Trong xu thế phát triển của thế giới ngày nay nói chung, và của VIỆT NAM nói riêng thì ngành công nghiệp ô tô là một ngành không thể thiếu và đóng vai trò hết sức quan trọng.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNGTrường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội Khoa Công Nghệ Kỹ Thuật Ôtô BÀI BÁO CÁO THỰC HÀNH XƯỞNG Giáo viên hướng dẫn : Bùi Văn Hải
Sinh viên thực hiện :
1 Đỗ Duy Bảo : Nhóm trưởng
2 Trần Duy Bắc
3.TRần Văn Đồng 4.Nguyễn Ninh Đồng 5.Đỗ Mạnh Cường 6.Trần Cao Cường 7.Bùi Khương Duy 8.Trần Công Duy 9.Nguyễn Trọng Hoan 10.Đặng Văn Mạnh 11.Đặng Văn Nam 12.Nguyễn Văn Hoàn 13.Phạm Tiến Dương
Hà Nội – Năm 2011
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế phát triển của thế giới ngày nay nói chung, và của VIỆT NAM nóiriêng thì ngành công nghiệp ô tô là một ngành không thể thiếu và đóng vai trò hết sứcquan trọng Nó giúp nền công nghiệp chung của cả thế giới phát triển, đồng thời nó làphương tiện chuyên chở đáp ứng nhu cầu vận tải và đi lại của con người, nó đóng vai tròquan trọng và thúc đẩy tất cả các ngành nghề và dịch vụ khác cùng phát triển theo
Nắm rõ được tầm quan trọng của ngành nghề và sự đam mê của bản thân, khi sắp tốtnghiệp đại học để trở thành một kỹ sư của ngành ôtô, thì việc củng cố và bồi bổ thêm kiếnthức chuyên ngành là hết sức quan trọng Trong thời gian đi xưởng vừa qua em có cơ hộiđược tìm hiểu về cấu tạo và sự hoạt động của hộp số tự động
Do kiến thức của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều và thời gian có hạnnên bài làm này của em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy giáo hướngdẫn và các thầy cô trong bộ môn tận tình chỉ bảo thêm để bài làm của em được hoàn thiệnhơn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn,cùng các thầy cô giáo trong bộ
môn đã giúp đỡ em hoàn thành đồ án này
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trang 3
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỘP SỐ TỰ ĐỘNG
1.1.Sơ lược về hộp số tự động
Đối với xe sử dụng hộp số thường, cần sang số được sử dụng để chuyển số khi đạp chân
ga nhằm mục đích tăng tốc độ xe Khi lái xe lên dốc hay khi động cơ không đủ lực để leo dốc tại số đang chạy, hộp số được chuyển về số thấp Vì lý do trên nên điều kiện cần thiết đối với lái xe là phải thường xuyên nhận biết tải động cơ và tốc độ xe để chuyển số một cách phù hợp
ở hộp số tự động, lái xe không cần phải chuyển số mà việc chuyển lên hay xuống đến số thích hợp nhất được thực hiện một cách tự động tại thời điểm thích hợp nhất theo tải động
cơ và tốc độ xe Việc điều khiển xe đối với xe có hộp số tự động đã được đơn giản hóa, người lái xe không còn phải thường xuyên đạp ly hợp và chuyển cần sang số như ở hộp sốthường vì xe sử dụng hộp số tự động không có bàn đạp ly hợp nhờ việc dùng biến mô thủy lực
Theo cách điều khiển có thể chia hộp số tự động thành hai loại, chúng khác nhau về hệ thống sử dụng để điều khiển chuyển số và thời điểm khóa biến mô Một loại là điều khiển hoàn toàn bằng thủy lực, loại kia là loại điều khiển điện tử (ECT), nó cũng sử dụng số liệutrong ECU để điều khiển nhưng có thêm chức năng chẩn đoán và dự phòng Hộp số điều khiển hoàn toàn bằng thủy lực hoạt động bởi sự biến đổi một cách cơ khí tốc độ của xe thành áp suất ly tâm và độ mở bướm ga thành áp suất bướm ga rồi dùng các áp suất thủy lực này để điều khiển hoạt động của các ly hợp và phanh trong cụm bánh răng hành tinh,
do đó điều khiển thời điểm lên xuống số Nó được gọi là phương pháp điều khiển thủy lực Mặt khác, đối với hộp số điều khiển điện tử ECT, các cảm biến phát hiện tốc độ xe và
độ mở bướm ga biến chúng thành tín hiệu điện và gửi về bộ điều khiển điện tử (ECU) ECU sau đó điều khiển hoạt động các ly hợp, phanh trên cơ sở những tín hiệu này Vì vậyđiều khiển thời điểm chuyển số.s
1.2.Chức năng của hộp số tự động
Về cơ bản, hộp số tự động có chức năng như một hộp số thường Tuy nhiên, hộp số tự động cho phép đơn giản hóa việc điều khiển hộp số, quá trình chuyển số êm dịu, không cần ngắt đường truyền công suất từ động cơ xuống khi sang số Hộp số tự động tự chọn tỉ
Trang 4số truyền phù hợp với điều kiện hoạt động của ôtô, do đó tạo điều kiện sử dụng gần như tối ưu công suất động cơ Hộp số tự động có những chức năng cơ bản sau:
- Tạo ra các cấp tỉ số truyền phù hợp nhằm thay đổi mômen xoắn từ động cơ đến các bánh
xe chủ động phù hợp với mômen cản luôn thay đổi và nhằm tận dụng tối đa công suất củađộng cơ
- Giúp cho xe thay đổi chiều chuyển động
- Đảm bảo cho xe dừng tại chỗ mà không cần tắt máy hoặc tách ly hợp
Ngoài ra, ở hộp số tự động điều khiển điện tử (ECT) còn có các chức năng an toàn Nếu
có hư hỏng xảy ra trong hệ thống khi đang lái xe ECT sẽ hoạt động ở chế độ dự phòng, cho phép xe tiếp tục hoạt động ở chế độ đã được định trước
1.3.Lịch sử phát triển của hộp số tự động
Ngay từ những năm 1900, ý tưởng về một loại hộp số tự động chuyển số đã được các kĩ
sư hàng hải của Đức nghiên cứu chế tạo Sau mấy thập kỉ nghiên cứu và thử nghiệm, đến năm 1938, hộp số tự động đầu tiên ra đời khi hãng GM giới thiệu chiếc Oldsmobile được trang bị hộp số tự động Việc điều khiển ôtô được đơn giản hóa bởi vì không còn bàn đạp
ly hợp Tuy nhiên, hộp số thường vẫn được sử dụng phổ biến nhờ kết cấu đơn giản, dễ sửa chữa và giá thành thấp
Đến những năm 70, hộp số tự động đã thực sự hồi sinh khi hàng loạt các hãng ôtô cho ra các loại xe mới với hộp số tự động đi kèm Từ đó đến nay hộp số tự động đã phát triển không ngừng và dần thay thế cho hộp số thường Khi mới ra đời, hộp số tự động là loại cócấp được điều khiển hoàn toàn bằng thủy lực Để chính xác hóa thời điểm chuyển số và
để tăng cường tính an toàn trong sử dụng các nhà sản xuất ôtô đã cho ra đời hộp số tự động có cấp điều khiển bằng điện tử (ECT) Vẫn chưa hài lòng với các cấp tỉ số truyền của ECT, các nhà sản xuất ôtô đã nghiên cứu – chế tạo thành công một loại hộp số tự động có vô số cấp tỉ số truyền (hộp số vô cấp) vào những năm cuối của thế kỉ XX Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng và để tăng tính an toàn trong quá trình
sử dụng, các nhà chế tạo đã cho ra đời loại hộp số điều khiển điện tử có thêm chức năng sang số bằng cần sang số như là ở hộp số thường
Ngày nay, hộp số tự động đã được sử dụng khá phổ biến trên các loại xe du lịch, thậm chí
Trang 5trên xe 4WD và xe tải nhỏ ở nước ta, hộp số tự động đã xuất hiện từ những năm 1990 trên các xe nhập về từ Mỹ và Châu âu Tuy nhiên, do khả năng công nghệ của nước ta lúc
đó còn hạn chế, việc sửa chữa – bảo dưỡng rất khó khăn cùng với việc người lái xe chưa thấy được ưu điểm của hộp số tự động nên ít trang bị hộp số tự động trên xe Hiện nay, cùng với những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, công nghệ chế tạo hộp số cũng được hoàn chỉnh Hộp số tự động đã khẳng định được khả năng ưu việt của nó so với hộp số thường
và ngày càng được người lái xe ưa chuộng
1.4.Ưu điểm của hộp số tự động
So với hộp số thường, hộp số tự động có các ưu điểm sau:
- Nó làm giảm mệt mỏi cho lái xe bằng cách loại bỏ các thao tác cắt ly
hợp và thường xuyên phải chuyển số
- Chuyển số một cách tự động và êm dịu tại các tốc độ thích hợp với chế
độ lái xe do vậy giảm bớt cho lái xe sự cần thiết phải thành thạo các kỹ thuật lái
xe khó khăn và phức tạp như vận hành ly hợp
- Nó tránh cho động cơ và dịng dẫn động khỏi bị quá tải, do nó nối chúng
bằng thủy lực (qua biến mô) tốt hơn so với bằng cơ khí
- Hấp thu va đập trên hệ thống truyền lực nhờ chứa dầu bên trong
Tuy nhiên, hộp số tự động có giá thành cao, khó bảo dưỡng - sửa chữa hơn
Theo cách bố trí trên xe hộp số tự động được chia làm loại:
Hộp số sử dụng trên xe FF ( động cơ đặt trước – cầu trước chủ động): loại này
bao gồm cả bộ truyền lực cuối cùng (vi sai) ở trong hộp số
Trang 6- Hộp số sử dụng trên xe FR ( động cơ đặt trước – cầu sau chủ động) :
loại này có bộ truyền lực cuối cùng ở ngoài hộp số
Trang 7 Theo cách điều khiển, hộp số tự động chia thành 2 loại:
- Loại điều khiển hoàn toàn bằng thủy lực
Trang 8- Loại điều khiển điện tử kết hợp thủy lực
Trang 9CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU KẾT CẤU VÀ NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA HỘP SỐ
TỰ ĐỘNG 2.1.Cấu tạo chung của hộp số tự động
Hiện nay, hộp sô tự động trên xe có 3 cụm bộ phận chính:
- Bộ biến mô
- Bộ truyền động bánh răng hành tinh
- Bộ điều khiển thủy lực (đối với hộp số điều khiển hoàn toàn bằng thủy
lực) hoặc bộ điều khiển điện tử kết hợp thủy lực (đối với hộp số điều khiển bằng
điện tử) Ngoài ra, trên hộp số tự động còn có các cơ cấu và các hệ thống điều
khiển khác như: Cơ cấu chuyển số cơ khí, hệ thống làm mát dầu hộp số, hệ
thống khóa cần số (shift-lock system), hệ thống khóa công tắc máy (key
Trang 10- Bộ biến mô vừa truyền vừa khuếch đại momen từ động cơ vào hộp số( bộ truyền bánh răng hành tinh) bằng việc sử dụng dầu hộp số tự động(ATF) như một môi chất.
- Bộ biến mô gồm bánh bơm, bánh tua bin,khớp một chiều,stato và vỏ biến mô chứa tất
Trang 11Bánh tua bin
Rất nhiều cánh được lắp trên bánh tua bin giống như trường hợp bánh bơm Hướng cong của các bánh này ngược chiều với hướng của các bánh bơm,bánh tua bin được lắp trên trục sơ cấp của hộp số sao cho các cánh bên trong nó nằm đối diện với các cánh của bánh bơm với khe hở rất nhỏ ở giữa
Stato
Stato nằm giữa bánh bơm và bánh tuabin, qua khớp 1 chiều nó được lắp trên truc stato trục này được cố định trên vỏ hộp số
Hoạt động của stato
Dòng bơm dầu trở về từ bánh tua bin vào bánh bơm theo hướng cản sự quay của bánh bơm.Do đó,stato đổi chiều của dòng dầu sao cho nó tác động lên phía sau của các cánh trên bánh bơm và bổ xung thêm lực đẩy cho bánh bơm do đó làm tăng thêm mômen
Hoạt động của khớp một chiều
Trang 12Khớp một chiều cho phép stato quay theo chiều quay của trục khuỷu của động cơ Tuy nhiên nếu stato định bắt đầu quay theo chiều ngược lại thì khớp ngược chiều sẽ khóa stato
để ngăn không cho nó quay
Trang 13tổn hao công suất.Vì vậy li hợp được lắp trong bộ biến mô để nối trực tiếp động cơ tới hộp số để giảm tổn thất công suất.
Khi xe đạt được một tốc độ nhất định, thì cơ cấu li hợp khoá biến mô sẽ được sử dụng để nâng cao công suất và sử dụng nhiên liệu
Li hợp khoá biến mô sẽ được lắp trong moay ơ của bánh tuabin, phía trước bánh tuabin
Lò xo giảm chấn sẽ hấp thụ lực xoắn khi ăn khớp li hợp để ngăn không cho sinh ra va đập Một vật liệu ma sát (cùng dạng vật liệu sử dụng trong phanh đĩa và đĩa li hợp) được gắn lên vỏ biến mô hoạc piston khoá của bộ biến mô để ngăn sự trượt ở thời điểm ăn khớp li hợp
Vận hành
Khi li hợp khoá biến mô được kích hoạt thì nó sẽ quay cùng vơi bánh bơm và bánh tuabin.Việc ăn khớp và nhả li hợp khoá biến mô được xác định từ những thay đổi về hướng của dòng thuỷ lực trong biến mô khi xe đạt được một tốc độ nhất định
Trang 14Nhả khớp
Khi xe chạy ở tốc độ thấp thì dầu bị nén ( áp suất của bộ biến mô) sẽ chảy vào phía trước của bộ li hợp khoá biến mô Do đó, áp suất trên mặt trước và mặt sau của li hợp khoá biến mô trở nên cân bằng và do đó li hợp khoá biến mô được nhả khớp
Trang 15Ăn khớp
Trang 16Khi xe chạy ở tốc độ trung bình hoạc cao thì dầu bị nén sẽ chảy vào phía sau của li hợp khoá biến mô Do đó, vỏ bộ biến mô và li hợp khoá biến mô sẽ trực tiếp nối với nhau Do
đó li hợp khoá biến mô và vỏ biến mô sẽ quay cùng nhau
b Nguyên lý và hoạt động của bộ biến mô
Sự truyền mômen
Trang 17Khi tốc độ của bánh bơm tăng thì lực ly tâm bắt đầu làm cho dầu chảy từ tâm bánh bơm
ra ngoài Khi tốc độ bánh bơm tăng lên nữa thì dầu bị ép văng ra khỏi bánh bơm.Dầu va vào cánh của bánh tuabin làm cho bánh tuabin bắt đầu quay cùng chiều với bánh bơm Dầu chảy vào trong dọc theo các cánh của bánh tuabin.Khi nó chui được vào trong bánh tuabin thì mặt cong trong của bánh sẽ đổi hướng dầu ngược lại về phía bánh bơm, và chu
kỳ lại bắt đầu lại từ đầu.Việc truyền moomen được thực hiện nhờ sự tuần hoàn dầu qua bánh bơm và bánh tua bin
Khuếch đại mô men
Việc khuếch đại momen do biến mô thực hiện bằng cách dẫn dầu khi nó vẫn còn năng lượng sau khi đã đi qua bánh tuabin trở về bánh bơm qua các cánh của stato
Trang 18Nói cách khác bánh bơm được quay do mô men từ động cơ mà mô men này lại được bổ xung dầu quay về từ bánh tuabin Có thể nói rằng bánh bơm đã khuếch đại mô men ban đầu để dẫn động bánh tuabin.
Hoạt động của biến mô
Trang 19Dưới đây là mô tả chung của hoạt động của bộ biến mô khi cần số di chuyển vào “D”,
“2”, “L” hoạc “R”
Khi động cơ chạy không tải hoặc xe dừng
Khi động cơ chạy không tải thì momen sinh ra do động cơ là rất nhỏ Nếu gài phanh ( phanh tay hoạc phanh chân) thì tải trên bánh tuabin rất lớn vì nó không thể quay được Tuy nhiên, do nó bị dừng nên tỷ số truyền tốc độ của bánh tuabin so với bánh bơm bằng không trong khi tỷ số truyền momen ở trị số lớn nhất Do đó , bánh tuabin luôn sẵn sang quay với một momen lớn hơn momen do động cơ sinh ra
Xe bắt đầu chuyển động
Trang 20Khi nhả phanh thì bánh tuabin có thể quay cùng với trục sơ cấp của hộp số Do đó, bánh tuabin quay với momen lớn hơn momen do động cơ sinh ra khi đạp bàn đạp ga Như vậy xe bắt đầu chuyển động
Xe chạy với tốc độ thấp
Trang 21Khi tốc độ xe tăng lên, thì tốc độ quay của bánh tuabin sẽ nhanh tróng tiến gần tới tốc
độ quay của bánh bơm Vì vậy, tỷ số truyền của momen nhanh tróng tiến gần tới 1.0 Khi
tỷ số truyền tốc độ của bánh tuabin và bánh bơm đạt tới điểm ly hợp thì stato bắt đầu quay, và sự khuếch đại momen giảm xuống Nói cách khác, bộ biến mô bắt đầu hoạt độngnhư một khớp nối thuỷ lực Do đó, tốc độ xe tăng gần như tỷ lệ thuận với tốc độ quay của động cơ
Trang 22Xe chạy ổn định ở tốc độ trung bình hoạc ở tốc độ cao
Bộ biến mô chỉ hoạt động nhử một khớp nối thuỷ lực Bánh tuabin quay gần bằng tốc độcủa bánh bơm
Trang 23 Chú ý
Trong điều kiện bình thường thì khi xe bắt đầu chuyển động thì bộ biến mô xẽ đạt được điểm li hợp trong thời gian từ 2 tới 3 giây Tuy nhiên nếu tải nặng thì thậm trí cả khi xe chạy ở tốc độ trung bình hoạc ở tốc độ cao thì bộ biến mô vẫn có thể hoạt động trong dải biến mô
Khi nhả các phanh, thậm chí nếu không đạp bàn đạp ga thì xe vẫn từ chuyển động Hiện tượng này gọi là hiện tượng trườn
c.Tính năng của bộ biến mô
Tỷ số truyền momen và hiệu suất truyền
Độ khuếch đại momen do bộ biến mô sẽ tăng theo tỷ lệ dòng xoáy.Có nghĩa là momencực đại khi bánh tuabin dừng
- Dải biến mô, trong đó có sự khuếch đại momen
- Dải khớp nối, chỉ đơn thuần là truyền momen
Điểm li hợp là đường phân chia giữa hai phạm vi đó, hiệu suất truyền động của bộbiến mô cho thấy năng lượng truyền cho bánh bơm truyền tới bánh tuabin với hiệu quả là
ra sao.Năng lượng ở đây là công suất của bản thân động cơ, tỷ lệ với tốc độ động cơ vàmomen động cơ Do momen được truyền gần 1:1 trong khớp thuỷ lực nên hiệu suấttruyền động trong giải khớp nối sẽ tăng tuyến tính và tỷ lệ so với tỷ số tốc độ
Tuy nhiên, hiệu suất truyền động của bộ biến mô không đạt được 100% và thường đạt95% Sự tổn hao năng lượng là do nhiệt sinh ra trong dầu và trong ma sát Khi tuần hoàndầu nó được bộ làm mát dầu làm mát
Trang 24Điểm dừng và điểm li hợp
-Điểm dừng
Điểm dừng là chỉ tình trạng mà ở đó bánh tuabin không chuyển động Sự chênh lệchgiữa tốc độ của bánh bơm và bánh tuabin là lớn nhất
Tỷ số truyền momen của bộ biến mô là lớn nhất tại điểm dừng ( thường trong phạm vi
từ 1.7 tới 2.5) Hiệu suất truyền bằng 0
Trang 25Nói cách khác, stato bắt đầu quay ở điểm li hợp và bộ biến mô hoạt động như một khớpnối thuỷ lực ngăn không cho tỷ số truyền momen giảm xuống dưới 1.
Chức năng của khớp 1 chiều của stato
- Mô tả
Trang 26Hướng của dầu đi vào stato từ bánh tuabin phụ thuộc vào sự chênh lệch tốc độ quay củabánh bơm và bánh tuabin
- Khi chênh lệch lớn về tốc độ quay thì dầu tác động lên mặt trước của cánh stato làm cho
stato quay ngược chiều quay của bánh bơm Tuy nhiên, bánh bơm không thể quay ngược chiều lại vì stato bị khoá bởi khớp 1 chiều Do đó hướng của dòng dầu bị đổi
- Khi chênh lệch nhỏ về tốc độ quay một lượng dầu từ cánh tuabin chảy vào mặt sau của
cánh roto Khi chênh lệch về tốc độ ở mức nhỏ nhất thì phần lớn dầu từ cánh tuabin ra sẽ tiếp xúc với mặt sau của cánh stato
Trong trường hợp đó các cánh của stato sẽ cản dòng dầu Khớp một chiều làm cho stato quay trơn cùng chiều với bánh bơm, và dầu trở về cánh bơm một cách thuận dòng
2.2.2.Bộ truyền động bánh răng hành tinh
Trang 272.2.2.1 Bánh răng hành tinh
a.Khái quát
Trong các xe hộp số tự động, bộ truyền bánh răng hành tinh điều khiển việc giảm tốc, đảo chiều, nối trực tiếp và tằng tốc
Bộ truyền bánh răng hành tinh gồm các bánh răng hành tinh, các li hợp và phanh
Bộ truyền bánh răng hành tinh trước và bộ truyền bánh răng hành tinh sau được nối với nhau bằng các li hợp và phanh, là các bộ nối và cắt công suất Những cụm bánh răng nàychuyển đổi vị trí của phần sơ cấp và các phần tử cố định để tạo ra các tỷ số truyền bánh răng khác nhau và vị trí số trung gian
b.Cấu tạo
Trang 28Các bánh răng trong bộ truyền bánh răng hành tinh có 3 loại : bánh răng bao, bánh răng hành tinh, bánh răng mặt trời và cần dẫn Cần dẫn nối với trục trung tâm của mỗi bánh răng hành tinh và làm cho các bánh răng hành tinh xoay chung quanh Với các bộ phận nối với nhau kiểu này thì các bánh răng hành tinh giống như các hành tinh quay quanh mặt trời, và do đó chúng được gọi là bánh răng hành tinh.
Thông thường nhiều bánh răng hành tinh được phối hợp với nhau trong bộ bánh răng hành tinh
Trang 30Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi tên chỉ momen.
Mũi tên càng dài thì tốc độ quay càng lớn và mũi tên càng rộng thì momen càng lớn
Trang 31Đảo chiều
- Đầu vào : bánh răng mặt trời
- Đầu ra : bánh răng bao
- Cố định : cần dẫn
Khi cần dẫn được cố định ở vi trí bánh răng mặt trời quay thì bánh răng bao quay trên trục và hướng quay đảo chiều
Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi tên chỉ momen
Mũi tên càng dài thì tốc độ quay càng lớn và mũi tên càng rộng thì momen càng lớn
Nối trực tiếp ( truyền thẳng)
- Đầu vào :bánh răng mặt trời và bánh răng bao
Trang 32- Đầu ra : cần dẫn
- Do bánh răng bao và bánh răng mặt trời quay cùng nhau với cùng một tốc độ nên cần dẫn cũng quay với cùng tốc độ đó
Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi tên chỉ momen
Mũi tên càng dài thì tốc độ quay càng lớn và mũi tên càng rộng thì momen càng lớn
Trang 33Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi tên chỉ momen.
Mũi tên càng dài thì tốc độ quay càng lớn và mũi tên càng rộng thì momen càng lớn
Nguyên lý hoạt động của bánh răng hành tinh khi chuyển số
Trang 34Số 1
- Trục sơ cấp làm quay bánh răng bao của bộ truyền hành tinh trước theo chiều kim đồng
hồ nhờ C1
- Bánh răng hành tinh của bộ truyền hành tinh trước quay và chuyển động xung quanh
làm cho bánh răng mặt trời quay ngược chiều kim đồng hồ
- Trong bánh răng hành tinh sau, cần dẫn sau được F2 cố định, nên bánh răng mặt trời làm
cho bánh răng bao của bộ truyền hành tinh sau quay theo chiều kim đồng hồ thông qua bánh răng hành tinh của bộ truyền hành tinh sau
- Cần dẫn trước và bánh răng bao của bộ truyền hành tinh sau làm cho trục thứ cấp quay
theo chiều kim đồng hồ Bằng cách này tạo ra được tỷ số giảm tốc lớn
Ngoài ra, ở dãy "L", B3 hoạt động và phanh bằng động cơ sẽ hoạt động Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi tên chỉ mô men
Mũi tên càng dài thì tốc độ quay càng lớn, và mũi tên càng rộng thì mô men càng lớn
Trang 35Số 2
- Trục sơ cấp làm quay bánh răng bao cảu bộ truyền hành tinh trước theo chiều kim đồng
hồ nhờ C1
- Do bánh răng mặt trời bị B2 và F1 cố định nên công suất không được truyền tới bộ
truyền bánh răng hành tinh sau
- Cần dẫn trước làm cho trục thứ cấp quay theo chiều kim đồng hồ Tỷ số giảm tốc thấp
hơn so với số 1 Ngoài ra, ở dãy "2", B1 hoạt động và phanh bằng động cơ hoạt động Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi tên chỉ mô men
Trang 36Mũi tên càng dài thì tốc độ quay càng lớn, và mũi tên càng rộng thì mô men càng lớn
Số 3
- Trục sơ cấp làm quay bánh răng bao của bộ hành tinh trước theo chiều kim đồng hồ nhờ
C1, và đồng thời làm quay bánh răng mặt trời theo chiều kim đồng hồ nhờ C2
- Do bánh răng bao của bộ truyền hành tinh trước và bánh răng mặt trời quay với nhau
cùng một tốc độ nên toàn bộ truyền bánh răng hành tinh cũng quay với cùng tốc độ và công suất được dẫn từ cần dẫn phía trước tới trục thứ cấp Khi gài số ba, tỉ số giảm tốc là
1 Tuy ở số 3 tại dãy "D" phanh động cơ có hoạt động, nhưng do tỉ số giảm tốc là 1 lực phanh động cơ tương đối nhỏ Độ dài của mũi tên chỉ tốc độ quay và chiều rộng của mũi