qua cơ chế thông tin, báo cáo và thực hiện thanh tra, giám sát tại chỗ khi cần
1.2.2.2 Mô hình quản lý thị trường vàng của Trung Quốc
Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam từ thể chế chính trị đến đặc điểm kinh tế- xã hội, mức độ hội nhập và mở cửa nền kinh tế, do vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thị trường vàng của Trung Quốc có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc định hướng chính sách quản lý hoạt động kinh doanh vàng của Việt Nam
Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh vàng được thống nhất quản lý bởi đầu mối duy nhất là Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa
Trang 30(PBOC) Trong giai đoạn đầu từ năm 1949 đến 2001, Trung Quốc thực hiện kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, PBOC đóng vai trò độc quyền thị trường vàng trong nước Tuy nhiên, cùng với việc tự do thị trường tài chính, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ trong việc tự do hóa từng bước thị trường vàng
Tóm tắt quá trình tự do hóa thị trường vàng của Trung Quốc
- Giai đoạn trước năm 2001:
Trong giai đoạn này, Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa (PBOC) hoàn toàn độc quyền thị trường vàng trong nước từ khâu khai thác, tinh chế, gia công lẫn hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu vàng Cụ thể, các công ty khai thác vàng sau khi tinh chế thành vàng miếng phải bán lại cho các chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa, sau đó Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa sẽ bán lại cho các công ty vàng bạc đá quý chuyên gia công vàng trang sức Các công ty này sau đó được phép bán vàng trang sức cho dân chúng Các hàng kinh doanh vàng trang sức chỉ được phép mua vàng nguyên liệu từ Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa
và bán nhưng không được phép mua lại vàng trang sức từ dân chúng Người dân muốn bán vàng trang sức để lấy tiền mặt sẽ bán tại các chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa Ngoài ra, giá cả mua bán vàng đều phải áp dụng giá do Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa quy định (giá vàng trang sức sẽ được xác định dựa trên hàm lượng vàng thực tế cộng với công chế tác)
Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa quản lý hoạt động xuất nhập khẩu vàng dưới dạng cấp phép xuất nhập khẩu cho các công ty được phép với số lượng tùy vào từng thời điểm
- Giai đoạn từ 2001-2006:
Trang 31Năm 2001 là một năm được coi là mốc quan trọng trong việc tự do hóa thị trường vàng của Trung Quốc Tháng 4/2001, Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa lần đầu tiên chính thức công bố kế hoạch xóa bỏ cơ chế quản lý độc quyền trong mua và phân phối vàng, đồng thời công bố thành lập Sàn giao dịch vàng Thượng Hải Đây được coi là bước đột phá trong chính sách quản lý thị trường vàng của Trung Quốc sau hơn 50 năm thực hiện kiểm soát chặt chẽ Về cơ bản, kế hoạch tự do hóa thị trường vàng của Trung Quốc cũng bao gồm 3 giai đoạn như đối với nhiều nước khác, đó là:
+ Giai đoạn 1: Xóa bỏ chế độ độc quyền kinh doanh vàng và cơ chế kiểm soát giá, đồng thời thành lập Sàn giao dịch vàng Thượng Hải
+ Giai đoạn 2: Từng bước xóa bỏ cơ chế cấp phép đối với hoạt động sản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng, bước đầu là đối với hoạt động bán lẻ Sau
đó, cho phép cá nhân được tham gia giao dịch vàng miếng
+ Giai đoạn 3: Xóa bỏ từng bước chế độ quản lý xuất nhập khẩu vàng Trên cơ sở các bước nêu trên, Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa đã ban hành hàng loạt quy định theo hướng nới lỏng quản lý hoạt động kinh doanh vàng như:
+6/2001: Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa bắt đầu áp dụng chế độ niêm yết giá hàng tuần áp dụng cho các giao dịch mua và phân phối vàng trong nước thay cho việc yết giá hàng ngày hoặc đối với từng giao dịch cụ thể như trước đó
+8/2001: Xóa bỏ việc kiểm soát giá bán lẻ vàng trang sức Các công
ty vàng bạc, đá quý được phép tự quy định giá bán dựa trên tỷ giá, hàm lượng vàng, kiểu dáng, mẫu mã của sản phẩm Các công ty vàng bạc, đá quý cũng được phép mua lại vàng trang sức từ dân chúng
Trang 32Quy định này đã khuyến khích sự phát triển của ngành kim hoàn, các công ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất, đa dạng mẫu mã, từ đó đã hình thành nhiều hãng sản xuất đồ trang sức lớn có tên tuổi
+11/2001: Xóa bỏ chế độ cấp phép đối với hoạt động sản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng trong nước Tuy nhiên, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn chưa được phép tham gia vào lĩnh vực này Cũng trong tháng 11/2001, SGE chính thức được cấp phép thành lập
+10/2002: Sàn giao dịch vàng Thượng Hải chính thức đi vào hoạt động Đây là sàn vàng vật chất giao ngay Sản phẩm được phép giao dịch lúc đầu là vàng miếng đạt tiêu chuẩn quốc tế gồm Au 99.99, Au 99.95 và Au 100g, sau đó mở rộng sang các kim loại quý khác như bạch kim (Pt 99.95) và bạc (Ag) Để thực hiện giao dịch vàng vật chất, Sàn giao dịch vàng Thượng Hải có hệ thống thành viên là các công ty cung cấp dịch vụ lưu kho, bảo quản
và giao nhận vàng [34]
Ban đầu, chỉ nhà đầu tư là tổ chức mới được phép tham gia giao dịch trên Sàn, nhà đầu tư là cá nhân chưa được phép tham gia Sàn giao dịch vàng Thượng Hải có hệ thống thành viên là các tổ chức kinh tế trong nước, gồm: các công ty kinh doanh vàng (công ty khai thác, chế tác, xuất nhập khẩu vàng); các định chế tài chính và các thành viên chủ chốt Các thành viên này
là các nhà tạo lập thị trường, tham gia giao dịch, làm đại lý nhận lệnh, thực hiện chức năng ngân hàng thanh toán hoặc cung cấp dịch vụ kho bãi, giao nhận Tại thời điểm đi vào hoạt động, Sàn giao dịch vàng Thượng Hải có 108 thành viên
Theo số liệu thống kê trên website của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải, giá vàng giao dịch trên Sàn (đơn vị CNY) tương đối sát với giá thế giới (đơn vị USD/ounce) nếu cộng cả thuế và các chi phí nhập khẩu Trong khi hoạt động xuất nhập khẩu vàng đang bị quản lý dưới dạng cấp phép, giá vàng
Trang 33trong nước có sự liên thông với giá vàng thế giới chứng tỏ PBOC có cơ chế quản lý linh hoạt trong việc cho phép các đơn vị xuất hoặc nhập khẩu vàng khi có chênh lệch giá Ngoài ra, cũng có khả năng PBOC trực tiếp mua bán can thiệp thị trường nhằm bình ổn giá, hạn chế tình trạng buôn lậu vàng
Với sự ra đời của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải, giao dịch vàng miếng đã được thực hiện tập trung qua sàn bằng cơ chế khớp lệnh tập trung, giá cả do cung cầu thị trường quyết định, PBOC không thực hiện quy định giá đối với giao dịch vàng miếng Đây là sự kiện đánh dấu sự chấm dứt cơ chế độc quyền đối với thị trường vàng của Trung Quốc
+3/2003: Cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được phép đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh vàng tại thị trường trong nước
Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu vàng vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của PBOC thông qua hình thức cấp phép
+Giai đoạn 2006- nay:
Đối với vàng vật chất trên Sàn giao dịch vàng Thượng Hải:
Tháng 12/2006, PBOC cho phép nhà đầu tư các nhân được phép giao dịch vàng miếng trên Sàn giao dịch vàng Thượng Hải Nhờ quy định này, vàng trở thành kênh đầu tư tài chính hấp dẫn cho các nhà đầu tư các nhân cùng với kênh đầu tư khác như chứng khoán, tiền tệ, bất động sản Với sự tham gia của các nhà đầu tư cá nhân, tính thanh khoản của vàng trên Sàn cũng được nâng lên đáng kể
Ngoài ra, giữa năm 2007, PBOC đã chấp nhận cho một số Ngân hàng nước ngoài gồm HSBC, Standard Chartered, UBS AG và Bank of Nova Scotia (BNS) trở thành thành viên của SGE
Sự ra đời của loại hình kinh doanh vàng trên tài khoản:
Trang 34Tháng 12/2006 cùng với việc cho phép nhà đầu tư cá nhân tham gia giao dịch vàng miếng, PBOC cũng chính thức cho phép các Ngân hàng thương mại được phép cung cấp dịch vụ kinh doanh vàng tài khoản cho khách hàng cá nhân
Kinh doanh vàng qua tài khoản là việc nhà đầu tư có thể thực hiện giao dịch mua bán vàng trên tài khoản của mình nhưng trên thực tế không diễn ra việc giao nhận vàng vật chất cũng như không thế rút vàng vật chất từ tài khoản của mình Về bản chất, đây chỉ là một loại hình đầu tư tài chính, tìm kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá
Hiện nay, các nhà đầu tư cá nhân phải mở 2 tài khoản (1 tài khoản tiền thanh toán và 1 tài khoản vàng) để thực hiện giao dịch tại các Ngân hàng là thành viên của SGE Ngân hàng cung cấp dịch vụ thực hiện chức năng trung gian, mở tài khoản cho nhà đầu tư, nhập lệnh, khớp lệnh và thu phí giao dịch
Theo quy định của PBOC, nhà đầu tư cá nhân chỉ được phép giao dịch trong giới hạn số dư tài khoản tiền hoặc vàng của họ Tức là ngân hàng không được phép cho nhà đầu tư vay để đầu tư vượt quá số tiền hoặc vàng họ đang nắm giữ hay không sử dụng đòn bẩy tài chính (tỷ lệ ký quỹ 100%) Quy định này sẽ hạn chế quy mô giao dịch vàng tài khoản nhưng sẽ giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư trong trường hợp đầu tư thua lỗ
Vai trò quản lý của Ngân hàng Trung ương Nhân dân Trung Hoa đối với Sàn giao dịch vàng Thượng Hải
Sàn giao dịch vàng Thượng Hải (SGE) là pháp nhân độc lập do Nhà nước đầu tư vốn 100% (vốn điều lệ đăng ký là 30.000.000 RBM, tương đương khoảng 4,2 triệu USD), thời gian hoạt động là 50 năm PBOC là cơ quan quản lý giám sát toàn bộ hoạt động của SGE Trong quy chế hoạt động của SGE ghi rõ “SGE chịu sự quản lý và giám sát của PBOC” [34] Vai trò
Trang 35quản lý của PBOC thể hiện rõ nhất đối với cơ cấu tổ chức, nhân sự SGE, cụ thể như sau:
- Giám sát việc thành lập Hội đồng thành viên:
Cơ quan quyết định cao nhất đối với mọi hoạt động của Sàn là Hội đồng thành viên (Member Assembly) gồm đại diện theo pháp luật của các thành viên Theo quy định, trong vòng 10 ngày kể từ khi thành lập Hội đồng thành viên, SGE phải gửi tài liệu báo cáo cung cấp thông tin về Hội đồng thành viên tới PBOC
- Tham gia Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị (Board of Directors) là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các quyết định của Hội đồng thành viên Cơ cấu Hội đồng quản trị gồm từ 9-15 thành viên, trong đó có thành viên Hội đồng quản trị (Member Director) là thành viên Hội đồng thành viên và một số thành viên không thuộc Hội đồng thành viên (Non-member Director) Member Director
sẽ do Hội đồng quản trị hoặc trên 1/5 số thành viên Hội đồng thành viên tiến
cử và do Hội đồng thành viên lựa chọn Non-member Director do PBOC bổ nhiệm Số lượng Non-member Director không được lớn hơn 1/3 tổng số thành viên Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị có 1 Chủ tịch và 1-2 Phó chủ tịch Chủ tịch và các Phó Chủ tịch phải do PBOC tiến cử, sau đó Hội đồng quản trị lựa chọn
Ngoài ra, PBOC cũng có quyền triệu tập họp Hội đồng quản trị bất thường khi cần Đồng thời, trong vòng 10 ngày sau khi họp Hội đồng quản trị, mọi quyết định và các tài liệu liên quan đến cuộc họp phải được báo cáo lên PBOC
- Bổ nhiệm Tổng giám đốc và Phó tổng giám đốc:
Trang 36Sàn giao dịch vàng Thượng Hải có 1 Tổng giám đốc và 1-2 Phó tổng giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày của Sàn Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc phải do PBOC bổ nhiệm Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 2 năm và 1 Tổng giám đốc không giữ chức quá 3 nhiệm kỳ lien tiếp
Sau khi Tổng giám đốc nghỉ việc, Hội đồng quản trị phải tiếp tục ủy quyền cho tổ chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn để tiến hành việc kiểm tra sau thôi việc Thông tin về tổ chức thực hiện việc kiểm tra và báo cáo kết quả kiểm tra phải được báo cáo lên PBOC
- Quản lý thành viên của SGE:
PBOC sẽ xem xét hồ sơ đăng ký và quyết định việc kết nạp thành viên tham gia Sàn cũng như việc chấm dứt hoặc hủy bỏ tư cách thành viên
- Quyết định ngừng hoạt động sàn:
Trong trường hợp hết thời gian hoạt động đã được đăng ký (50 năm)
mà Hội đồng thành viên không quyết định tiếp tục hoạt động hoặc trường hợp sáp nhập, chia tách Sàn thì PBOC là cơ quan phê duyệt và chấp thuận phương
án đóng cửa SGE
Như vậy, PBOC đóng vai trò quản lý và chi phối mọi quyết định của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải thông qua việc quản lý việc tham gia của các thành viên và tham gia bộ máy nhân sự chủ chốt điều hành Sàn Nhờ đó, mặc
dù có sự tham gia của các thành viên nhưng PBOC vẫn giữ được vai trò quản
lý mọi quyết định của SGE nhằm đảm bảo Sàn hoạt động minh bạch, hiệu quả dưới sự kiểm soát của NHTW
Trang 37CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Khái quát pháp luật về quản lý kinh doanh vàng
Năm 1987, Quốc hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [15], nước ta bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, xóa bỏ chế độ quan liêu, bao cấp, bế quan tỏa cảng Luồng vốn đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ bắt đầu đổ vào Việt Nam cùng với chủ trương mở cửa nền kinh tế và xóa bỏ cơ chế bao cấp Việc sử dụng vàng trở nên phổ biến hơn trong giai đoạn tiền đồng mất giá mạnh của thời kỳ này Thị trường vàng mất cân đối nghiêm trọng do Nhà nước vẫn chưa có chủ trương nhập vàng và việc khai thác vàng chưa được tổ chức như hiện nay Trước tình hình đó, Nghị định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ), về
“Điều lệ quản lý ngoại hối” được ban hành, thay thế Nghị định số 102/1963/NĐ-CP ngày 6/7/1963 của Hội đồng Bộ trưởng [7], đã xóa bỏ độc quyền trong kinh doanh ngoại hối Hội đồng Bộ trưởng đã giao Ngân hàng Nhà nước nhiệm vụ quản lý hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vàng cho các doanh nghiệp Đồng thời để ổn định thị trường vàng, ngày 25/5/1989, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 139/1989/QĐ-HĐBT cho phép các đơn vị kinh tế quốc doanh có liên quan đến khai thác, tinh luyện vàng và các hộ cá thể nếu có đủ điều kiện được kinh doanh vàng
Để có chính sách thích hợp, đảm bảo vừa tạo cơ sở pháp lý cho các tổ chức, cá nhân phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh vàng, đồng thời tăng cường vai trò của NHNN trong việc điều tiết cung cầu vàng, ổn định giá cả hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ, ngày 24/9/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/1993/NĐ-CP [2] về quản lý Nhà nước đối với hoạt động
Trang 38kinh doanh vàng Nghị định 63/1993/NĐ-CP về quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng đã tạo ra các cơ sở pháp lý và định hướng quản lý thị trường vàng phù hợp với điều kiện giá cả thị trường còn nhiều biến động, lạm phát cao, góp phần giúp NHNN thu được những thành công đáng kể trong việc ngăn chặn và dập tắt những cơn sốt giá vàng, đưa giá vàng ổn định trong mức biến động chung của giá cả thị trường góp phần tích cực hỗ trợ cho việc điều hành tỷ giá, ổn định giá trị đồng Việt Nam Việc ban hành Nghị định 63/1993/NĐ-CP là một bước đi cần thiết để dỡ bỏ những hạn chế về: phạm vi kinh doanh vàng, quyền sở hữu hợp pháp về vàng và tạo ra một cơ chế xuất nhập khẩu vàng phù hợp với tình hình cung cầu ngoại tệ đã ở mức thấp, đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường
Bên cạnh những tác động tích cực, chính sách quản lý vàng quy định tại nghị định 63/1993/NĐ-CP cũng bộc lộ những hạn chế nhất định thể hiện ở
sự yếu kém của thị trường vàng trang sức, tỷ lệ vàng dùng trong thanh toán cất trữ vẫn chưa giảm triệt để, các doanh nghiệp kinh doanh vàng nhiều nhưng không mạnh, quy mô quá nhỏ, công nghệ lạc hậu, không chú trọng đến đầu tư sản xuất vàng trang sức Vì vậy việc ban hành một chính sách mới phù hợp hơn là một đòi hỏi tất yếu
Để triển khai thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam [19], phù hợp với quy định tại Nghị định 63/1998/ NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối [2] và Nghị định 11/1999/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của Chính phủ quy định về hàng hóa cấm lưu thông [3], dịch vụ thương mại cấm thực hiện; hàng hóa, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện, khắc phục những nhược điểm Nghị định 63/1993/NĐ-CP ngày 24/9/1993 của Chính phủ về quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 174/1999/NĐ-CP ngày 19/12/1999 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng [4] (nghị định có hiệu lực
Trang 39thi hành từ ngày 03/01/2000), đồng thời để hướng dẫn thi hành Nghị định 174/1999/NĐ-CP, NHNN đã ban hành thông tư số 07/2000/TT-NHNN [4]
Nghị định 174/1999/NĐ-CP được xây dựng đồng thời với việc ban hành Luật doanh nghiệp nên đã kế thừa được những tư tưởng thông thoáng của Luật doanh nghiệp Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được đề cao, những biện pháp hành chính được giảm nhiều Nghị định chỉ đề cập một
số vấn đề mang tính chất đặc thù còn các lĩnh vực khác đã được thể hiện trong Luật thương mại và các văn bản khác thì không đưa ra các quy định Phạm vi quản lý hoạt động kinh doanh vàng của NHNN đã được thu hẹp, chỉ quản lý một số hoạt động liên quan đến chính sách tiền tệ như sản xuất vàng miếng, xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, còn các hoạt động khác được coi là những hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác
Sau một thời gian thực hiện Nghị định 174/1999/NĐ-CP, do vai trò của vàng ngày càng giảm, hoạt động kinh doanh vàng được coi là một hoạt động kinh doanh bình thường nên Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/2003/NĐ-CP [5] sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 174/1999/NĐ-CP Trong đó, bỏ quy định về vốn pháp định đối với hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng Đồng thời, Nghị định quy định NHNN chỉ cấp giấy phép đối với hoạt động xuất nhập khẩu vàng vàng nguyên liệu dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng Còn các loại vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu dưới dạng khác không cần có giấy phép của NHNN
mà thực hiện theo Luật Thương mại [22]
Ngày 03/10/2000 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN [8] về nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn bằng vàng, bằng VNĐ bảo đảm Việc ban hành Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN đã tạo cơ sở pháp lý cho các Tổ chức tín dụng (TCTD) huy động vàng nhàn rỗi trong dân cư đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này phục vụ
Trang 40hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có một
số vấn đề phát sinh cần được chỉnh sửa cho phù hợp với thực tiễn
Cùng điều chỉnh lĩnh vực này còn có Quyết định số NHNN [9] ngày 24/3/2008 của NHNN về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của TCTD có quy định về phạm vi điều chỉnh bao gồm giấy tờ có giá bằng vàng, bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo giá vàng thực hiện theo quy định hiện hành của NHNN về huy động và sử dụng vốn bằng vàng, bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo giá vàng Việc huy động vốn bằng vàng theo hình thức phát hành chứng chỉ (phát hành giấy tờ có giá)
07/2008/QĐ-2.2 Pháp luật Việt Nam công nhận quyền sở hữu và kinh doanh vàng
của các tổ chức, cá nhân
Nghị định 63/1993/NĐ-CP ra đời đã xác định vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời xác lập cơ sở pháp lý về quyền sở hữu và kinh doanh vàng trong pháp luật Việt Nam
2.2.1 Nội dung chính của Nghị định 63/1993/NĐ-CP
- Nhà nước công nhận quyền ở hữu hợp pháp về vàng của các tổ chức,
cá nhân
- Chính phủ giao NHNN là cơ quan quản lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh vàng; cùng các Bộ ngành có liên quan và các địa phương thực hiện việc quản lý thị trường vàng trong nước
- Các tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh vàng phải thành lập doanh nghiệp và phải có đủ các điều kiện cần thiết về vốn, thợ kỹ thuật, các thiết bị
và trụ sở phục vụ việc sản xuất kinh doanh
- Đối tượng được phép hoạt động kinh doanh vàng là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (Doanh nghiệp Nhà nước, công ty