Các biện pháp mô tả dưới đây được gọi là ‘giảm thiểu tác hại’ do mục đíchcủa chúng nhằm giảm ít nhất một tác hại có liên quan tới tiêm chích sử dụng matúy, lây truyền HIV và gây ảnh hưởn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
Chủ biên : PHẠM ĐỨC TRỌNGNguyễn Huy Hường, Vũ Toản, Trần Thị Anh Thư, Phạm Thị Thùy Trang
Trang 2Mục lục
PH N 1 KI N TH C CHUNG V HIV/AIDSẦ Ế Ứ Ề 3
Ch ng 1: T ng quan v HIV/AIDSươ ổ ề 3
1.1 L ch s c a HIV/AIDSị ử ủ 3
1.2 Các gi đ nh v ngu n g c c a HIV/AIDSả ị ề ồ ố ủ 5
1.3 Tình hình d ch trên th gi iị ế ớ 12
1.4 Tình hình d ch châu Áị ở 13
1.5 Tình hình d ch Vi t Namị ở ệ 16
1.6 Các khái ni m c b n liên quan đ n HIV/AIDSệ ơ ả ế 17
Ch ng 2: H th ng các ch ng trình hành đ ng phòng ch ng HIV/AIDSươ ệ ố ươ ộ ố 23
2.1 H th ng các v n b n pháp lu t v công tác phòng ch ng AIDS – Vi t Namệ ố ă ả ậ ề ố ệ 23
2.2 H th ng các c quan, t ch c ho t đ ng trong phòng ch ng HIV/AIDSệ ố ơ ổ ứ ạ ộ ố 27
2.3 H th ng các ch ng trình hành đ ng phòng ch ng HIV/AIDSệ ố ươ ộ ố 28
PH N 2 XÃ H I H C V HIV/AIDSẦ Ộ Ọ Ề 34
Ch ng 3: Ti p c n xã h i h c v HIV/AIDSươ ế ậ ộ ọ ề 34
3.1 Đố ượi t ng nghiên c u c a xã h i h c v hiv/aidsứ ủ ộ ọ ề 37
3.2 Ch c n ng c a xã h i h c v HIV/AIDSứ ă ủ ộ ọ ề 38
3.3 Vai trò c a xã h i h c trong công tác phòng ch ng HIV/AIDSủ ộ ọ ố 40
3.4 Nhi m vệ ụ 40
3.5 S khác bi t gi a ti p c n xã h i h c v i các khoa h c khác v hiv/aidsự ệ ữ ế ậ ộ ọ ớ ọ ề 41
Ch ng 4: Các lý thuy t ti p c n xã h i h c v HIV/AIDSươ ế ế ậ ộ ọ ề 44
4.1 Lý thuy t ch c n ngế ứ ă 44
4.2 Lý thuy t xung đ tế ộ 46
4.3 Lý thuy t hành viế 47
4.4 Lý thuy t gi iế ớ 49
4.5 Lý thuy t gán nhãnế 49
PH N 3 CÁC K N NG LÀM VI C TRONG HO T Ầ Ỹ Ă Ệ Ạ ĐỘNG PC HIV/AIDS 51
Ch ng 5: (3.1.) K n ng qu n lý (10 ti t)ươ ỹ ă ả ế 51
5.1 L p k ho chậ ế ạ 51
5.2 Qu n lý con ng i, qu n lý th i gianả ườ ả ờ 56
5.3 Giám sát 90
5.4 Thu th p thông tinậ 90
5.5 T ng h p và vi t báo cáo l ng giá, đánh giáổ ợ ế ượ 90
Ch ng 6: (3.2.) K n ng chuyên môn (10 ti t)ươ ỹ ă ế 90
6.1 K n ng t p trung vào giao ti p nhómỹ ă ậ ế 90
6.2 Thuy t trìnhế 90
6.3 Làm vi c nhóm - Truy n thông nhómệ ề 96
6.4 K n ng l ng nghe tích c cỹ ă ắ ự 129
6.5 Gi i quy t v n đ và ra quy t đ nhả ế ấ ề ế ị 129
CÂU H I ÔN T PỎ Ậ 133
PH L CỤ Ụ 133
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 133
Trang 3PHẦN 1 KIẾN THỨC CHUNG VỀ HIV/AIDS
Chương 1: Tổng quan về HIV/AIDS
1.1 Lịch sử của HIV/AIDS
Các ca bệnh AIDS đầu tiên được ghi nhận xảy ra tại Hoa Kì vào đầu nhữngnăm 80 thế kỷ 20 Một số người đồng tính nam tại New York và San Franciscođột nhiên mắc những bệnh nhiễm trùng cơ hội hiếm gặp Tất cả các bệnh nhân đều
bị suy giảm miễn dịch một cách kỳ lạ - hệ thống miễn dịch của họ thậm chí không
đủ sức chống đỡ các nhiễm trùng đơn giản Chẩn đoán ban đầu là GRID, đặt theochữ đầu của Gay Related Immunodeficiency Disease (bệnh suy giảm miễn dịch liênquan với người đồng tính nam) Sự kiện này được giáo sư Michael Gottlieb và cáccộng sự công bố trên tờ “Morbidity and Mortality Weekly Report” vào ngày 5 tháng
6 năm 1981 Đến tháng 12 năm 1981, loại bệnh này được báo cáo là phát hiện cảtrong nhóm thanh niên sử dụng ma túy ở Anh Sau đó, nó được báo cáo phát hiệntrong những trường hợp bệnh máu khó đông và nhóm người Haiti ở Hoa Kỳ Sựkiện này càng làm gia tăng tình trạng phân biệt và kỳ thị đối với nhóm người Haiti
Để giải thích và đổ lỗi về dịch bệnh đáng sợ, người ta bàn tán nhiều đến “nhóm4H”, nghĩa là nhóm bốn nguyên nhân của dịch bệnh gồm: “đồng tính –Homosexual”, “máu khó đông – Haemophiliacs”; “ma túy – Heroin” và ngườiHaiti
Tên gọi AIDS (Acquiret Immune Deficeency Syndrom - Hội chứng suy giảmmiễn dịch mắc phải) được chính thức sử dụng thay thế cho tên cũ là GRID (tháng9/1982)1 Đến năm 1983, AIDS tiếp tục được báo cáo phát hiện trong nhóm nhữngphụ nữ và trẻ em không sử dụng ma túy Điều này làm các chuyên gia càng củng cốniềm tin rằng, nguyên nhân gây ra AIDS là do sự lây nhiễm Ở Mỹ, hơn 1.000người trong tổng số 3.000 trường hợp nhiễm AIDS đã chết Dịch bệnh không chỉ ở
Mỹ mà còn được phát hiện ở nhiều nước châu Âu, Haiti, Uganda…
Năm 1983, giáo sư Luc Montagnier và các cộng sự ở Viện Pasteur Paris(Pháp) công bố đã phát hiện ra một loại virus gây bệnh và họ đặt tên là LAV-Lymphadenopathy Associated Virus (virus có liên quan đến bệnh hạch lymphô).Gần nửa năm sau , giáo sư Robert Gallo và nhóm nghiên cứu tại NIH (National
1 Tên gọi SIDA là cách đảo chữ cái của AIDS, được dùng phổ biến trong tiếng Pháp và Tây Ban Nha
Trang 4Institute of Health – Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kì ) cũng phát hiện một virus như thế và đặt tên là HTLV III – Human T-cell lymphotropic virus (virus ưa tế bàolymphô T của người) và tự cho mình là người đã phát hiện ra virus gây suy giảmmiễn dịch ở người (HIV - Human Immunodeficiency Virus) Việc này đã dấylên một cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai nhóm nghiên cứu Đến tháng 3/1987, cuộctranh cãi này mới chấm dứt khi Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Tổng thốngPháp đứng ra dàn xếp, tuyên bố Luc Montagnier và Robert Gallo là đồng tác giả phát hiện ra HIV
Mặt dù vẫn chưa được thừa nhận rộng rãi là một dịch bệnh nguy hiểm củanhân loại, nhưng đã có nhiều hoạt động được triển khai để đối phó với AIDS Khởinguồn là chương trình tuyên truyền an toàn tình dục của các tổ chức phi chính phủ ở
Mỹ và Anh từ năm 1982 Sau đó, Chương trình đổi bơm kim tiêm lần đầu tiên trênthế giới được thiết lập ở Amsterdam – Hà Lan (1984) Nhận thức được máu có thể
là nguồn lây lan bệnh, xét nghiệm HIV bắt đầu được tiến hành trong sàng lọc nguồncung cấp máu Các nhà khoa học đồng thời cũng đã bắt tay vào nghiên cứu các loạithuốc đặc trị AIDS Tuy vậy, dịch bệnh vẫn tiếp tục phát triển Đến năm 1986, cóhơn 38.000 ca nhiễm AIDS được ghi nhận ở hơn 85 quốc gia trên thế giới Con sốnày được ước đoán là tăng lên 8 triệu ca nhiễm tính đến 1990 và nó gây ảnh hưởngnghiêm trọng không chỉ sức khỏe mà còn cả các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội
ở nhiều quốc gia Trước diễn tiến nhanh của dịch bệnh và khả năng xảy ra đại dịchtoàn cầu, Chính phủ Mỹ, Anh và nhiều nước khác bắt đầu thực hiện các chiến dịchgiáo dục cấp quốc gia về AIDS (1988) Năm 1994, hội nghị thượng đỉnh về AIDStại Paris, Pháp đã đưa ra tuyên bố: “Đưa công cuộc phòng chống AIDS lên vị trí ưutiên, huy động toàn xã hội, các ngành của nhà nước, tư nhân, các hội, kể cả nhữngngười nhiễm HIV/AIDS tham gia vào các hoạt động đa ngành, liên Chính Phủ, phiChính Phủ, các phong trào liên kết nhằm phòng chống đại dịch… , xây dựng mộtthế giới không có AIDS”, và ngày 1/12 hàng năm đã được chọn là ngày thế giớiphòng chống AIDS Một năm sau đó, chương trình điều phối Liên hiệp quốc vềHIV/AIDS (UNAIDS) được thành lập
Từ 1987, AZT được bào chế và là loại thuốc đầu tiên được sử dụng để điềutrị AIDS Tuy nhiên, nhìn chung AZT không mang lại hiệu quả như mong muốn.Gần 10 năm sau, ARV - “Liệu pháp điều trị kết hợp kháng virus” (Combination
Trang 5antiretroviral treatment) cho thấy có hiệu quả cao trong việc chống lại HIV Ở cácquốc gia phát triển, nhiều người bắt đầu sử dụng phương pháp điều trị mới Do vậy,
tỷ lệ tử vong vì AIDS bắt đầu giảm ở những nước này Năm 1997 được đánh dấubởi sự kiện Brazil là quốc gia đang phát triển đầu tiên cung cấp phương thức điều trịkết hợp miễn phí, trong khi ở nhiều nước đang phát triển khác, có rất ít người nhiễmAIDS có điều kiện tiếp cận với các phương thức điều trị này Trong khoảng thờigian này, ước tính số người có HIV và AIDS trên toàn thế giới lên đến hơn 22 triệungười – chính thức là đại dịch toàn cầu Năm 2001, các nhà lãnh đạo thế giới đặtmục tiêu dài hạn đối với HIV/AIDS tại một phiên họp đặc biệt của đại hội đồngLiên Hiệp Quốc Một năm sau đó, Qũy toàn cầu được thành lập để thúc đẩy cáchoạt động đối phó với AIDS, bệnh lao và bệnh sốt rét Năm 2004 Hoa kỳ khởi độngchương trình hành động, mang tên PEPFAR để chống AIDS trên toàn thế giới.Cũng trong năm này, sau nhiều do dự, Nam Phi bắt đầu cung cấp miễn phí điều trịARV Số người có HIV và AIDS trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang pháttriển được tiếp cận với ARV ngày càng tăng Tuy nhiên, tình trạng dịch bệnh vẫntiếp tục lan rộng Sau 6 năm kể từ năm 2001, hơn 11 triệu người mới nhiễmHIV/AIDS, làm tăng số người bệnh lên đến 33,2 triệu người, trong đó, có 2,1 triệu
là trẻ em Cũng trong năm 2007, ước tính có 2,5 triệu nhiễm HIV mới trong khi đó
có 2,1 triệu người chết vì AIDS
1.2 Các giả định về nguồn gốc của HIV/AIDS
Cho đến nay, nguồn gốc của HIV và AIDS vẫn luôn là chủ đề gây nhiềutranh cãi Có nhiều giả thuyết đã được đưa ra để lý giải cho sự xuất hiện củaHIV/AIDS và cơ chế lây lan nhanh của nó Nhiều câu hỏi được đưa ra như: HIV cónguồn gốc từ đâu? Liệu AIDS có thật sự do HIV gây ra hay không?
Trang 6ở loài tinh tinh (chimpanzee) Tuy nhiên, chủng virus này vẫn còn có một số khác biệt với HIV ở nhiều điểm quan trọng
1999: Phát hiện nguồn gốc HIV đi từ SIV.
Vào tháng 2 /1999 , một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc trường đại họcAlabama (Mỹ) tuyên bố là họ đã tìm thấy 1 type SIVcpz rất giống với HIV-
1 Chủng virus này đươc phát hiện từ một mẫu nghiệm đông lạnh lấy từ một continh tinh bắt được thuộc phân nhóm Pan troglodytes troglodytes (P t.troglodytes), là loài rất phổ biến tại vùng Trung và Tây Phi
Các nhà nghiên cứu (do Paul Sharp của Đại học Nottingham và BeatriceHahn của Đại học Alabama dẫn đầu) đã đưa ra phát hiện này sau 10 năm miệt mài nghiên cứu về nguồn gốc của virus HIV Họ cho rằng mẫu nghiệm này chúng minh được HIV-1 đi từ tinh tinh, và virus này đã có lúc vượt qua được giới hạn loài để đi từ tinh tinh sang người
Kết quả nghiên cứu của nhóm được công bố 2 năm sau đó trên tạp chí Nature, trong đó họ kết luận rằng tinh tinh hoang dã đã bị nhiễm cùng lúc hai chủng SIV khác nhau , 2 chủng này “giao phối” và sinh ra 1 chủng virus thứ 3,chủng thứ 3 này có thể đã được lây sang những con tinh tinh khác, và điều đángchú ý hơn là chủng này có khả năng gây nhiễm cho người và gây ra AIDS
Người ta truy tìm nguồn gốc của 2 virus này và lần ra được một SIV gây nhiễm cho khỉ mangabey đầu đỏ và một SIV khác gặp ở loài khỉ lớn mũiđốm (spot-nosed ) Các nhà nghiên cứu tin rằng sự lai tạo đã xảy ra trong cơ thể
Trang 7loài tinh tinh khi chúng bị nhiễm với cả hai chủng SIV sau khi chúng săn đuổi và giết hai loài khỉ kia vốn nhỏ con hơn
Họ cũng kết luận rằng 3 nhóm HIV-1 ( M, N và O ) đều phát xuất từ SIV tìm thấy ở loài tinh tinh P t troglodytes, và mỗi nhóm đại diện cho 1 biến cố "nhảy" (crossover) riêng rẽ từ loài tinh tinh sang người
Sau 17 năm nghiên cứu thực địa tại các vùng Đông, Tây, Xích đạo ChâuPhi, các nhà khoa học từ nhiều nước chứng minh có ít nhất có 40 loài khỉ khácnhau bị nhiễm với 40 typ SIV khác nhau; 3 nhóm HIV-1 và 8 phân typ HIV-2 khác nhau là kết quả của 11 biến cố nhảy sang loài khác , trong đó có sự thamgia của 8 loài khỉ mặt xanh và 3 tinh tinh đối với tất cả các trường hợp gâynhiễm ở người
Vậy làm thế nào HIV nhảy sang loài khác được? Các nhà khoa học lý giảirằng, chính từ việc tinh tinh “nhận” SIV từ 2 loài khỉ nhân hình khác chứng tỏ rằng sự nhảy chéo này có thể xảy ra dễ dàng như thế nào Con người là động vậtcho nên chúng ta cũng sẽ dễ bị cảm nhiễm như loài tinh tinh Khi virus được truyền từ động vật sang người, ta gọi đó là bệnh từ súc vật (zoonosis)
1.2.2 Thời điểm xuất hiện HIV
Trong vài năm gần đây, người ta không những có thể phát hiện sự HIV hiệndiện trong mẫu máu hoặc huyết tương, mà còn có thể xác định ra từng phân typvirus
Khi nghiên cứu các phân typ virus của một số trường hợp đầu tiên nghinhiễm HIV còn lưu giữ mẫu nghiệm có thể giúp ta hiểu được thời điểm HIV xuấthiện đầu tiên cũng như tiến hoá sau này
Có 3 tình huống HIV sớm nhất mà ta biết được:
Một mẫu bệnh phẩm huyết tương lấy năm 1959 từ người người đàn ông sốngtại Cộng hoà Dân chủ Congo hiện nay
Tìm thấy HIV trong mẫu bệnh phẩm mô của 1 thanh niên Mỹ chết tại St.Louis vào năm 1969
Tìm thấy HIV trong mẫu bệnh phẩm mô của 1 thuỷ thủ người Na-uy chếtkhoảng năm 1976
Trang 8Kết quả phân tích năm 1998 từ mẫu bệnh phẩm huyết tương lấy năm 1959cho thấy HIV-1 được du nhập vào con người khoảng năm 1940 hoặc đầu nhữngnăm 1950, tức là còn sớm hơn so với tính toán trước đây Cũng từ mẫu bệnh phẩmnày, có nhà khoa học khác cho kết quả còn xa hơn nữa, thậm chí vào cuối thế kỷ 19.
Tuy nhiên, đến tháng giêng năm 2000, Bette Korber của phòng thí nghiệmquốc gia Los Alamos, trình bày kết quả của 1 nghiên cứu mới tại Hội nghị về cácbệnh Retrovirus và nhiễm trùng cơ hội lần thứ 7, lại cho rằng ca nhiễm HIV-1 đầutiên xảy ra vào khoảng năm 1930 (xê dịch 15 năm) tại Tây Phi Con số 1930 ướctính dựa vào một mô hình tiến hoá của HIV chạy trên siêu máy tính Nirvana Nếuước tính này đúng, có nghĩa là HIV đã có từ trước, trước những kịch bản mà cácthuyết đề ra (như thuyết vaccin OPV và thuyết âm mưu)
1.2.3 Liên quan đến thời điểm HIV-2 lây truyền sang người.
Cho đến tận gần đây, nguồn gốc của HIV-2 chưa được nghiên cứu nhiều.Người ta nghĩ rằng HIV-2 đi từ SIV ở loài khỉ mặt xanh (sooty mangabey) hơn là từloài tinh tinh, nhưng người ta cũng tin sự nhảy chéo (crossover) từ khỉ sang conngười cũng xảy ra theo cách tương tự (tức là qua cách săn giết khỉ rồi ăn thịt) HIV-
2 hiếm gặp hơn, ít lây nhiễm hơn và diễn tiến sang AIDS chậm hơn nhiều so vớiHIV-1 Thành ra, HIV-2 gây nhiễm cho ít người hơn Và chủ yếu chỉ khu trú tạimột số quốc gia vùng Tây Phi
Vào tháng 5/2003, một nhóm các nhà nghiên cứu người Bỉ do Anne-MiekeVandamme đứng đầu, đã công bố kết quả nghiên cứu trên tờ Proceedings of theNational Academy of Science Bằng cách phân tích các mẫu nghiệm của nhiều phântyp HIV-2 khác nhau (A và B) lấy từ các bệnh nhân và các mẫu nghiệm SIV lấy từkhỉ mặt xanh châu Phi, Vandamme kết luận rằng phân typ A đã truyền sang ngườivào khoảng năm 1940 và phân typ B vào năm 1945 (xê dịch khoảng 16 năm).Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện virus có nguồn gốc từ Guinea-Bissau (vốn là 1cựu thuộc địa của Bồ Đào Nha), và sự lây lan có thể đã xảy ra trong chiến tranhdành độc lập của nước này từ 1963 đến 1974 Thuyết này có cơ sở thực tế bởi vìnhững trường hợp người châu Âu đầu tiên nhiễm HIV-2 được phát hiện từ các cựubinh người Bồ Đào Nha, trong đó có nhiều người được truyền máu hoặc tiêm thuốc
Trang 9bằng kim tiêm không vô trùng sau khi bị thương, hoặc có khả năng do quan hệ tìnhdục với gái mại dâm địa phương
1.2.4 Vai trò của Haiti
Vụ dịch AIDS tại Haiti được đưa ra ánh sáng vào đầu những năm 1980 ,cũng cùng thời điểm với những ca bệnh đầu tiên được phát hiện Theo sau việc pháthiên một số người gốc Haiti bị ung thư Kaposi và những bệnh có liên quan đếnAIDS , báo chí và sách vở y học bắt đầu tung tin là AIDS phát xuất từ Haiti , vàngười gốc Haiti là nguyên nhân của dịch AIDS tại Mỹ
Luận điệu này , tuy không có bằng chứng vũng chắc, lại càng làm nóng lên
sự phân biệt chủng tộc vốn có sẵn tại Mỹ , và vì thế nhiều người gốc Haiti bị phânbiệt đối xử và kỳ thị nặng nề Nhiều người bị mất việc, vì người ta cho rằng họ là 1trong 4 thành phần trong “câu lạc bộ 4 H” ( Homosexual, hemophiliacs , heroine-user , Haitian ) có nguy cơ bị mắc AIDS cao
Trong khung cảnh dễ kích động vì lời buộc tội và đầy thành kiến liên quanđến HIV và AIDS trong những năm đó đã làm cho việc nghiên cứu và trình bày cáckết quả nghiên cứu dịch tễ học khác quan , không bị ảnh hưởng của chính trị được.Trong nhiêu năm trời , mối liên hệ giữa Haiti và dịch AIDS tại Mỹ không được aiđụng tới
Tuy nhiên, vào tháng 3/2007, tại hội nghị bệnh nhiễm trùng cơ hội vàRetrovirus lần thứ 14 tổ chức tại Los Angeles , các nhà khoa học đưa ra bằng chứngdựa trên phân tích di truyền 122 mẫu nghiệm (được lưu mẫu từ trước) HIV-1 nhóm
M , phân typ B ( là chủng thường gặp nhất tại Mỹ và Haiti ) cho thấy rằng chủngvirus này chắc chắn đã được mang đến Haiti từ châu Phi, chỉ do 1 người duy nhấtvào khoảng năm 1966 , thời điểm có nhiều người Haiti sang Congo làm việc và sau
đó về nước
Phân tích di truyền sau đó cũng cho thấy là virus lây lan lặng lẽ từ người nàysang người khác trên đảo này , trước khi được lan truyền vào nước Mỹ, và lần nàychắc cũng do 1 cá thể duy nhất vào 1 thời điểm giữa giai đoạn 1969 và 1972
Từ thời điểm này trở đi, dịch AIDS phát triển khá nhanh, lây truyền bên
Trang 10trong và giữa Mỹ với Haiti , và toàn cầu làm cho ta không lần ra được nơi đầu tiênxuất phát bệnh này
1.2.5 Nguyên nhân làm cho dịch lan rộng đột ngột
Năm 2000, nhóm của Betty Korber tại Los Alamos National Laboratory, đãxác định thời điểm xuất hiện HIV-1 nguyên thủy (Eve HIV-1) là năm 1930 (xê xích
20 năm tức là từ 1910 đến 1950) Nhưng trong 1 thời gian dài, nhiễm HIV chỉ đóngvai trò âm thầm, lặng lẽ Phải đến những năm 80, HIV mới bùng phát dữ dội, và đếnnay, số người nhiễm HIV cộng dồn đã xấp xỉ 40 triệu người Nguyên nhân gì đã tạo
ra sự bùng nổ này? Dưới đây, ta sẽ xem xét một số yếu tố tham gia làm cho HIV lanrộng đột ngột, phần lớn xảy ra vào hậu bán thế kỷ 20
Những năm đầu của vu dịch người ta nói nhiều đến 1 người tạm gọi là bệnhnhân Zero , là mấu chốt của 1 “kịch bản lây truyền” phức tạp do bác sĩ WilliamDarrow và các đồng nghiệp tại CDC ( Mỹ ) đề ra Nghiên cứu dịch tể học của họchứng minh cách mà một bệnh nhân O (sau đó báo chí gọi sai đi thành bệnh nhânZero) đã truyền HIV cho nhiều bạn tình, rồi những người này lại truyền cho ngườikhác và chẳng bao lâu sau đó làm lây lan virus ra khắp thế giới Một nhà báo tênRandy Shilts, sau đó viết một bài báo dựa trên nghiên cứu của Darrow, và cho biếtbệnh nhân Zero đó có tên là Gaetan Dugas, là 1 tiếp viên hàng không người Canada,
là người có tình dục đồng giới nam Trong nhiêu năm, Dugas bị coi là người làmlây lan HIV cho hàng loạt người khác và là người đầu tiên gây nhiễm HIV trong
Trang 11cộng đồng người tình dục đồng giới nam Tuy nhiên, 4 năm sau khi Shilts công bốbài báo, thì Bác sĩ Darrow rút lại nghiên cứu, thừa nhận rằng phương pháp nghiêncứu sai và Shilts đã hiểu sai kết quả nghiên cứu.
Trong khi Gaetan Dugas là một nhân vật có thực và sau đó chết vì AIDS , thìbệnh nhân Zero chỉ là 1 câu chuyện đầy huyền hoặc và làm cho nhiều người sợ hãi HIV tại Mỹ lúc đầu lây lan trong cộng đồng tình dục đồng giới nam, nhưng thực ratình trạng này đã xảy ra với qui mô lớn nhiều năm rồi , có lẽ trước lúc Dugas làmtiếp viên khá lâu
Sự sử dụng rộng rãi máu và các chế phẩm từ máu
Khi truyền máu đã trở thành 1 kỹ thuật thông dụng trong y học, thì 1 nềncông nghệ để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về máu bắt đầu phát triển nhanhchóng Tại một số nước như nước Mỹ , người cho máu được trả tiền , đây là 1 chínhsách khuyến khích kẻ cần tiền bán máu trong số đó có người tiêm chích ma tuý.Vào thời gian đầu của vụ dịch, các thầy thuốc không biết rằng HIV lây truyền quađường máu rất dễ dàng và việc cho máu không được sàng lọc kỹ Máu lấy được, sau
đó được gởi đi khắp nơi, và những ai không may mắn nhận được máu bị nhiễmvirus sẽ trở thành người nhiễm HIV
Vào cuối thập niên 1960, những người bị bệnh ưa chảy máu (hemophiliac)được điều trị bằng một chế phẩm của máu là yếu tố VIII Tuy nhiên để chế tạo đượcyếu tố chống chảy máu này , người ta phải lấy máu của hàng ngàn người, trích lấyyếu tố này từ phần huyết tương được “dồn” (pooled) lại Điều này có nghĩa là chỉcần 1 đơn vị máu HIV + cũng sẽ làm vấy nhiễm cả 1 lô máu sản xuất yếu tố VIII.Như thế hàng ngàn người bị bệnh ưa chảy máu khắp thế giới có nguy cơ nhiễmHIV, và thực vậy sau đó nhiều ngưòi trong bọn họ đã nhiễm virus
Sử dụng ma túy
Những năm từ 1970 trở đi, giới nghiện ma túy chuyển sang chơi ma túy bằng đườngtiêm Hiện nay, có khoảng 10-15 triệu người tiêm chích lén lút trên toàn thế giới, vàcon số này mỗi ngày càng tăng khi heroin được sản xuất nhiều hơn tại các khu vựcnhư Mexico, Columbia, các nước thuộc Liên xô cũ, Afghanistan Thêm vào đó, sự
ra đời của bơm kim tiêm nhựa giá rẻ, sử dụng một lần đã tạo điều kiện cho ngườinghiện ma túy tiêm chích dễ dàng tại các tụ điểm tiêm chích, tạo ra một phương
Trang 12thức lây truyền mới phổ biến tại nhiều nước nhất là những nước tại vùng Đông NamÁ.
Theo phân tích của các chuyên gia, tổng số người nhiễm HIV còn sống vẫnđang tiếp tục gia tăng là hệ quả của hai tác động chủ yếu Một là, số người mớinhiễm HIV hàng năm trên toàn cầu vẫn ở mức cao Chỉ tính riêng trong năm 2008,thế giới vẫn có khoảng 2,7 triệu người mới nhiễm HIV (con số này năm 2007 là 2,5triệu) Hai là, do kết quả tích cực của các liệu pháp điều trị kháng vi rút (ARV) làmgiảm số người tử vong, kéo dài sự sống cho người bệnh Đến tháng 12/2008, ướctính khoảng 4 triệu người nhiễm HIV ở các nước có thu nhập thấp và trung bìnhđược điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV), tăng lên 10 lần trong vòng 5 năm Sốngười chết do AIDS năm 2008 là khoảng 02 triệu, giảm 100.000 người so với năm
2007 (2,1 triệu )
Các số liệu dịch tễ học gần đây cho thấy, sự lây lan của HIV trên phạm vitoàn cầu đạt "đỉnh" vào năm 1996, khi có tới 3,5 triệu ca mới nhiễm HIV trong mộtnăm Như vậy, trong 12 năm qua (từ 1996 - 2008) số ca mới nhiễm HIV đã giảm30% (2,7 triệu người năm 2008 so với 3,5 triệu vào năm 1996).Trong khi đó, tổng số người chết do AIDS trên toàn cầu đạt "đỉnh" vào năm 2004,khi có tới 2,2 triệu người bị AIDS cướp đi trong năm Như vậy, trong 4 năm qua,nhờ chăm sóc điều trị tốt, số người chết do AIDS đã giảm 10% (2,0 triệu năm 2008
so với 2,2 triệu năm 2004)
Điều đáng lưu ý là, trong năm 2008, đã có tới 430.000 trẻ em sinh ra bịnhiễm HIV, đưa tổng số trẻ em (dưới 15 tuổi) nhiễm HIV còn sống trên thế giới lên2,1 triệu trẻ Hầu hết những trẻ này bị lây truyền HIV từ mẹ khi mang thai, khi sinh
và khi cho con bú Tuy nhiên, tín hiệu khả quan là con số trẻ em mới nhiễm HIV
Trang 13trong năm 2008 đã giảm 18% so với năm 2001 nhờ những nỗ lực dự phòng lâytruyền HIV từ mẹ sang con Mặt khác, trong tổng số người lớn (15 - 49 tuổi) nhiễmHIV còn sống trên thế giới đến cuối năm 2008 có khoảng 40% là những người trẻtuổi và 50% là phụ nữ.
Nhìn chung, đến năm 2008, dịch HIV đã bị hạn chế ở mức ổn định tại nhiềukhu vực trên thế giới, tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm HIV vẫn tiếp tục gia tăng ở một sốkhu vực khác như Đông Âu, Trung Á và một số vùng của châu Á do tỷ lệ mớinhiễm HIV còn ở mức cao Khu vực Cận Sahara của châu Phi vẫn là nơi chịu ảnhhưởng nặng nề nhất bởi dịch HIV Gần 71% tổng số trường hợp mới nhiễm HIVtrong năm 2008 là dân của các nước trong khu vực này (với khoảng 1,9 triệu ngườimới nhiễm), tiếp theo, vị trí số 2 vẫn là khu vực Nam và Đông Nam Á, với 280.000người mới nhiễm HIV trong năm vừa qua, cao hơn 110.000 người so với khu vựctiếp theo là Mỹ La Tinh, mới có 170.000 người mới nhiễm HIV trong năm 2008
1.4 Tình hình dịch ở châu Á
Trong khoảng đầu thập niên 1980, trong khi nhiều nơi trên thế giới đã bắtđầu đối phó với dịch HIV/AIDS, châu Á dường như vẫn chưa bị ảnh hưởng mộtcách đáng kể Chỉ một số trường hợp bệnh AIDS được ghi nhận ở Trung Quốc,Thái Lan, Nhật Bản, Phillipines… Tuy nhiên, vào đầu những năm 1990, dịch bệnhAIDS đã xuất hiện ở một số nước châu Á, và đến cuối thập kỷ này, HIV đã lây lannhanh chóng ở nhiều vùng của châu lục
Hiện nay, mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV ở các quốc gia Châu Á thấp, nhưng dodân số ở những nước này đông, nên nhìn chung số người nhiễm HIV ở đây lại khácao Ví dụ, Ấn độ có tỷ lệ hiện nhiễm HIV ước tính khoảng 0,3%, con số này có vẻthấp khi so sánh với tỷ lệ hiện nhiễm ở một số vùng của châu Phi cận Sahara Tuynhiên, với dân số khoảng một tỷ người, thực tế này tương đương với 2.500.000người sống với HIV ở Ấn Độ 2
Đã có cảnh báo về khả năng gia tăng số lượng bệnh nhân AIDS ở Châu Ábằng với tình trạng dịch bệnh ở một số vùng châu Phi Tuy nhiên, cũng có nhữnglập luận cho rằng, bệnh dịch ở Châu Á theo một quỹ đạo khác với Châu Phi, đó làlây nhiễm HIV/AIDS chủ yếu tập trung trong những nhóm người “có nguy cơ cao”
Trang 14Đường lây truyền HIV tại khu vực này chủ yếu qua đường tình dục và tiêmchích ma tuý
Quan hệ tình dục không an toàn xảy ra trong nhóm quan hệ đồng giới và khác giới
Cụ thể, Châu Á là nơi mà nhiều người mua dâm không có thói quen sử dụng baocao su Điều này làm gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao trong nhóm gái mại dâm
và khác hàng của họ Mặt khác, nếu như trước đây, những phụ nữ đã kết hôn đượcxem là nhóm có “nguy cơ thấp”, thì hiện nay, khoảng 25% đến 40% mới nhiễmHIV/AIDS rơi vào nhóm dân cư này, do họ có quan hệ tình dục với nam giới cóHIV/AIDS bởi tình dục không an toàn hoặc tiêm chích ma túy Quan hệ đồng tínhnam (MSM) cũng là con đường làm lây lan HIV/AIDS ở Châu Á Vấn đề đángquan tâm là hầu hết MSM ở Châu Á không dám công khai mình là đồng tính do cáctiêu chuẩn về văn hóa Do vậy, họ vẫn phải thực hiện các chức năng công khai nhưlàm chồng, làm cha trong gia đình, trong khi vẫn có những hành vi tình dục không
an toàn với người đồng giới Điều này càng làm trầm trọng tình trạng lây lanHIV/AIDS trong cộng đồng
Bên cạnh đó, tiêm chích ma túy cũng là nhân tố chính tạo ra sự lây lan HIV/AIDStrên toàn châu Á, đáng chú ý là ở Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Việt NamTại Trung Quốc, gần một nửa số người nhiễm HIV được cho là đã bị lây nhiễm quatiêm chích ma túy Điều đáng quan tâm là tình trạng chồng chéo sự lây lan từ cộngđồng nghiện chích ma túy và nhóm người bán dâm
Theo báo cáo của UNAIDS, dịch HIV/AIDS đang tiếp tục gia tăng ở Trung
Á và Đông Á Số người nhiễm HIV trong năm 2005 cao hơn hai năm trước đó 20%(lên đến 870.000 người) (Báo cáo cập nhập tình hình dịch AIDS, UNAIDS, tháng12/2005) Theo nhận xét của UNAIDS, dịch HIV/AIDS ờ các nước trong khu vựcChâu Á và Châu Đại Dương đang gia tăng, đặc biệt là Trung Quốc, Papua NewGuinea và Việt Nam, ngoài ra cũng có nhiều dấu hiệu cho thấy ở các nước khác nhưPakistan và Indonesia dịch cũng có thể gần đến mức nghiêm trọng
Lý do của sự gia tăng HIV/AIDS ở khu vực này có thể do đây là khu vực tậptrung nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ đói nghèo còn cao và là một trong nhữngnơi sản xuất nhiều ma tuý trên giới, đó là những thách thức cho công tác phòng,chống AIDS ở tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 15Hoạt động phòng chống HIV/AIDS ở Châu Á
Nhìn chung, Châu Á đã có khá nhiều chương trình hành động phòng chốngHIV/AIDS trên quy mô lớn rất thành công Với sự cam kết hỗ trợ của chính quyền,các chiến dịch phòng chống HIV/AIDS ở Thái Lan, Campuachia phát huy hiệu quả
và làm giảm đáng kể mức độ lây nhiễm HIV Mục tiêu của các chương trình nàythường nhằm vào việc thay đổi nhận thức và hành vi của đối tượng mại dâm vànhững khách hàng của họ Ở Tamil, Nada, Ấn Độ, các sáng kiến phòng chống HIV
đã có những tác động nhất định Đó là những chiến dịch truyền thông giảm nguy cơlây nhiễm HIV bằng cách sử dụng bao cao su, đồng thời cung cấp thuốc và điều trịmiễn phí các bệnh lây truyền qua đường tình dục các các nhóm đối tượng có nhucầu Những thành công trên đã chứng minh rằng hoàn toàn có thể can thiệp để làmgiảm thiểu tình hình dịch AIDS ở Châu Á Tuy nhiên, cũng cần phải có nhiều hànhđồng hơn nữa trong bối cảnh tỷ lệ nhiễm HIV nơi này ngày càng tăng Những nhómnguy cơ cao như mại dâm, nghiên chích ma túy, đồng tính nam vẫn còn bị bỏ quêntrong nhiều chương trình can thiệp Cụ thể, dù nghiện chích ma túy là đường lâytruyền HIV/AIDS phổ biến nhất ở Châu Á, nhưng chỉ có khoảng một trong mườingười nghiện chích tiếp cận với các chương trình dự phòng Tổng thư ký Ban Ki-
moon trong một Hội nghị Quốc tế về AIDS từng phát biểu: “Ở các nước mà không
có luật pháp để bảo vệ người mại dâm, nghiện chích ma túy, đồng tính nam thì chỉ
có một tỷ lệ nhỏ dân số được tiếp cận với các chương trình dự phòng Ngược lại, ở những nước mà những đối tượng này có quyền được bảo vệ hợp pháp thì sẽ có nhiều người hơn được tiếp cận với các chương trình này Kết quả là, những bệnh truyền nhiễm sẽ ít hơn, ít nhu cầu điều trị kháng virus hơn, và tình trạng tử vong cũng sẽ giảm thiểu Như vậy, không có cơ chế đẻ bảo vệ nhóm người có nguy cơ cao này thì nó không chỉ mang ý nghĩa phi đạo đức mà còn vô người góc độ y tế (trong công tác dự phòng- ND)”
Đây có thể xem là vấn đề rào cản pháp lý ngăn chặn người dân tiếp cận vớicác chương trình dự phòng lây nhiễm HIV Nhiều thanh thiếu niên Châu Á khôngđược dạy về các hành vi có nguy cơ lây nhiễm cao như quan hệ tình dục không antoàn, nghiện chích ma túy, quan hệ tình dục đồng giới Thay vào đó, họ được truyềnthông về tình dục khác giới, sức khỏe sinh sản, là những điều vốn có tác động giớihạn đến hiệu quả phòng ngừa lây nhiễm mới trong nhóm người trẻ ở Châu Á
Trang 16Do sự kỳ thị của những người xung quanh đối với các nhóm có nguy cơ lâynhiễm HIV cao nên độ bao phủ của các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện(VCT) ở Đông Nam Á rất thấp Ước tính, chỉ có khoảng 0,1% dân số ở đây được tưvấn và xét nghiệm trong năm 2005 Nhận thức được điều này, nhiều quốc gia đãđẩy mạnh việc phố biến các dịch vụ VCT Điển hình như ở Ấn độ, nước này đã xâydựng và phát triển được khoảng 3.600 trung tâm xét nghiệm cho người dân Tuynhiên, nhìn chung Châu Á vẫn còn có nhu cầu cao về tính sẵn có của các dịch vụVCT dành cho những nhóm có nguy cơ nhiểm HIV cao
1.5 Tình hình dịch ở Việt Nam
Tính đến năm 2009 cả nước có 156.802 người nhiễm HIV đang còn sốngđược báo cáo, trong đó có 34.391 bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 ngườichết do AIDS Đến nay, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có tổng sốngười nhiễm HIV cao nhất nước chiếm 26,3% các trường hợp nhiễm HIV pháthiện trên toàn quốc Kế đến là Hà Nội với 15.528 người nhiễm HIV hiện còn sống,Hải Phòng 6.540 người, Sơn La 5.183 người, Thái Nguyên 5.122 người, Nghệ An3.711 người, An Giang 3.667 người và Bà Rịa – Vũng Tàu 3.427 người
Toàn quốc có tới 70,51% xã/phường, 97,53% quận/huyện và 63/63tỉnh/thành phố đã phát hiện có người nhiễm HIV Trong 9 tháng đầu năm 2009 toànquốc ghi nhận thêm 02 huyện mới phát hiện có người nhiễm HIV tại hai tỉnh: Nghệ
An (01 huyện) và Lai Châu (01 huyện) 82 xã, phường báo cáo mới ghi nhận cóngười nhiễm HIV, trong đó khu vực Miền núi phía Bắc: 19 xã, tiếp theo là khu vựcBắc Trung Bộ: 17 xã và cuối cùng là khu vực Đồng bằng Bắc Bộ: 16 xã So vớicùng kỳ năm 2008, số lượng huyện và xã báo cáo phát hiện nhiễm HIV giảm: sốhuyện giảm 01 huyện, số xã giảm 265 xã/phường (năm 2008 tăng 337 xã/phường)
Lứa tuổi nhiễm HIV chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20-29 tuổi chiếmhơn 50%, tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, nhiễm HIV trong nhóm tuổi 30-39tuổi có xu hướng tăng hơn so với các năm trước tăng từ 30% năm 2008 lên đến41% trong năm 2009 Hình thái lây nhiễm HIV trên toàn quốc chủ yếu qua đườngmáu (do tiêm chích ma túy không an toàn), tuy nhiên hình thái có sự khác biệt giữacác vùng miền Khu vực miền Bắc, miền núi phía Bắc chủ yếu do tiêm chích ma túynhưng các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Tây Nam bộ chủ yếu các trường hợp
Trang 17nhiễm HIV được phát hiện do quan hệ tình dục Tại Trà Vinh số nhiễm HIV quaquan hệ tình dục trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV phát hiện lên tới 80,7%,Quảng Bình 73,2%, Cà Mau 69,4%, Quảng Trị 62,0%, An Giang 55,8%, ThừaThiên Huế 50,8%.
Phân bố theo giới: đa phần các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện là namgiới, toàn quốc chiếm 79% Tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ đã có sự thay đổi qua cácnăm gần đây với tỷ lệ nữ giới bắt đầu tăng từ 15% năm 2005 lên tới 23% năm 2009,tuy nhiên, dự báo trong tương lai tỷ lệ người nhiễm HIV là nữ giới có xu hướngtăng lên Hiện nay nhiễm HIV không chỉ tập trung trong nhóm có hành vi nguy cơcao như nghiện chích ma tuý, gái mại dâm mà rất đa dạng về ngành, nghề như laođộng tự do, công nhân, nông dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên, nhân viênhành chính, phạm nhân và trẻ em Điều này cũng phù hợp về hình thái lây truyền,khi lây truyền qua quan hệ tình dục gia tăng làm đa dạng hơn về ngành nghề của đốitượng nhiễm và nguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng sẽ cao hơn
Đánh giá chung về tình hình dịch năm 2008 cho thấy HIV/AIDS đã có xuhướng giảm và chậm lại Số trường hợp nhiễm HIV phát hiện giảm mới 14,3%(giảm 2.048 trường hợp), số bệnh nhân AIDS mới phát hiện giảm 11,1% (giảm 563trường hợp) và số trường hợp tử vong do AIDS giảm 27,5% (giảm 599 trường hợp).Trong năm 2009 có 44 tỉnh/thành phố có số nhiễm HIV giảm so với cùng kỳ năm
2008 (9 tháng đầu năm), trong đó có 8 tỉnh/thành phố có là (Hà Nội, Đồng Nai,Đồng Tháp, Cần Thơ, Yên Bái, An Giang, Bình Phước, Sơn La), còn lại 19tỉnh/thành phố tăng, đứng đầu vẫn là TP Hồ Chí Minh với 373 trường hợp, kế đến
là Điện Biên, Hải Phòng, Lào Cai, Bắc Ninh, Phú Thọ Các số liệu về giám sáttrọng điểm cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong các nhóm như nghiện chích ma túy,gái mại dâm đã có xu hướng giảm trong một vài năm trở lại đây
1.6 Các khái niệm cơ bản liên quan đến HIV/AIDS
HIV là chữ viết tắt của Vi-rút Gây suy giảm Miễn dịch ở người HIV tàn phá
các tế bào máu nhất định có tên gọi là CD4 hoặc tế bào T Các tế bào này rất quantrọng đối với sự hoạt động bình thường của hệ miễn dịch giúp cơ thể chống lại bệnhtật Khi hệ miễn dịch bị HIV xâm nhập, cơ thể một người sẽ dễ dàng bị các bệnhnhiễm trùng do vi rút, vi khuẩn, ký sinh, nấm và các vi trùng khác gây ra
Trang 18AIDS là chữ viết tắt của ‘Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải’ và mô tả
một tập hợp các triệu chứng và nhiễm trùng có liên quan tới suy giảm mắc phải của
hệ miễn dịch Nhiễm vi rút HIV sẽ tạo nền tảng cho căn nguyên của AIDS LượngHIV có trong cơ thể và sự xuất hiện của các loại nhiễm trùng nhất định được coi làcác chỉ số của tiến triển từ nhiễm HIV chuyển sang AIDS
Các bệnh nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STIs - Sexually
transmitted infections) là tình trạng nhiễm trùng hoặc bệnh tật được truyền từ người
nọ sang người kia do nhiều tác nhân Thông thường thì các tác nhân này lây truyềnhoặc lan truyền qua hoạt động tình dục (giao hợp qua đường âm đạo, đường miệnghoặc đường hậu môn) không được bảo vệ với người đang mang bệnh STIs Ngoài
ra STIs còn lây qua mẹ truyền cho con khi có thai, khi cho con bú và các dụng cụtiêm, chích vào da
Nhóm có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao bao gồm những người
nghiện chích ma túy, người hoạt động mại dâm, các bệnh nhân mắc các bệnh lâytruyền qua đường tình dục; người có quan hệ tình dục đồng giới; nhóm người dibiến động Ở Việt Nam, các hành vi có nguy cơ cao nhất đối với lây truyền HIV làtiêm chích ma túy và tình dục không bảo vệ Người tiêm chích ma túy (IDUs -NCMT), nữ mại dâm (FSW - MD) và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới(MSM) là những người đặc biệt có nguy cơ
Nhiễm trùng cơ hội là nhiễm trùng xảy ra do cơ thể bị suy giảm miễn dịch
vì bị nhiễm HIV
Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người
khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gầngũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV
Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách
biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biếthoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với ngườinhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV
Hành vi nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục
không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi khác dễ làm lây nhiễmHIV
Trang 19Phơi nhiễm với HIV là nguy cơ bị lây nhiễm HIV do tiếp xúc trực tiếp với
máu hoặc dịch sinh học của cơ thể người nhiễm HIV
Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS là việc thu thập thông tin định kỳ và hệ
thống về các chỉ số dịch tễ học HIV/AIDS của các nhóm đối tượng có nguy cơ khácnhau để biết được chiều hướng và kết quả theo thời gian nhằm cung cấp thông tincho việc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện phápphòng, chống HIV/AIDS
Giám sát trọng điểm HIV/AIDS là việc thu thập thông tin thông qua xét
nghiệm HIV theo định kỳ và hệ thống trong các nhóm đối tượng được lựa chọn đểtheo dõi tỷ lệ và chiều hướng nhiễm HIV qua các năm nhằm cung cấp thông tin choviệc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng,chống HIV/AIDS
Tư vấn về HIV/AIDS là quá trình đối thoại, cung cấp các kiến thức, thông
tin cần thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa người tư vấn và người được tư vấnnhằm giúp người được tư vấn tự quyết định, giải quyết các vấn đề liên quan đến dựphòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV
Xét nghiệm HIV là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định
tình trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người
HIV dương tính là kết quả xét nghiệm mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ
thể người đã được xác định nhiễm HIV
Nhóm giáo dục đồng đẳng là những người tự nguyện tập hợp thành một
nhóm để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ những người cócùng cảnh ngộ
Nhóm người di biến động là những người thường xuyên sống xa gia đình,
thay đổi chỗ ở và nơi làm việc
Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV bao
gồm tuyên truyền, vận động, khuyến khích sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch,điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện pháp canthiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi an toàn
để phòng ngừa lây nhiễm HIV
Trang 20Tư vấn xét nghiệm tự nguyện (VCT -Voluntarily Counseling and Testing)
là hình thức kết hợp giữa tư vấn và xét nghiệm HIV mà người sử dụng dịch vụ hoàntòan tự nguyện Tư vấn sẽ giúp họ giải đáp những băn khoăn, lo lắng và giải quyếtcác vấn đề liên quan đến HIV
Hoạt động tham vấn HIV/AIDS: là cuộc đối thoại và mối quan hệ có tính
cách tiếp diễn giữa khách hàng (hay bệnh nhân) và người tham vấn với mục đích:Phòng ngừa lan truyền sự nhiễm HIV; Hỗ trợ về mặt tâm lý xã hội cho những người
đã bị nhiễm HIV/AIDS
“Giảm thiểu tác hại” là gì? Sự lây truyền của HIV thông qua tiêm chích ma
túy sẽ được ngăn chặn tốt nhất bằng cách cung cấp các gói can thiệp và dịch vụ toàndiện cho những người tiêm chích ma túy (IDUs) cùng những bạn chích và bạn tìnhcủa họ Các biện pháp mô tả dưới đây được gọi là ‘giảm thiểu tác hại’ do mục đíchcủa chúng nhằm giảm ít nhất một tác hại có liên quan tới tiêm chích sử dụng matúy, lây truyền HIV và gây ảnh hưởng tới người sử dụng ma túy cũng như tới xã hộibên ngoài:
Cung cấp thông tin và giáo dục về HIV cho người sử dụng ma túy vàbạn tình của họ về các nguy cơ lây nhiễm HIV, về tiêm chích an toànhơn và các thực hành tình dục an toàn hơn’
Đảm bảo sự sẵn có về bao cao su cho người sử dụng ma túy;
Thực hiện chương trình trao đổi bơm kim tiêm;
Kết hợp dự phòng HIV và chăm sóc vào các chương trình điều trị(nghiện) ma túy;
Cung cấp các dịch vụ tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ cho người sử dụng
ma túy sống chung với HIV hoặc AIDS;
Tiếp cận điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục và các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe khác dành cho người sử dụng ma túy và bạntiêm chích, bạn tình của họ, và;
Điều trị thay thế
Chương trình ART (liệu pháp điều trị HIV/AIDS): ART (Antiretroviral
therapy) nghĩa là liệu pháp điều trị lây nhiễm retrovirus giống như HIV bằng thuốc
Trang 21Những thuốc này không giết chết vi rút Tuy nhiên, chúng làm chậm dần sự pháttriển của vi rút Khi vi rút phát triển chậm lại thì bệnh HIV cũng phát triển chậm lại.Các thuốc kháng retrovirus được gọi là ARV Liệu pháp ARV được gọi là ART.
ARV (Antiretroviral) là thuốc ngăn chặn sự sinh sản của HIV Nó sẽ làm
giảm số lượng HIV trong cơ thể, và phục hồi hệ thống miễm dịch (số tế bào CD4tăng) Qua đó, nó giúp người nhiễm giảm mắc phải các bệnh nhiễm trùng cơ hội,hạn chế quá trình tiến triển bệnh; giảm sự lây lan cho người khác; giúp nâng caochất lượng cuộc sống tốt hơn, đồng thời giúp người bệnh AIDS phục hồi sức khỏe,sống khỏe mạnh và lâu dài
Mối quan hệ giữa HIV và nghèo đói: Nghèo đói và HIV có liên quan chặt
chẽ với nhau, nghèo đói vừa là nguyên nhân vừa là của tình trạng nhiễm HIV.Những người nghèo nhiễm HIV dễ bị ốm đau hơn và tử vong nhanh hơn nhữngngười không nằm trong dạng nghèo đói, bởi vì họ thường trong tình trạng suy dinhdưỡng, sức khỏe kém, và thiếu chú ý tới chăm sóc sức khỏe cũng như thuốc thang.Ngoài ra, HIV có thể làm trầm trọng thêm nghèo đói kéo dài nhiều thế hệ bằng việclàm cho cuộc sống của những đứa trẻ mồ côi còn sống trở nên kiệt quệ hơn (thường
là nguyên nhân làm chúng phải bỏ học, do vậy làm hạn chế kế sinh nhai của chúngsau này), rồi bằng việc làm tan nát hoặc chia cắt gia đình và xóa dần đi tài sản mongmanh của người nghèo Như vậy, HIV có thể làm thiệt hại tới nền kinh tế, gây mấtbình đẳng trong xã hội nói chung Song song với việc thừa nhận vai trò và các nỗlực của công tác xóa đói giảm nghèo trong công cuộc phòng chống HIV, cần phải
có các hành động tăng cường công tác dự phòng và điều trị, và làm giảm nhẹ tácđộng của HIV Cần phải thực hiện các bước cụ thể để thúc đẩy việc lồng ghép dựphòng HIV vào các kế hoạch phát triển của quốc gia và địa phương, bao gồm các kếhoạch kinh tế xã hội của riêng Việt Nam và Chiến lược Xóa đói Giảm nghèo vàTăng trưởng Tòan diện (CPRGS), cũng như việc phân bố ngân sách quốc gia hayngân sách của tỉnh thành/địa phương
Mối quan hệ giữa HIV và bất bình đẳng giới: Mặc dù hiện tại ở Việt Nam
có nhiều nam giới sống với HIV hơn, nhưng phụ nữ vẫn là những người đặc biệt dễ
bị tổn thương trong lây truyền HIV, cũng như phải gánh chịu những khó khăn giankhổ mặt kinh tế xã hội có liên quan tới HIV Phụ nữ dễ bị tổn thương đối với lây
Trang 22truyền HIV về thể chất, xã hội và kinh tế hơn là nam giới do các yếu tố về sinh học,
do bất bình đẳng giới, do phụ thuộc về kinh tế và do sự phân biệt đối xử trong xãhội Phụ nữ cũng đồng thời phải chia sẻ gánh nặng không cân xứng trong việc chămsóc người sống chung với HIV Để giảm nguy cơ của phụ nữ, các động cơ kinh tế
xã hội làm dịch lây lan – bất bình đẳng giới, nghèo đói, thiếu cơ hội kinh tế và giáodục, thiếu các biện pháp bảo vệ về mặt pháp lý và nhân quyên – cần phải được đưa
ra UNAIDS Việt Nam hỗ trợ việc lồng ghép các nội dung về giới và các tiếp cậndựa trên quyền các hoạt động của các chương trình dự phòng và chăm sóc HIV,đồng thời vận động cho việc bình đẳng trong tiếp cận dự phòng, điều trị và chămsóc
Hoạt động “Theo dõi và Đánh giá M&E: M&E là viết tắt của Monitoring
and Evaluation (Theo dõi và Đánh giá) Theo dõi là thường xuyên theo dõi các yếu
tố chủ chốt trong quá trình hoạt động của chương trình/dự án và thường đặt câuhỏi : “Chúng ta đang làm gì và làm như thế nào?” Đánh giá là việc đánh giá định
kỳ các thay đổi do kết quả của quá trình can thiệp và thường đặt câu hỏi: “Chúng ta
đã làm được gì?” hay “Chúng ta đã tạo được tác động gì?” Theo dõi và Đánh giá làmột yếu tố cần thiết cho mọi chương trình, ở mọi cấp độ Các cơ quan LHQ đều cómột nhóm Theo dõi và Đánh giá
“Khung Theo dõi và Đánh giá M&E”: Mục tiêu của Theo dõi và Đánh giá
Việt Nam là tạo ra một Hệ thống Theo dõi và Đánh giá cấp quốc gia gọi là “KhungTheo dõi và Đánh giá M&E” Cục Phòng chống AIDS Việt Nam (VAAC) đóng vaitrò chính trong việc phối hợp với các tổ chức cơ quan trong nước và quốc tế kháctrong hoạt động này Nhóm M&E tại Việt Nam sẽ thu thập và sử dụng các thông tin
từ cấp xã, huyện, tỉnh và quốc gia
Trang 23Chương 2: Hệ thống các chương trình hành động phòng chống HIV/AIDS
2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật về công tác phòng chống AIDS – Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề HIV/AIDS, chính phủ Việt Nam
đã sớm thiết lập sự chỉ đạo quốc gia và những chính sách có hiệu quả để huy độngtoàn bộ xã hội tham gia vào công việc phòng chống HIV/AIDS, như Nghị định số
52 của Trung ương Đảng; Sắc lệnh về HIV/AIDS của Ủy ban thường trực Quốchội; nghị quyết số 20 CP và nghị định số 34/CP của Chính phủ Ngân sách của nhànước dành cho công tác phòng chống HIV/AIDS cũng tăng theo từng năm Qua đóthấy được sự cam kết chặt chẽ của chính phủ đối với công tác phòng chốngHIV/AIDS.2
Cơ sở của các chính sách của chính phủ là tuyên truyền và huy động toàn thểnhân dân, dựa trên những giá trị của gia đình và cộng đồng Trọng tâm là tạo ra mộtmôi trường văn hóa và xã hội lành mạnh cho sự phát triển của xã hội Thêm vào đó,chính phủ đẩy mạnh những chính sách y tế thích hợp để phòng chống dịch, cải thiệnchất lượng chăm sóc những người nhiễm HIV/AIDS, giảm tác động của HIV/AIDSlên mỗi cá nhân và toàn xã hội
28/06/07 No 96/2007/QĐ-TTg Quyết định về việc quản lý, chăm
sóc, tư vấn, điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam
PL3
2 Trích Hội nghị khoa học toàn quốc về HIV/AIDS lần thứ 2, năm 1999.
Trang 2426/06/07 Nghị định số
108/2007/ND-CP Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng,
chồng nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
01/01/07 No 64/2006/QH11 Luật phòng chống nhiễm virut
gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
PL 6
29/11/06 No.73/2006 /QH11 Luật bình đẳng giới PL 7
30/11/05 54-CT/TW Chỉ thị của Ban Bí thư về tăng
cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới
PL 8
20/05/05 432QD/TTg Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ về việc thành lập Cục phòng, chống HIV/AIDS thuộc Bộ Y tế (VAAC)
PL 9
17/03/2004 36/2004/QD-TTg Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS
ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
4351/2003/QĐ-và cơ cấu tổ chức của Cục Y tế dựphòng và phòng chống
PL 13
Trang 2513/06/2003
Quyết định 2011/QD -
BYT
Quyết định của Bộ Trưởng Y tế
về việc thành lập ban chuẩn bị dự
án tiếp cận thuốc điều trị AIDS ở Việt Nam
PL 15
24/02/2003 02/2003/CT-TTg Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
số 02/2003/CT-TTgngày 24 tháng 02 năm 2003 về tăng cường công tác
và HIV/AIDS giai đoạn 2001 – 2005
PL 21
Trang 26sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001– 2010 (Trích)
05/06/2000 61/2000/QD-TTg Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 61/2000/QD-TTg ngày 05
tháng 06 năm 2000 về việc thành lập ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm
PL 28
11/03/1995 52-CT/TW, Hanoi Chỉ thị số 52 CT/TW ngày 11 PL 29
Trang 27tháng 3 năm 1995 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc lãnh đạo công tác phòng chống HIV/AIDS.
2.2 Hệ thống các cơ quan, tổ chức hoạt động trong phòng chống
HIV/AIDS
Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS
Bắt đầu từ 1987, Chính phủ đã có những hành động đầu tiên chống lại dịchHIV/AIDS Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS được chính thức thành lập năm
1990, đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế Đến cuối năm 1994, Ủy ban phòng chốngAIDS được nâng cấp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, liên kết 16 bộ ngành.Cùng lúc Văn phòng Ủy ban phòng chống AIDS được thành lập để giúp việc cho
Ủy ban này Hệ thống Ủy ban phòng chống AIDS được thành lập ở tất cả các tỉnh,huyện trong cả nước
Ủy ban Quốc gia về Phòng, Chống AIDS, Ma túy và Mại dâm
Đến tháng 6 năm 2002, Uỷ ban Quốc gia về phòng chống AIDS, Ma tuý
và Mại dâm được thành lập theo quyết định 61 của Thủ tướng Chính phủ để thực
hiện chức năng giúp Chính phủ hoạch định chính sách, chỉ đạo và hướng dẫn cáchoạt động phòng, chống HIV/AIDS Ủy ban quốc gia phòng chống tệ nạn ma túy,mại dâm và phòng chống AIDS trên cơ sở hợp nhất các đơn vị sau: Ban chỉ đạo củaChính phủ về phòng, chống các tệ nạn xã hội, Ủy ban quốc gia phòng, chống matuý và Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS Uỷ ban bao gồm 16 Bộ và các banngành đoàn thể, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng phụ trách các vấn đề xã hội Mỗi
Bộ và các cơ quan thành viên cử một Thứ trưởng hoặc một cán bộ tương đương làmđầu mối cho các công việc liên quan của Uỷ ban Ba Bộ - Bộ Y tế (chịu trách nhiệm
về AIDS), Bộ Công An (chịu trách nhiệm về các vấn đề Ma tuý), Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội (chịu trách nhiệm về các vấn đề Mại dâm) - chịu tráchnhiệm hỗ trợ về lập kế hoạch, kỹ thuật và hành chính, cũng như xây dựng chính
Trang 28sách và chiến lược cho Uỷ ban trong các lĩnh vực có liên quan tương ứng
Cục Phòng Chống HIV/AIDS Việt Nam (VAAC)
trách nhiệm điều phối và thực hiện các chương trình và các hoạt động về phòngchống HIV cấp quốc gia, cụ thể là chín (09) Chương trình Hành động được xác địnhtrong Chiến lược Quốc gia về HIV đến 2010 và tầm nhìn 2020 Cục phòng chốngHIV/AIDS phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế để đẩy mạnh các công tácphòng chống dịch HIV tại Việt Nam theo phương pháp đa ngành Các Chương trìnhHành động hiện tại bao gồm:
1 Thông tin, Giáo dục và Truyền thông thay đổi hành vi về dự phòng và kiểm soát HIV/AIDS phối hợp với các chương trình phòng chống ma tuý, mại dâm
để dự phòng lây truyền HIV/AIDS
2 Các can thiệp Giảm tác hại của HIV/AIDS và dự phòng lây nhiễm
3 Chăm sóc và Hỗ trợ cho người HIV dương tính
4 Chương trình Giám sát, Theo dõi và Đánh giá về HIV/AIDS
5 Tiếp cận Điều trị HIV/AIDS
6 Dự phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con
7 Chương trình Quản lý và Điều trị các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
8 An toàn truyền máu
9 Nâng cao Năng lực về Phòng, Chống HIV/AIDS và Tăng cường Hợp tác Quốc tế
2.3 Hệ thống các chương trình hành động phòng chống HIV/AIDS
1 Chương trình 1: Thông tin giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV/AIDS; phối hợp các chương trình phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS
Trang 29Ngày 1/2/2007, Bộ y tế đã ra quyết định phê duyệt chương trình hành độngquốc gia về thông tin giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng chống AIDSđến năm 2010
Mục tiêu chương trình là nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi
của mọi người về phòng, chống HIV/AIDS, góp phần thực hiện thành công các mụctiêu của Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010
và tầm nhìn 2020
Cụ thể:
- Mở rộng diện bao phủ thông tin, cung cấp tài liệu và tăng cường công tác thôngtin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng chống HIV/AIDS tới tất cả cáccấp, các ngành và người dân
- Nâng cao nhận thức, hiểu biết và thay đổi hành vi của các nhà lãnh đạo, cán bộcông chức, viên chức và người dân, đặc biệt là những người có hành vi nguy cơ cao
về HIV/AIDS và các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS
- Góp phần tăng tỉ lệ người dân, nhất là những người thuộc các nhóm có hành vinguy cơ cao thực hành các hành vi an toàn dự phòng lây nhiễm HIV
- Góp phần giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và gia đình họ; tăngcường sự chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV; tạo môi trường thuận lợi đểngười nhiễm HIV hoà nhập cộng đồng
- Nâng cao năng lực của hệ thống về quản lý, tổ chức, thực hiện công tác thông tingiáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS
2 Chương trình 2: Can thiệp giảm thiểu tác hại dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS
“Chương trình Chương trình hành động Quốc gia can thiệp giảm tác hại trong dựphòng lây nhiễm HIV giai đoạn 2007 – 2010” được phê duyệt vào ngày 26 tháng 9năm 2007 Mục tiêu chung của chương trình là khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trongnhóm nghiện chích ma tuý xuống dưới 20% và nhóm người bán dâm dưới 3%, làmgiảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm có hành vi nguy cơ cao và từ nhóm có hành
vi nguy cơ cao ra cộng đồng, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Quốc giaphòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Cụ thể:
Trang 30- 100% các tỉnh, thành phố xây dựng được mạng lưới cán bộ thực hiện chương trìnhcan thiệp giảm tác hại
- Tăng tỷ lệ sử dụng bao cao su trong nhóm người bán dâm lên 90% và tỷ lệ ngườibán dâm được khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục theo đúngqui định lên 80%
- Tăng tỷ lệ sử dụng bơm kim tiêm sạch trong nhóm nghiện chích ma túy lên 90%,giảm tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích ma tuý xuống dưới10% và trong nhóm nghiện chích ma tuý nhiễm HIV là 5%, tỷ lệ bơm kim tiêm đã
sử dụng được thu gom đạt 90% số bơm kim tiêm được phân phát
- Triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại ít nhất
10 tỉnh
3 Chương trình 3 và 5: Chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
Trước thực trạng tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất trong nhóm người tiêm chích matúy khoảng 22,27%, tỷ lệ nhiễm HIV trong gái mại dâm là 4,08%, tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự là 0,12%, phụ nữ mang thai là0,32%3, Bộ Y tế đã phê duyệt “Chương trình hành động quốc gia về chăm sóc, hỗtrợ và điều trị cho người nhiễm HIV đến năm 2010” ngày 19 tháng 1 năm 2007
Mục tiêu chung của chương trình là mở rộng và tăng cường chất lượng dịch
vụ chăm sóc, hỗ trợ và điều trị nhằm kéo dài cuộc sống cho người nhiễm HIV, dựphòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng, góp phần khống chế số người nhiễm HIV ởmức dưới 0,3% dân số vào năm 2010 và không tăng hơn vào các năm sau
Cụ thể đến năm 2010:
a) Tăng 10% mỗi năm người nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị theo hướng dẫn Bộ
Y tế được tiếp cận với thuốc kháng HIV để đến năm 2010 có khoảng 70% ngườilớn và 100% trẻ em nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị được tiếp cận với thuốc khángHIV, trên 90% bệnh nhân lao nhiễm HIV được tiếp cận với thuốc kháng HIV;b) Có ít nhất 50% cơ sở điều trị HIV/AIDS các tuyến được cung cấp đủ các trangthiết bị cơ bản để chẩn đoán, điều trị AIDS;
3 Kết quả giám sát trọng điểm năm 2006
Trang 31c) 70% số huyện trong cả nước có cơ sở đủ khả năng điều trị ngoại trú cho ngườinhiễm HIV;
d) Thuốc kháng HIV sản xuất trong nước có thể đáp ứng được 50% nhu cầu điều trịcho bệnh nhân AIDS;
e)Nâng cao năng lực nhân viên y tế tham gia công tác chăm sóc, hỗ trợ và điều trịHIV/AIDS
4 Chương trình 4: Giám sát HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá chương trình
Với mục tiêu nắm bắt được xu hướng và chiều hướng dịch HIV/AIDS ở Việt Nam
để kiểm soát và dự báo được tình hình, đồng thời cung cấp số liệu cơ bản cho việcxây dựng các chương trình can thiệp, hoạch định chính sách về dự phòng can thiệp
lây nhiễm HIV và chăm sóc điều trị bệnh nhân AIDS ở Việt Nam, “Chương trình
hành động giám sát HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá chương trình” được ký quyết
định phê duyệt vào ngày 19 tháng 1 năm 2007
đ) 100% các xét nghiệm được thực hiện theo đúng quy định về tư vấn, xétnghiệm tự nguyện và có ít nhất 100 phòng tư vấn, xét nghiệm tự nguyện đạt chuẩnquốc gia vào năm 2010;
e) 100% các tỉnh trọng điểm đạt cỡ mẫu giám sát HIV/AIDS/STI, thực hiệnviệc lồng ghép giám sát huyết thanh học và giám sát hành vi;
g) Triển khai tổng điều tra chương trình phòng, chống HIV/AIDS quốc giađịnh kỳ;
h) 100% các tỉnh, thành phố có khả năng tự theo dõi, đánh giá và dự báonhiễm HIV/AIDS/STI vào năm 2010
Trang 325 Chương trình 6: Dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ sang con
Mục tiêu Chương trình hành động Quốc gia về phòng lây truyền HIV từ mẹ sangcon giai đoạn 2006-2010 là khống chế tỷ lệ trẻ em bị nhiễm HIV do mẹ truyền sangxuống dưới 10% vào năm2010
Cụ thể:
- Khống chế tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV ở mức dưới 0,5%;
- 90% phụ nữ mang thai được tư vấn về HIV/AIDS và 60% số phụ nữ mang thaiđược tư vấn tự nguyện xét nghiệm HIV;
- 100% phụ nữ có thai nhiễm HIV và con của họ (số quản lý được) được điều trị dựphòng lây truyền HIV;
- 90% bà mẹ nhiễm HIV và con của họ (số quản lý được) được tiếp tục theo dõi vàchăm sóc sau khi sinh
6 Chương trình 7: Chương trình Hành động phòng, chống các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục đến năm 2010 (Chương trình hành động phòng,
chống STI)
Chương trình 7 cũng được phê duyệt ngày 15 tháng 1 năm 2007 Mục tiêu chươngtrình là: Hạ thấp tỷ lệ mắc STI trong cộng đồng, góp phần khống chế tỷ lệ nhiễmHIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3% vào năm 2010
Cụ thể:
- 100% số quận, huyện có cán bộ phụ trách chương trình phòng, chống STI;
- Khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm STI dưới 10%;
- Trên 80% dân số ở độ tuổi 15 - 49 có hiểu biết cơ bản về STI;
- 80% các trường hợp STI đã phát hiện được chẩn đoán và điều trị đúng theo hướngdẫn quốc gia;
- 100% phụ nữ có thai quản lý tại tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và80% tại tuyến huyện ở những tỉnh triển khai giám sát trọng điểm được xét nghiệmsàng lọc giang mai;
Trang 33- 100% đơn vị Da liễu cấp tỉnh được cung ứng đủ thuốc, hoá chất sinh phẩm và cáctrang thiết bị thiết yếu phục vụ chẩn đoán và điều trị STI;
- 20 tỉnh thực hiện giám sát trọng điểm STI;
- 100% các đối tượng có hành vi nguy cơ cao đến khám tại các cơ sở da liễu được
tư vấn và tự nguyện làm xét nghiệm phát hiện HIV
7 Chương trình 8: An toàn truyền máu
Với dân số hơn 84 triệu người, nhu cầu máu cho điều trị, cấp cứu, đề phòng thảmhọa ở Việt Nam rất lớn Trong những năm gần đây, máu và an toàn truyền máu trởthành vấn đề rất cấp bách Trước thực trạng đó, Bộ Y tế đã phê duyệt Chương trìnhhành động quốc gia về an toàn truyền máu dự phòng lây nhiễm HIV giai đoạn2008-2010 Mục tiêu chương trình là “Chuyển đổi nguồn người cho máu an toàn,thiết lập hệ thống quản lý chất lượng nhằm bảo đảm sàng lọc 100% HIV cho tất cảcác đơn vị máu.”
bộ làm công tác an toàn truyền máu tại các tuyến
- Thay đổi cơ bản cơ cấu nguồn người cho máu Đẩy mạnh vận động hiến máu nhânđạo không lấy tiền, tiến tới xoá bỏ tình trạng bán máu Loại trừ lấy máu ở nhómngười có nguy cơ cao, khuyến khích cho máu nhắc lại, nâng cao sức khoẻ ngườicho máu
Trang 34- Nâng cao công tác quản lý chất lượng trong hoạt động truyền máu thực hiện antoàn truyền máu theo đúng quy định pháp luật
- Xây dựng hệ thống quản lý công tác truyền máu phòng chống HIV thống nhấttrong toàn quốc, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hệ thốngtruyền máu phòng chống HIV, xây dựng hệ thống báo cáo điện tử qua mạng để bảođảm báo cáo đầy đủ, chính xác, đúng mẫu, kịp thời
8 Chương trình 9: Chương trình hành động tăng cường năng lực và hợp tác
quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010
Mục tiêu chung là nâng cao năng lực của hệ thống phòng, chống HIV/AIDS
về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế gópphần thực hiện thành công Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở ViệtNam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Cụ thể
a) Xây dựng, củng cố hệ thống phòng, chống HIV/AIDS từ Trung ương đến địaphương đủ năng lực chủ động phòng, chống và kiểm soát dịch HIV/AIDS;
b) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác phòng, chốngHIV/AIDS;
c) Nâng cao năng lực cán bộ phòng, chống HIV/AIDS;
d) Mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS
− Đối tượng nghiên cứu xã hội học về HIV/AIDS;
− Vận dụng các lý thuyết xã hội học khi tiếp cận nghiên cứu những vấn đề liên quan đến HIV/AIDS
1.2 Khái niệm
Xã hội học là khoa học
Trang 35Về phương diện lịch sử, Auguste Comte, nhà tư tưởng xã hội người Pháp, năm 1838 được ghi nhận là người có công đặt nền móng khai sinh lĩnh vực khoa học xã hội học (sociologie) Xã hội học ra đời muộn hơn so với nhiều ngành khoa học khác, song với cách tiếp cận đặc thù của mình đã ngày càng có những đóng góp trong việc cải thiện chất lượng đời sống của con người, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội bề vững
Đã có nhiều ý kiến tranh luận về đối tượng nghiên cứu của xã hội học trong lịch sử, các ý kiến này ra đời phụ thuộc vào quá trình tiếp cận các vấn
đề xã hội cụ thể Chúng tôi xin giới thiệu một số nhận diện qua đánh giá của một số nhà tư tưởng Auguste Comte (1798-1857) cho rằng, con người là một thực thể xã hội tồn tại không tách rời với các bộ phận cấn thành nên xã hội và đối tượng nghiên cứu của xã hội học chính là nghiên cứu về lịch sử xã hội loài người gắn với ba giai đoạn thần học, siêu hình học và thực chứng luận Emile Durkheim (1858-1917) lại cho rằng xã hội học là khoa học nghiên cứu
về những sự kiện xã hội và sự xuất hiện sự kiên xã hội trong đời sống có tác động cưỡng bức bên ngoài lên hành vi của cá nhân Hành vi tương tác giữa người với người trong đời sống xã hội bị chi phối bởi “ý thức cá nhân” và “ý thức tập thể”
Khi nghiên cứu về sự thành công của con người trong xã hội tư bản, Max Weber (1864-1920) lại cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học chính là khoa học nghiên cứu về “hành động xã hội của con người” Hành động của con người được xây dựng thông qua mối quan hệ tác động qua lại giữa động cơ của cá nhân và tính chất ảnh hưởng của nó đến những người xung quanh trong quá trình hoạt động sống.
Theo Joseph H Fichter lại cho rằng xã hội học là khoa học nghiên cứu con người trong những mối quan hệ với những người khác
Cho dù như thế nào thì các quan điểm tư tưởng và các nhà xã hội học cũng đã đi đến một sự khái quát chung thống nhất xã hội học là khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội chuyên nghiên cứu một cách có hệ thống về hành vi xã hội của con người trong mối tương quan với sự tồn tại, biến đổi của hệ thống các tổ chức xã hội cụ thể Sự xem xét này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và xã hội.
Hiv/aids là vấn đề xã hội
Vào những năm 80 của thế kỷ trước khi lần đầu tiên hai nhóm các nhà khoa học là GS Luc Montagnier cùng cộng sự làm việc tại viện Pasteur Paris (1983) và Nhóm nghiên cứu do GS Robert Gallo dẫn đầu làm việc tại NIH (National Institute of Health phát hiện ra chủng virus HIV ( Human Immuno deficiency Virus ) gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người gây bệnh AIDS Ấn Độ và Nam Phi là những quốc gia có tỷ lệ người chung sống với HIV cao nhất thế giới
Vậy HIV/AIDS là gì?
Trang 36HIV là một loại virus có khả năng xâm nhập và phá hủy hệ miễn dịch của cơ thể người Khi nhiễm loại virus này, cơ thể mất dần đi khả năng chống lại các bệnh thông thường nhất Khi hệ miễn dịch ở người không còn thực hiện được chức năng của nó thí cũng là lúc những bệnh cơ hội khác dồn dập tấn công như các bệnh liên quan đến nhiễm trùng cơ hội, lao, viên gan B,… AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrom) là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV diễn ra ở người Khi đó, hệ miễn dịch của cơ thể đã bị phá hủy nặng nề, không thể bảo vệ cơ thể được nữa Người nhiễm HIV giai đoạn cuối này sẽ chết dần bởi nhiễm các bệnh cơ hội
HIV/AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Hội chứng này cho đến nay chưa có vacxin dự phòng và thuốc điều trị virus gây bệnh hiệu quả Tất cả các giải pháp điều trị như ARV, methdol liên quan điều chỉ có tác dụng làm chậm hoặc suy giảm những tác hại do HIV/AIDS gây ra
Cơ chế lây truyền HIV/AIDS?
Virus HIV có thể lây truyền khi các vết thương có chảy máu của người bình thường tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch âm đạo hay tinh dịch của người
bị nhiễm HIV Ba con đường cơ bản trực tiếp gây bùng phát đại dịch HIV/AIDS là đường máu (dùng chung bơm, kim tiêm hoặc truyền máu có HIV), đường quan hệ tình dục không an toàn và đường lây truyền từ mẹ sang con trong quá trình mang thai, sinh nở hoặc cho con bú.
Sự nguy hại của virus HIV đối với sự sống con người chính là ở chỗ, virus này tấn công trực tiếp vào hệ thống miễn dịch Hệ thống miễm dịch ở người tồn tại là tập hợp các tế bào và chất có tác dụng chống lại các chất, vi sinh vật thể lạ thâm nhập vào cơ thể Hệ thống miễn dịch này bao gồm các tế bào lympho T (kể cả tế bào CD4) và tế bào lympho B, có nhiệm vụ giúp cơ thể chống lại sự thâm nhập của các chất, vi sinh vật thể lạ vào cơ thể Virus HIV xâm nhập trực tiếp vào các tế bào CD4 và tế bào lympho T, rồi sử dụng các tế bào này để tăng lượng virus Cơ chế này làm cho tế bào CD4 sẽ dần bị tiêu hủy dẫn đến hệ thống miễm dịch bị suy yếu không còn thực hiện được nhiệm vụ của mình Một hệ thống miễn bị suy yếu cũng đồng nghĩa với việc tăng khả năng cảm nhiễm đối với các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
Cho đến hiện nay, HIV được chia ra làm hai nhóm chính là HIV-1 (gây
ra đại dịch AIDS) và HIV-2 (nhóm này khó lây hơn, thời gian ủ bệnh dài hơn) Ở Việt Nam kể từ khi những ca bệnh đầu tiên được ph á t hiện, đến nay 100% (63/63) tỉnh thành, 98,7% số huyện và 73,1% số xã, phường trên toàn quốc đã có người nhiễm HIV4 Theo Cục phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế, tính đến hết năm 2009 số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 160.019 trường hợp, số bệnh nhân AIDS còn sống là 35.603 và 44.540 trường hợp tử vong do AIDS5 Sự bùng phát đại dịch HIV/AIDS đã và đang tác động xấu trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, ổn định và thực hiện công bằng xã hội.
4 Trích báo cáo Số: 4402 /BYT-AIDS của Bộ Y tế ngày 05 tháng 7 năm 2010.
5 Trích báo cáo Số: 1991 /BYT-AIDS của Bộ Y tế ngày 06 tháng 4 năm 2010.
Trang 37Những trường hợp bị nhiễm HIV, khả năng tham gia lao động giảm hẳn đã tác động trực tiếp đến năng suất cũng như chất lượng lao động quốc gia Ngành y tế chịu sự tác độc trực tiếp nặng nề nhất khi số lượng người nhiễm HIV/AIDS ngày càng gia tăng Kinh tế gia đình của người có H suy giảm, rơi vào khủng hoảng tỷ lệ thuận theo thời gian kể từ khi biết bản thân bị nhiễm.
An ninh lương thực quốc gia bị ảnh hưởng do số người chết và tàn tật vì nhiễm HIV/AIDS HIV/AIDS là một trong nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng chậm tiến và nghèo khổ, là biến số trung gian tác động đến tình trạng thất học và khả năng hội nhập xã hội của trẻ có người thân nhiễm HIV/AIDS Người nhiễm HIV/AIDS thường sống với trạng thái tâm lý buồn bã, phiền muộn, chán nản, mất niềm tin Điều nay đã tác động ảnh hưởng xấu đến không khí, hạnh phúc gia đình Chức năng tái sản xuất sức lao động (duy trì nòi giống) bị đánh mất Trong khi điều trị cai nghiện ma túy mới chú trọng tập trung về lượng, số lượng cai nghiện thành công còn nhiều hạn chế thì số lượng và nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS lại có xu hướng gia tăng hàng năm với nhiều biến động phức tạp Việt Nam là một trong ba quốc gia khu vực châu Á cùng Trung Quốc và Malaysia có tỷ lệ nhiễm HIV qua con đường tiêm trích cao nhất Mặc dù Chính phủ và các tổ chức xã hội đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống HIV/AIDS, nhưng cho đến nay Việt Nam vẫn nằm trong khu vực những quốc gia tỉ lệ người nhiễm cao nhất thế giới, với khoảng 300 000 người đang sống chung với căn bệnh thế kỉ này (12/2007)
3.1 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học về hiv/aids
HIV/AIDS là một trong những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của xã hội học Đối tượng nghiên cứu của xã hội học về HIV/AIDS được xác định xuất phát từ đối tượng cũng như khách thề nghiên cứu của xã hội học nói chung.
Do vậy, đối tượng nghiên cứu của xã hội học về HIV/AIDS chính là nghiên cứu về những quy luật xã hội trong quá trình hình thành và tác động của HIV/AIDS trong đời sống xã hội con người Điều thu hút sự quan tâm của các nhà xã hội học chính là việc xác định những nhân tố chủ quan và khách quan
có tính khái quát chung nhất trong các xã hội và những mặt tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và biến đổi của HIV/AIDS đối với đời sống xã hội Bằng những phương pháp cụ thể, xã hội học thu thập các thông tin có ý nghĩa thống kê trên hai phương diện định lượng và định tính về sự tồn tại của HIV/AIDS tác động đến các quá trình hoạt động và phát triển xã hội.
Tóm lại xã hội học về HIV/AIDS là một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của
xã hội học, trong đó đối tượng nghiên cứu hướng vào cơ cấu, các qui luật, các kênh thông tin, mối quan hệ giữa các thành phần xã hội, cơ chế tác động lan truyền của HIV/AIDS ở những xã hội cụ thể Với cách tiếp cận của xã hội học khi nghiên cứu về HIV/AIDS sẽ giúp chúng ta xác lập những quy luật chung nhất chi phối đến sự bùng phát đại dịch HIV/AIDS cũng như tính xã hội đặc thù ở mỗi quốc gia, khu vực trong quá trình tiến tới kiểm soát sự bùng nổ đại dịch này Như vậy đối tượng nghiên cứu của xã hội học về HIV/AIDS còn là
Trang 38nghiên cứu những phương pháp tác động giúp kiểm soát có hiệu quả trong nỗ lực ngăn chặn đại dịch thế kỷ này Ngoài ra tất cả những gì thuộc về thái độ, tâm thế, nguyện vọng của người có H cũng như thái độ xã hội của các nhóm, giai tầng xã hội đối với việc chung sống với đại dịch HIV/AIDS Qua đó làm hạn chế những phản ứng tiêu cực khi nhìn nhận đánh giá về HIV/AIDS cũng như thái độ cực đoan và khả năng hòa nhập xã hội của người nhiễm HIV
3.2 Chức năng của xã hội học về HIV/AIDS
Chức năng điều hòa các quan hệ xã hội
Trong quá trình phát sinh và bùng nổ đại dịch HIV/AIDS trên thế giới chung và Việt Nam nói riêng đã có nhựng tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế, ổn định và thực hiện công bằng xã hội Qua những con đường lây truyền chính của HIV/AIDS cho thấy những mối quan hệ xã hội nào là lành mạnh và những mối quan hệ nào là có vấn đề tạo điều kiện cho sự lan rộng số lượng người nhiễm và ảnh hưởng của HIV/AIDS đối với đời sống xã hội Từ trên cơ sở này giúp cho những nhà lãnh đạo, các tổ chức xã hội xây dựng những chính sách phù hợp với điều kiện và nhu cầu trong quá trình kiểm soát đại dịch Những người có H là những người rất dễ bị tổn thương, từ sự phán xét quy kết của cộng đồng dễ dẫn đến các hành vi lệch chuẩn Những con đường lây truyền HIV/AIDS rất nhạy cảm, dễ gây một sự liên tưởng đến mại dâm và ma túy Do vậy việc cải thiện mối quan hệ giúp định hình sự thân thiện giữa cộng đồng và những người có H sẽ hạn chế được những hành vi có thể làm phương hại đến lợi ích xã hội Trong khi những người chưa bị nhiễm
H tự biết cách phòng tránh cho mình và hỗ trợ những người có H vượt qua những định kiến thiếu toàn diện về HIV/AIDS Công cuộc phòng chống HIV/AIDS đòi hỏi nhận thức đầy đủ và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội và mọi người dân Việc thay đổi nhận thức, thái độ và hành động đối với vấn đề HIV/AIDS là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Việc xây dựng những chương trình hoạt động hiệu quả trong công tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS, cải thiện nhận thức và hành vi xã hội của người có H trong việc kiểm soát và phòng ngừa lây nhiễm Sự ra đời của các nhóm đồng đẳng trong việc tuyên truyền và kiểm soát bơm kim tiêm bẩn, cũng như những chế độ chính sách về kinh tế và văn hóa đối với những người hoạt động trong lĩnh vực kiểm soát, giám sát và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng đối với người có H
Chức năng giáo dục
Bên cạnh sự kiểm soát từ bên ngoài được quy định bởi hệ thống pháp luật, những cải tiến trong phương pháp tuyên truyền giáo dục nhận thức về HIV/AIDS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của mọi tầng lớp trong xã hội Chính việc nâng cao nhận thức về những con đường lây truyền HIV và những hệ quả của nó đã giúp cho nhận thức của đông đảo tầng lớp nhân dân kiểm soát tốt hơn những mối nguy hại rình rập từ HIV Trong nhiều trường hợp cụ thể, qua những hình thức nêu gương, khen
Trang 39ngợi, phê phán lên tiếng từ phía xã hội đã tỏ ra hiệu quả hơn trong việc điều chỉnh hành vi xã hội của bản thân cá nhân, gia đình người nhiễm và thái độ xã hội đối với người nhiễm cũng như cộng đồng người nhiễm HIV/AIDS.
Chức năng kiểm soát xã hội
HIV/AIDS là vấn đề xã hội nhận được sự quan tâm của các tổ chức xã hội trong nước và cộng đồng quốc tế Sự lây lan HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư sẽ ngày càng gia tăng và không thể kiểm soát được nếu những hành vi nguy cơ cao không được hạn chế Việc kêu gọi sự không tham gia vào những hành vi nguy cơ cao gắn với những thói quen và bản năng tình dục, nhu cầu làm mẹ nếu như việc giám sát, hỗ trợ của hệ thống bộ máy quản lý nhà nước lỏng lẻo, kém hiệu quả Bên cạnh đó việc tiếp cận phân tích mối quan hệ giữa chủ thể nhiễm H với những tác nhân từ bên ngoài xã hội làm bùng nổ HIV/AIDS còn giúp cho bản thân người có H cũng như người không có H thực hiện hành vi ứng xử đúng mực với vấn đề HIV/AIDS Xã hội học về HIV/AIDS còn giúp cơ quan lập pháp, tư pháp có cái nhìn hợp lý hơn trong việc thực hiện mục tiêu giảm hại có hiệu quả hơn Nâng cao nhận thức trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng cũng là một giải pháp làm hạn chế những biểu hiện, hành vi lệch lạc và trục lợi bất chính từ việc buôn bán các chất ma túy, mại dâm trên địa bàn dân cư
Chức năng quản lý và dự báo
Kết quả nghiên cứu của xã hội học về HIV/AIDS sẽ là một trong những
cơ sở giúp các nhà quản lý xã hội đưa ra các quyết định quản lý Ở Việt Nam hiện nay đã có hệ thống các văn bản quan trọng trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS như Luật phòng chống HIV; Quyết định Số: 34/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia Can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV giai đoạn 2007 – 2010; Nghị định Số: 108/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Thông tư liên tịch Số: 03/2010/TTLT-BYT-BCA của Bộ Y tế và Bộ Công an Quy định việc cấp, phát, quản lý và sử dụng Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV; Nghị định Số 94/2010 của Chính phủ Quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng Ngoài ra còn một số văn bản khác có liên quan hỗ trợ triển khai trong mảng công tác này Tuy nhiều còn có nhiều ý kiến chưa hài lòng trong hoạt động công tác triển khai dự phòng lây HIV/AIDS trong cộng đồng làm ảnh hưởng đến tính khả thi trong thực tế Nguyên nhân, do nhiều người dân còn chưa hiểu biết hết tác hại, cơ chế lây truyền và hành vi kiểm soát lây nhiễm HIV, nhiều cơ quan chức năng chưa nhận thức và thể hiện trách nhiệm đầy đủ
hỗ trợ hoạt động phòng chống lây nhiễm, chế độ và chính sách đối với nhân viên xã hội chưa được nhìn nhận như một nghề thật sự Hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai, người có H chưa thật sự nhận được sự hào hứng quan tâm của các doanh nghiệp và các nhà sử dụng lao động
Trang 40Như vậy, nghiên cứu xã hội học về HIV/AIDS có thể hỗ trợ tái cấu trúc lại quá trình lập pháp và việc xây dựng, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước Không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với vấn đề HIV/AIDS, phát huy năng lực dự báo về khả năng bùng phát HIV/AIDS trong cộng đồng và xây dựng kế hoạch hỗ trợ nhân lực, sử dụng tài chính phù hợp, hiệu quả
3.3 Vai trò của xã hội học trong công tác phòng chống HIV/AIDS
Nghiên cứu về HIV/AIDS là một nhu cầu không thể thiếu được trong công việc lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Biết được xu hướng bùng nổ HIV/AIDS trong các tầng lớp dân cư cùng tâm tư, nguyện vọng của những người có H và có những chính sách hợp lý hỗ trợ hoạt động phòng chống HIV
là yếu tố cực kỳ quan trọng giúp kiểm soát đại dịch Do vậy, tổ chức tốt công tác nghiên cứu xã hội học về HIV/AIDS cũng là việc chung sức thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm cùng hệ thống chính trị và trách nhiệm xã hội của công dân Việc nghiên cứu này còn góp phần trong việc định hướng cách thức hành động cụ thể trong việc triển khai có hiệu quả chương trình quốc gia phòng chống AIDS
Với phương pháp nghiên cứu xã hội xã học thực nghiệm, cách tiếp cận xã hội học ngày càng đóng vai trò quan trọng trọng việc giải quyết các vấn đề xã hội nói chung và vấn đề HIV/AIDS nói riêng Góp phần đảm bảo chất lượng cuộc sống người dân và thực hiện tốt trong công tác an sinh và công bằng xã hội
3.4 Nhiệm vụ
Xã hội học về HIV/AIDS đặt cho mình nhiệm vụ nắm bắt thực trạng về tình hình và diễn tiến bùng phát HIV/AIDS ở các nhóm xã hội khác nhau trong những điều kiện tác động cụ thể của các yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội cụ thể Các nhà nghiên cứu cần nắm bắt được xu thế biến đổi và những mối quan hệ xã hội tác động đến hành vi nguy cơ cao thuộc về các nhóm xã hội nào? Phân tích những đặc điểm tâm lý, xã hội thuộc về cơ cấu xã hội theo giới, độ tuổi, trình độ học vấn, khả năng nhận thức ở từng nhóm đối tượng liên quan Qua đó chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến dư hành vi
có nguy cơ cao nhưng không được kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra sự lây nan HIV/AIDS trong cộng đồng.
Các nhà nghiên cứu cần phải trả lời được những câu hỏi cụ thể:
- HIV/AIDS đang tiến triển như thế nào trong các nhóm xã hội?
- Các nhóm xã hội khác nhau trong mối liên hệ với HIV/AIDS nhìn nhận và hành xử như thế nào đối với HIV/AIDS?
- Những đặc điểm tâm lý – xã hội của người nhiễm HIV/AIDS ở các giai đoạn khác nhau?