1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được nếu như chỉ có một giới

19 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những chủ trương chính sách đó, ta thấy kế hoạch hóa gia đình KHHGĐ là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất nhằm hạn chế sức ép của dân số phát triển nhanh tới các lĩnh vực

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Giới và phát triển là một môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu các vấn đề xã hội

trong phạm vi quan hệ giới và mối quan hệ giữa giới và phát triển bền vững

Nghiên cứu quan hệ giới trong suốt cuộc đời con người Kể từ khi con người sinh

ra cho đến khi con người ta chết đi, tất cả đều có mối quan hệ giữa phụ nữ và nam

giới xét ở hai khía cạch quan hệ xã hội và quan hệ mang tính sinh học để duy trì nòi

giống Có thể khẳng định: xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được

nếu như chỉ có một giới.

Trong những năm gần đây, nước ta phải đối mặt với tình trạng là dân số bắt đầu

tăng trở lại và có xu hướng tăng một cách vững chắc Điều này kéo theo hậu quả là

phải giải quyết những vấn đề về lương thực, thực phẩm, y tế sức khỏe, ảnh hưởng đến

môi trường , hệ sinh thái

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm qua Đảng và

Nhà nước đã có nhiều chủ trương biện pháp hạn chế mức gia tăng dân số khắc phục

tình trạng nghèo đói

Trong những chủ trương chính sách đó, ta thấy kế hoạch hóa gia đình ( KHHGĐ)

là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất nhằm hạn chế sức ép của dân số phát

triển nhanh tới các lĩnh vực đời sống, kế hoạch hóa gia đình ở nước ta cũng đạt được

một số thành tựu và không ít những khó khăn đặc biệt là ở một số vùng xâu, vùng xa,

vùng đồng bào dân tộc thiểu số việc tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hóa gia

đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản còn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác này

Huyện Bảo Lạc thuộc Cao Bằng là một nằm ở vùng núi phía bắc nhiều dân tộc

thiểu số sinh sống Trong đó, người Tày là một trong những dân tộc tập trung chủ yếu

ở đây, dân tộc này lại có truyền thống sinh nhiều con Việc tuyên truyền KHHGĐ –

sức khỏe sinh sản đến dân tộc này gặp khá nhiều khó khăn trong suốt quá trình thực

hiện Nhất là việc tuyên truyền nhận thức giới đối với họ

Để mọi người có thể hiểu được thực trạng bất bình thường giới ở dân tộc này đang

diễn ra như thế nào trong công tác dân số - KHHGĐ, sức khỏe sinh sản và với mong

muốn tộc người này sẽ không còn tình trạng đói nghèo lạc hậu – mong muốn này

cũng chính là lý do em chọn đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Cao Thị Trang

Trang 2

A.NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm cơ bản về giới và các khái niệm liên quan đến giới.

* Giới là những khác biệt và quan hệ mang tính xã hội giữa hai giới tính (nam giới

và nữ giới) Các đặc điểm giới là do học mà có, chúng khác nhau từng nền văn hóa

và có sự thay đổi theo thời gian

- Giới tính: là khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ, giữa bé trai và

bé gái Chúng giống nhau trên toàn thế giới và không thay đổi theo không gian hay

thời gian

Cần phân biệt giới và giới tính

Đặc trưng xã hội Đăc trưng sinh học

Do dạy và học mà co Bẩm sinh, di truyền

Biến đổi theo hoàn cảnh xã

hội

Không biến đổi

Thay đổi theo không gian và

thời gian

Không thay đổi

* Các khái niệm liên quan đến giới:

- Định kiến giới: là những suy nghĩ của con người về những điều bé trai và đàn

ông, bé gái và phụ nữ có thể làm được

Ví dụ: Nam giới là trụ cột kiếm tiền, phụ nữ làm công tác gia đình

- Giá trị giới: là những ý tưởng của mọi người về việc nam giới và nữ giới ở tất cả

các thế hệ nên như thế nào

- Nhu cầu giới: thể hiện trong những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ

hoặc nam giới thực tế đang làm

Nhu cầu giới bao gồm: + Nhu cầu thực tế

+ Nhu cầu chiến lược

Bình đẳng giới: là môi trường trong đó cả nam giới và nữ giới được hưởng vị trí

như nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình

nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả đó

2 Lý luận cơ bản về dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh

sản.

2.1 Dân số và những vấn đề liên quan đến dân số

Trang 3

Dân số là tập hợp những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một

không gian nhất định thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số của vùng địa

lý đó

Những hậu quả của việc gia tăng dân số ở các nước đang phát triển

Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, dân số tăng nhanh sẽ kéo theo

nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường như làm cho gánh nặng xã hội ngày càng

nhiều, tệ nạn xã hội, cạn kiệt tài nguyên môi trường, giảm đa dạng sinh học và đặc

biệt là nó kéo theo tình trạng nghèo đói càng ngày càng phổ biến

Dân số và bình đẳng giới là hai vấn đề có mối quan hệ với nhau Thực hiên

bình đẳng giới là chia sẻ những trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi công bằng giữa

hai giới trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của gia đình và xã hội Việc tuyên

truyền nâng cao được nhận thức về giới và bình đẳng giới là một trong những yếu

tố để thực hiên tốt công tác dân số Ngược lại nếu làm tốt công tác dân số sẽ thực

hiên được nhiều mục tiêu trong đó có mục tiêu bình đẳng giới

2.2 Kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản

KHHGĐ đó chính là những nỗ lực của các cặp vợ chồng hay cá nhân nhằm

mục đích chủ động sinh đẻ số lượng con và duy trì khoảng cách sinh theo ý muốn

bằng cách áp dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả

Biện pháp tránh thai là can thiệp nhằm tác động lên nhân với tác dụng cản việc

thụ thai của người phụ nữ

Tầm quan trọng của KHHGĐ

KHHGĐ mang lại lợi ích sức khỏe và kinh tế xã hội, KHHGĐ giúp giảm mức

sinh, từ đó giúp hạn chế mức gia tăng dân số Điều này có tác động to lớn đến kinh

tế xã hội của đất nước Do nước ta là một nước dân số đông nên còn gặp nhiều khó

khăn trong các vấn đề về phát triển kinh tế, trong giáo dục y tế, việc làm nếu

thực hiện KHHGĐ có hiệu quả thì sẽ có rất nhiều tác dụng trong tăng trưởng kinh

tế của đất nước và làm tốt hơn các phúc lợi xã hội

KHHGĐ sẽ tạo cho phụ nữ có cơ hội học tập, thời gian công tác xã hội, nuôi

dạy con cái tốt hơn, đồng thời họ còn có nhiều thời gian chăm sóc cho gia đình và

bản thân hơn

KHHGĐ hoàn toàn có thể đạt hiệu quả với mọi đối tượng có đủ kiến thức và

kỹ năng cần thiết và các biện pháp tránh thai Đồng thời hiểu được tác dụng phụ và

những cách khắc phục KHHGĐ giúp tăng cường sức khỏe sinh sản và chất lượng

con cái

2.3 Lý luận cơ bản về bình đẳng giới trong dân số KHHGĐ chăm sóc sức khỏe

sinh sản.

Trang 4

Bình đẳng giới trong dân số - KHHGĐ là việc nam giới và nữ giới có quyền

như nhau trong bàn bạc, quyết định, lựa chon và sử dụng các biện pháp KHHGĐ

cho phù hợp Vận động cả nam và nữ sử dụng các biện pháp tránh thai, tập trung

nâng cao nhận thức về giới trong KHHGĐ tạo điều kiện cho phụ nữ chăm sóc sức

khỏe cho chính bản thân mình và gia đình

Bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe sinh sản là việc tạo điều kiện cho cả nam

và nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận

với các gói dịch vụ lâu dai và an toàn

3 Lý luận cơ bản về phát triển cộng đồng

Theo Liên hiệp quốc định nghĩa thì phát triển cộng đồng là: một tiến trình, qua

đó lỗ lực của dân chúng kết hợp với lỗ lực của chính quyền để cải thiện điều kiện

kinh tế, văn hóa của cộng đồng nhằm giúp cộng đồng đóng góp và hội nhập vào

đời sống quốc gia

II THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DÂN SỐ - KHHGĐ CHĂM

SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở DÂN TỘC TÀY CỦA HUYỆN BẢO LẠC

TỈNH CAO BẰNG

1 Các điều kiện ảnh hưởng đến vấn đề giới trong công tác dân số - KHHGĐ,

chăm sóc sức khỏe sinh sản ở dân tộc Tày của huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng

a Điều kiện tự nhiên

Huyện Bảo Lạc của tỉnh Cao Bằng là một huyện thuộc vùng núi phía Bắc

Vùng có địa hình đồi núi cao, có khí hậu khắc nghiệt đặc biệt là có một mùa đông

lạnh giá và kéo dài suốt từ tháng mười đến tháng bốn năm sau, càng lên cao thì khí

hậu càng khắc nghiệt

Người dân tộc Tày của tỉnh chủ yếu sống ở các vùng núi cao và các huyện

nghèo của tỉnh như Thạch An, Bảo Lâm, Hà Lang, Bảo Lạc Đặc biệt là sống tập

trung tại huyên Bảo Lạc Mật độ nhà ở của người dân tộc này lại cách xa nhau

Chính điều này gây rất nhiều những trở ngại hay khó khăn cho công tác tuyên

truyền hay tiếp cận các dịch vụ - y tế - chăm sóc sức khỏe sinh sản

b Điều kiện xã hội

Phần lớn người dân tộc Tày có trình độ văn hóa thấp, tỷ lệ mù chữ cao, đời

sống tự cung, tự cấp cho mọi thứ trong sinh hoạt là chủ yếu và hầu hết người dân

tộc này sống theo truyền thống trọng nam khing nữ Thêm vào đó là địa hình hiểm

trở, giao thông đi lại khó khăn, hầu hết các đường giao thông lên thôn buôn bán rất

khó sử dụng, các phương tiện cơ giới không thể hoạt động trên những con đường

này Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới việc tuyên truyền những kế hoạch hay các

Trang 5

chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước gặp nhiều khó khăn khi tới các bản

làng

Chính những điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội này đã ảnh hưởng rất lớn,

đến việc tuyên truyền nhận thức cho người dân về công tác dân số, KHHGĐ và

chăm sóc sức khỏe sinh sản

2 Thực trạng vấn đề dân số - KHHGĐ của người dân tộc Tày ở huyện Bảo

Lạc tỉnh Cao Bằng

Người Tày cư trú tập trung chủ yếu tại 13 tỉnh Có 24 huyện có số người Tày là

trên một vạn dân Theo kết quả điều tra dân số năm 1989 thì người Tày là một

trong những dân tộc có tỷ xuất sinh thô cao nhất ( 6,34%) trong tổng tỷ xuất sinh

thô của cả nước Đăc biệt là tỷ lệ ( số con bình quân của một phụ nữ trong độ tuổi

sinh đẻ) của cả nước thì có xu hướng giảm từ 4,7 con ( 1994 – 1988) xuống còn

4,1 con trong giai đoạn từ năm (1989 – 2003) nhưng ta thấy dân tộc Nùng vẫn là 7

con ( tăng 3,09%) và dân tộc Tày là 8,8 con ( tăng 4,5%) Trên địa bàn tỉnh Cao

Bằng, số con bình quân của phụ nữ Tày trong độ tuổi sinh đẻ cao hơn so với mức

của cả nước Năm 1989 - 2003 con, đến thời điểm 2003 – 2007 theo điều tra điểm

ở mười làng của dân tộc Tày thì con số giảm xuống còn 7,8 đến 8 con Nhưng đây

vẫn là con số cao so với mức sinh thô của cả nước

Huyện Số lần sinh Số con thực tế

Nguồn: Phòng y tế - dân số tỉnh Cao Bằng

Dân tộc Tày cũng chính là dân tộc có tỷ lệ trẻ sơ sinh chết lớn nhất trong các

dân tộc là: ( 106%)

Ở dân tộc Tày thì số phụ nữ kết hôn dưới 18 tuổi cũng khá lớn và phổ biến

Theo điều tra dân số năm 1989 toàn quốc có 30.878 phụ nữ Tày từ 13 tuổi đến 17

tuổi trong đó có 6.653 người có chồng, chiếm tỷ lệ 21,33% Ở huyện Bảo Lạc tỉnh

Cao Bằng, tỷ lệ đó thấp hơn, chiếm 19,8% (2001)

Dân số tăng nhanh làm cho mật độ dân số cũng tăng nhanh Bình quân đất gieo

trồng cho một người Tày của huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng năm 1960 là 0.209 ha

đến năm 1989 chỉ còn 0.168 ha Đời sống người Tày trở nên khó khăn dẫn đến

tình trạng du cach du cư của bà con Theo số liệu điều tra năm 2009 thì trong tổng

số 50 làng có người Tày sống của huyện Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng cho thấy có

Trang 6

đến 87% số người di cư là do nguyên nhân không có hoặc có ít đất canh tác, lại

bạc màu không trồng ngô và lúa được

3 Thực trạng bình đẳng giới trong dân số - KHHGĐ chăm sóc sức khỏe sinh

sản ở dân tộc Tày của huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng.

Những năm qua công tác dân số KHHGĐ cũng đã đến được với một số bản

làng, bằng nhiều loại hình thức khác nhau Do là dân tộc nên người dân nơi đây

vẫn còn nặng truyền thống, người đàn ông vẫn là người có quyền quyết định mọi

vấn đề cao nhất Họ là người có thể quyết định số con trong gia đình và khoảng

cách các con như thế nào Phụ nữ thường phải phụ thuộc vào chồng và ít có tiếng

nói trong gia đình và đặc biệt là trong vấn đề sinh đẻ

Do những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện còn gặp nhiều khó khăn

nên phần lớn việc tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ còn có nhiều hạn chế khi đến

được tận các bản làng Tuy nhiên, ở một số hộ gia đình của người Tày nơi đây thì

họ cũng đã tiếp cận được với dịch này Thế nhưng, phần lớn việc thực hiện biện

pháp tránh thai và KHHGĐ lại là trách nhiệm của người phụ nữ Còn người đàn

ông thì hầu hết là không sử dụng nếu có sử dụng thì cũng rất ít Ở đây thì do bà

con còn kém hiểu biết về vấn đề này nên các hình thức tránh thai hoàn toàn xa lạ

với họ, nếu biết thì cũng chỉ có một số người trong bản làng

Trên đây là số liệu thống kê tỷ lệ nam nữ sử dụng các biện pháp tránh thai tại

huyện Bảo Lạc của tỉnh Cao Bằng

Đơn vị %

Đặt vòng tránh thai 0 35

Uống thuốc tránh thai

Nguồn: Phòng y tế huyện Bảo Lạc ( năm 2009)

Qua bảng số liệu đã cho chúng ta thấy được rằng: trong 52% cặp vợ chồng sử

dụng các biện pháp tránh thai thì có 0.18 % gia đình có nam giới đình sản và tỷ lệ

nam giới sử dụng bao cao su còn rất là thấp mới chỉ đạt có 1.87% Phần lớn việc

thực hiện các biện pháp KHHGĐ đều là do người phụ nữ đảm nhận, nam giới thì

thờ ơ, vô trách nhiệm

Trang 7

Trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ còn có nhiều

hạn chế Phụ nữ thường gặp nhiều những biến chứng khi mang thai và khi sinh đẻ,

họ không có đủ điều kiện để chăm sóc sức khỏe và bản thân

Theo báo cáo thì ở các xã của huyện có người Tày sống thì số phụ nữ bị hỏng

thai là cao nhất của tỉnh Cao Bằng với tỷ lệ là: 68% của các dân tộc cư trú tại đây

Có tới 87% số phụ nữ không biết tác dụng phụ của các loại thuốc thông thường

mà họ hay sử dụng Số nam giới thường hay đánh đập vợ mình khi mang thai ở

đây là: 36% trong tổng số các vụ mà chồng đánh đập vợ

Phụ nữ Tày đang cho con bú

Tỷ lệ phụ nữ gặp các biến chứng khi sinh con tại huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng

Đơn vị %

2006

Năm 2007

Năm 2008

Sức khỏe suy nhược 11.8 11.3 10.9

Rối loạn kinh nguyệt 2.6 2.5 1.9

Viêm đường sinh dục 8.7 9.7 3.8

Nguồn: Phong y tế huyện Bảo Lạc

Trong bảng thống kê cho ta thấy là tình trạng chăm sóc sức khỏe cho những

người phụ nữ đang mang thai còn có nhiều hạn chế Trên đây cũng chỉ là con số

mà phòng y tế thống kê được từ những gia đình đưa phụ nữ mang thai đến sinh tại

trạm y tế của các xã Trên thực tế thì do bà con còn sống xa trạm y tế hoặc là giao

thông đi lại còn khó khăn nên phần lớn các gia đình người Tày đã chọn sinh đẻ tại

nhà Con số phụ nữ sinh tại nhà là: 45% trên tổng số phụ nữ mang thai là người

Tày Do không được đảm bảo an toàn về sức khỏe và không có các dụng cụ y tế hỗ

trợ nên dễ bị nhiễm trùng, chảy máu Có nhiều phụ nữ Tày đã chết khi vượt cạm

Trang 8

Theo số liệu của phòng y tế huyện Bảo Lạc, thì có khoảng 20.4% phụ nữ gặp

biến chứng khi sinh tại nhà, 3.75% đã tử vong sau khi sinh Số phụ nữ được khám

thai định kỳ là khoảng 6.4% và ít phụ nữ được cán bộ y tế chăm sóc trong và sau

quá trình sinh sản

Năm 2009 thì có đến 712 phụ nữ có những bệnh có thể ảnh hưởng đến con sau

này, chiếm khoảng 24% tổng số phụ nữ đang mang thai Trong những phụ nữ đang

mang thai của dân tộc Tày thì có tới 89% số phụ nữ vẫn phải tham gia các công

việc nương rẫy như nam giới

Phụ nữ Tày địu con làm các em bé Tày

Qua điều tra tại 20 làng người Tày ở khu xã Nậm Chày, xã Hố Mít, xã Đồng Yên

của huyện Bảo Lạc có kết quả như sau:

Số người phỏng

vấn ( người)

Số người muốn có

Số người muốn

có 3- 4 con

Số người muốn

có 1- 2 con

Trang 9

5- 7 con

Nguồn: Phòng dân số huyện Bảo Lạc ( năm 2009)

Qua bảng điều tra ta có thể nhận ra, số người muốn có đông con vẫn chiếm

48% số người được hỏi ý kiến Trong đó có những làng chủ yếu làm kinh tế nương

rẫy thì số người muốn có đông con vẫn chiếm từ

56 – 58% Số người muốn có từ 1- 2 con thì chiếm tỷ lệ rất thấp chiếm 6% đến

20%

Như vậy, phụ nữ thường không được chăm sóc chu đáo và chỉ một số ít tiếp

cận được với gói dịch vụ và làm mẹ an toàn

Đó mới chỉ là số liệu thống kê được tại các xã nghèo và khó khăn của huyện nơi

có nhiều người dân tộc Tày sinh sống nhất của huyện Bảo Lạc Thực tế cho

ta thấy trên địa bàn toàn huyện còn nhiều xã có người Tày sinh sống, người phụ nữ

cũng chưa được tiếp cận nhiều với dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ chăm sóc sức

khỏe sinh sản nói riêng

4 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng có những nguyên nhân chủ

yếu sau:

1 Do trình độ dân trí của người Tày còn thấp, việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc

sức khỏe – KHHGĐ còn gặp nhiều khó khăn

2 Xuất phát từ chính nhận thức cảu phụ nữa nơi đây là phụ thuộc và chồng và gia

đình nhà chồng, người phụ nữ rất chăm chỉ làm việc và nghe theo mọi quyết định

của người chồng Tư tưởng đó đã ăn vào nếp nghĩ của phụ nữ nơi đây

3 Do nhận thức và cách nghĩ của người đàn ông trong gia đình nghèo người Tày

Họ cho rằng: “chuyện sinh đẻ là của đàn bà nên những vấn đề có liên quan là đàn

bà phải đảm nhiệm”

4 Kinh tế truyền thống của người Tày là kinh tế nương rẫy, rất đòi hỏi cường độ

lao động cơ bắp là cao Do đó sức lao động trở thành nguồn tài sản quan trọng

nhất Trong xã hội có điều kiện sản xuất tốt, vì vậy đã hình thành một tâm lý cần

đông con nhiều cháu

5 Người dân tộc Tày có tâm lý coi trọng con trai, vì gia đình người Tày theo

truyền thống là phụ hệ Họ quan niệm con trai là trụ cột gia đình Do vậy đẻ nhiều

con gai rồi nhưng họ vẫn sẽ cố đẻ để có con trai Người Tày đã có cả một hệ thống

ca dao tục ngữ ca ngượi việc sinh con trai, ca thán sinh con gái:

“ Đẻ con gái như gáo nước đổ đi rồi không lấy lại được

Trang 10

Đẻ con gái chỉ giúp nhà một thời

Con trai mới giúp cả đời”

6 Mặc dù các cấp lãnh đạo đã quan tâm đến công tác dân số - KHHGĐ, tuy nhiên

chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của công tác nên

quan tâm chưa đúng mực, chỉ đạo thiếu tập trung, có những lúc buông lỏng Một

bộ phận cán bộ Đảng viên chưa thực sự bán sát tới từng thôn bản, chưa thực sự

nhiệt tình, tâm huyết với công tác

7 Đối với tuyên truyền thì chỉ chú trọng và phụ nữ còn đối tượng quan trọng là

nam giới chưa thực sự được chú ý dẫn đến phụ nữ là người thực hiện chính các

biện pháp KHHGĐ

8 Chưa có công tác khen thưởng, khuyến khích cụ thể đối với những cộng tác

viên, đối tượng làm tốt Chưa chú trọng bồi dưỡng cho họ dẫn đến một bộ phận

cán bộ, cộng tác viên không nhiệt tình trong công tác

9 Đặc trưng văn hóa của dân tộc người Tày cũng có những ảnh hưởng mạnh mẽ

đến công tác tuyên truyền dân số Ở các làng Tày còn sản xuất nương rẫy, tính tự

cung tự cấp, du canh du cư, môi trường sống đóng kín thì vấn đề truyền thông dân

số gặp nhiều khó khăn

10 Do khoảng cách từ nhà đến trạm y tế rất xa địa bàn hiểm trở giao thông đi lại

khó khăn nên việc tuyên truyền cũng như tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

sinh sản cho phụ nữ còn có rất nhiều khó khăn

11 Cơ sở hạ tầng của các huyện xã người Tày sinh sống còn chưa được hoàn

thiện Các trạm y tế thì trang thiết bị sơ sài, cán bộ y tế trình độ thấp, ít có năng

lực

12.Do phong tục, tập quán của người dân tộc Tày quan niệm đẻ ở nhà để lấy “

nhau thai” chôn xuống dưới cột nhà ( nếu đẻ con trai với ý niệm con trai là trụ cột

gia đình) chôn dưới gầm giường ( nếu đẻ con gái với ý niệm con gái là người quán

xuyến việc nhà)

13.Việc tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe gặp nhiều khó khăn do chính

bản thân phụ nữ nơi đây không quan tâm đến và do tâm lý e ngại, không giám tiếp

cận với các dịch vụ và khi nghe các cán bộ, cộng tác viên tuyên truyền về vấn đề

sinh đẻ

14.Việc tuyên truyền bằng tờ rơi, tranh ảnh không đạt hiệu quả do người dân nơi

đây không biết chữ, trình độ dân trí còn thấp

III GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRONG DÂN SỐ KHHGĐ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI PHỤ NỮ

NGƯỜI TÀY HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG

Ngày đăng: 27/11/2015, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kế hoạch dự án - xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được nếu như chỉ có một giới
Bảng k ế hoạch dự án (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w