1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀNTHÔNG ĐẠI CHÚNG

32 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 176,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về hình ảnh người phụ nữ trên các phương tiện truyền truyền thông làmột chủ đề đã từng được đề cập bởi các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng nhưtrên thế giới.. Một số nghiên cứu

Trang 2

Nghiên cứu về hình ảnh người phụ nữ trên các phương tiện truyền truyền thông làmột chủ đề đã từng được đề cập bởi các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng nhưtrên thế giới Ở nước ngoài, hình ảnh người phụ nữ được xem xét trong nhiều ngữcảnh, như trên tạp chí thời trang, trên các quảng cáo thương mại, trên các truyệntranh dành cho thiếu nhi, trên phim ảnh, tin tức thời sự… Hầu hết các nghiên cứutập trung trả lời các câu hỏi: Hình ảnh người phụ nữ được thể hiện như thế nào?Những ẩn ý đằng sau những hình ảnh đó là gì? Ảnh hưởng nếu có của chúng đối

với công chúng? Một số nghiên cứu có quy mô lớn như Global Media Monitoring

Project (Dự án kiểm soát truyền thông toàn cầu) còn tìm hiểu về tần suất xuất hiện

hình ảnh người phụ nữ trên truyền thông, trong đó bao gồm cả số lượng nữ phóngviên/ biên tập viên/ phát thanh viên trong ngành truyền thông

Mặc dù đã có một số chuyển biến, hình ảnh người phụ nữ vẫn còn bị đặt trongnhững khuôn mẫu cứng nhắc về tính cách, vai trò xã hội và nghề nghiệp Trongquảng cáo thương mại, phụ nữ thường gặp chủ yếu với hình ảnh người nội trợ.Đặc biệt hình ảnh phụ nữ còn được đưa ra như những biểu tượng gợi dục Cáchlàm này được xem là sự hạ thấp giá trị và vị thế của người phụ nữ Điều này khôngchỉ ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của người phụ nữ mà còn ảnh hưởng đến sự

Trang 3

phát triển chung của gia đình và xã hội khi truyền thông không phản ánh kháchquan và đầy đủ vai trò và vị thế của giới nữ.

Thông qua đề tài tìm hiểu về “Xã hội hóa vai trò giới trên một số phương tiện truyền thông” nhằm thấy được một số vai trò của người phụ nữ trên phương tiện

truyền thông Ngoài ra tìm ra những điểm mới về sự thay đổi vai trò và vị trí củangười phụ nữ trên một số phương tiện truyền thông hiện nay và một thực trạng sựlạm dụng hình ảnh người phụ nữ trong một số chương trình quảng cáo Từ đó cóđược những hiểu biết và nhận định ban đầu về vấn đề bất bình đẳng giới trên một

số phương tiện truyền thông hiện nay

2 Câu hỏi nghiên cứu.

• Hình ảnh người phụ nữ trên truyền thông hiện nay như thế nào?

• Có hay không những hiện tượng phân biệt đối xử với phụ nữ trên truyềnthông?

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Xã hội hóa vai trò giới trên một số phương tiện truyền thông

3.2 Khách thể nghiên cứu.

• Tài liệu tạp chí

• Tài liệu internet

• Chương trình truyền hình, báo,…

3.3 Phạm vi nghiên cứu.

Trong đề tài này chúng tôi tập trung tìm hiểu về tần suất xuất hiện và vai trò nắmgiữ của người phụ nữ trên một số phương tiện truyền thông, đặc biệt là truyềnhình, từ đó cũng đưa ra những nhận định và so sánh với nam giới trong lĩnh vựcnày

Trang 4

Thời gian nghiên cứu: Tháng 3/2010.

4 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn.

4.1 Ý nghĩa khoa học.

Đề tài nhằm áp dụng một số khái niệm và phương pháp xã hội học vào quá trìnhnghiên cứu (phương pháp phân tích tài liệu) Thông qua đề tài cũng góp phần làmsáng tỏ một số khái niệm truyền thông đại chúng, giới, bất bình đẳng giới…và vậndụng một số lý thuyết xã hội chuyên biệt như xã hội học gia đình, xã hội học vềgiới, xã hội học truyền thông đại chúng

4.2 Ý nghĩa thực tiễn.

Đề tài nhằm đưa đến hiểu biết khái quát nhất về vấn đề hình ảnh người phụ nữ trênmột số phương tiện truyền thông, về các khía cạnh như tần suất xuất hiện, vị trí,vai trò…của người phụ nữ trên một số phương tiện truyền thông đại chúng, đặcbiệt là truyền hình và thông qua các chương trình quảng cáo Đề tài liên quan đếnvấn đề bất bình đẳng giới- một vấn đề xã hội, đồng thời cũng là vấn đề rất quantâm của xã hội học học nói chung và Xã hội học về giới nói riêng

Thông qua đề tài cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm đưa đến cách nhìn vàđánh giá bình đẳng hơn giữa phụ nữ và nam giới

5 Mục đích nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu.

Trang 5

5.2 Mục tiêu nghiên cứu.

• Tìm hiểu tần suất xuất hiện của người phụ nữ trên truyền hình qua một sốnghiên cứu

• Tìm hiểu vai trò người phụ nữ nắm giữ trong các lĩnh vực của truyền thông,đặc biệt là trên truyền hình, báo in

• Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong quảng cáo

• So sánh với tần suất xuất hiện và vai trò nắm giữ trên một số phương tiệntruyền thông của nam giới

6 Phương pháp nghiên cứu.

Trong đề tài này, do điều kiện thời gian và tính chất phức tạp của vấn đề nênchúng tôi lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu để tìm hiểu về vấn đề “Hình ảnhngười phụ nữ trên một số phương tiện truyền thông”

7 Giả thuyết nghiên cứu.

• Hiện nay hình ảnh người phụ nữ trên truyền hình giữ một vai trò quan trọng

và bình đẳng hơn với nam giới

• Vai trò của đa số phụ nữ trên các phương tiện truyền thông đại chúng đều

bị hạn chế, họ thường được mô tả với vai trò là người nội trợ, gia đình hơn

là những công việc xã hội

Trang 6

• Lý thuyết phân tích tâm lý.

Lý thuyết phân tích tâm lý của Freud chủ yếu tập trung quan sát trẻ em về các đặctính sinh dục của chúng (như nỗi lo sợ bị thiến hay sự đố kỵ về kích thước dươngvật) Lý thuyết này chưa được củng cố nhiều bằng các nghiên cứu thực nghiệm

Một vấn đề với một số biến thể của lý thuyết này là giả thuyết rằng trẻ em học vềgiới là bởi đó là khía cạnh tự nhiên của thế giới nhiều hơn là bởi đó là khía cạnhquan trọng của thế giới xã hội

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng tầm quan trọng mà trẻ em đánh giá giới còn phụthuộc vào tầng lớp xã hội, chủng tộc, cấu trúc gia đình, bản năng giới tính của chamẹ…

Luận điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu xã hội hóa giới là: Bởi vì các bé trai

Trang 7

nhau, do đó chúng phát triển các mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng, kỹ năng vàcác khí chất khác nhau Nói ngắn gọn là chúng trở thành những mẫu con ngườikhác nhau đàn ông và đàn bà- mà hầu như chúng không bao giờ hỏi tại sao chúnglại khác nhau và vì đâu chúng lại như thế.

1.1.2 Lý thuyết chức năng về giới của Mirriam Johnson.

Vị trí xã hội cơ bản của phụ nữ trong cấu trúc gia đình như là nhà sản xuất chínhcủa các chức năng cốt yếu (xã hội hóa trẻ con và tân tạo về mặt tình cảm các thànhviên trưởng thành của nó, các hoạt động chủ yếu đối với sự cấu kết xã hội và sự táisản xuất giá trị) Trong những hoạt động đó người phụ nữ phải định hướng cáchthể hiện tình cảm, tức là sự hòa hợp và sự phản ứng trong quan hệ có tính chất tìnhcảm Các chức năng này của phụ nữ trong gia đình và định hướng về sự thể hiệntình cảm ảnh hưởng đến các chức năng trong mọi cấu trúc xã hội khác của họ, đặcbiệt là kinh tế Phụ nữ, ví dụ, được hướng đến những nghề nghiệp có tính chất thểhiện tình cảm điểm hình, còn trong các nghề nghiệp mà đàn ông thống trị, họ được

kỳ vọng có tính chất biểu cảm nhưng đồng thời bị trừng phạt về định hướng này.Các kìm hãm thể chế và văn hóa đòi hỏi phụ nữ phải yếu ớt và phục tùng trongmối quan hệ với chồng của họ, người thông qua phương tiện trung gian cạnh tranh

về kinh tế mang lại cho gia đình mình sự an toàn ở cấp độ kinh tế Nhìn nhận mẹ

chúng trong vai trò “người vợ yếu đuối”, bọn trẻ học cách tôn sùng chế độ gia

trưởng và hạ thấp giá trị của sự biểu cảm với ý nghĩa là một thái độ quan hệ đingược lại phương tiện mạnh mẽ và dường như có giá trị hơn Sự đánh giá tính chấtphương tiện của nam giới là có tính hiệu quả hơn biểu cảm của nữ giới lan rộng vàphổ biến trong nền văn hóa

1.1.3 Lý thuyết phân tích xung đột trong các khía cạnh về giới của Chanet Chafetz.

Chanet thăm dò các cấu trúc và điều kiện xã hội ảnh hưởng đến cường độ của sựphân tầng giới tính – hay các bất lợi của phụ nữ - trong mọi xã hội và mọi nền văn

Trang 8

hóa Các cấu trúc và điều kiện này bao gồm các yếu tố phân biệt giới tính về vaitrò, ý thức hệ gia trưởng, gia đình và tổ chức lao động, các điều kiện định khuônnhư các khuôn mẫu sinh sản, sự phân cách của các vị trí lao động và nội trợ, thặng

dư kinh tế, tính chất phức tạp về kỹ thuật, mật độ dân số và sự khắc nghiệt về môitrường- tất cả được nhận thức như là các biến số Sự tương tác giữa các biến sốnày quyết định mức độ của sự phân tầng giới tính, vì chúng định khuôn các cấutrúc chủ yếu của sự nội trợ và sự sản xuất kinh tế và mức độ mà các phụ nữ diđộng giữa hai lĩnh vực này Quan điểm của Chafet là phụ nữ chịu đựng sự bất lợi

ở mức thấp nhất khi họ có thể cân bằng giữa các trách nhiệm nội trợ với các vaitrò quan trọng và độc lập trong nền sản xuất thị trường

Nội trợ/gia đình được xem không phải là một lĩnh vực nằm ngoài lao động, mộtkhu vực của sự tình cảm và sự nuôi dưỡng, mà là một lĩnh vực trong sự lao độngdiễn ra- sự chăm sóc trẻ, công việc nhà và đôi khi cũng là lao động (khi ở gia đìnhnông trại) mà đối với chúng có những ban thưởng vật chất vượt khỏi phạm vi nộitrợ Sự tiếp nhận của phụ nữ đối với các ban thưởng đó hoặc thông qua sự nội trợhoặc thông qua sự sản xuất thị trường trở thành sự giảm nhẹ các yếu tố bất lợi xãhội và hình thái của sự nội trợ là cấu trúc chủ yếu tạo sự thuận lợi hay gây trở ngạicho sự tiếp nhận này

1.2 Các khái niệm công cụ.

1.2.1 Xã hội hóa.

• Xã hội hóa là quá trình thích ứng và cọ xát với các giá trị, chuẩn mực vàhình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó một thành viên xã hội tiếp nhận vàduy trì khả năng hoạt động xã hội Xã hội hóa nghiên cứu xem với tư cách là điềukiện và các yếu tố cấu thành, cơ cấu và quá trình xã hội, văn hóa, kinh tế và sinhthái có tác dụng bằng cách nào và ở mức độ nào đạt tới sự phát triển nhân cáchcon người (Từ điển xã hội học)

Trang 9

• Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành độngtương ứng với vai trò của mình ( Neli Selser)

Hay một cách định nghĩa khác liên quan đến quá trình phát triển nhân cách củacon người:

“Xã hội hóa là quá trình trong đó trước hết các giá trị và chuẩn mực, và cả năng lực nhận thức cũng được nội tâm hóa, nghĩa là thấm sâu vào nhân cách của các cá nhân hành động” (G Ritzer; 1999)

Các nhà xã hội học sử dụng thuật ngữ xã hội hóa để mô tả quá trình mà nhờ đócon người học được sự tuân thủ các chuẩn mực xã hội, một quá trình mà tạo ra khảnăng có thể kéo dài xã hội và sự chuyển giao văn hóa của xã hội giữa các thế hệ

1.2.2 Giới tính và giới.

Giới tính:

Theo Ann Oakley, được xem là người đầu tiên đưa thuật ngữ giới vào trong xã hộihọc những năm 1970: giới tính là những khác biệt sinh lý căn bản nhất giữa đànông và đàn bà, khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh sản

Một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến yếu tố sinh học và gen trong khi định nghĩa

“giới tính là những đặc điểm sinh học của phụ nữ và nam giới được xác định bởi gen” Luật bình đẳng giới (2006) định nghĩa “giới tính chỉ các đặc điểm sinh học

của nam, nữ”.

Còn các nhà nhân học xã hội sử dụng thuật ngữ giới tính để chỉ những đặc điểmnhận dạng bên ngoài phân biệt một người nam và một người nữ, cần thiết cho sựtái sản xuất sinh học của con người

Một điều khác biệt rõ ràng nhất giữa hai giới tính là phụ nữ có thai và sinh con cònnam giới thì không Đàn ông và đàn bà còn khác nhau ở hoocmon, kích thước bộnão, các đặc điểm giới tính thứ cấp (là những đặc điểm cơ thể khác biệt giữa nam

và nữ không liên quan trực tiếp với sinh sản)

Trang 10

mà được xem là cả nữ giới và nam giới cùng những mối quan hệ tương tác củahọ” (World Food Programme: Gender Glossary, 1996, tr.26-27).

• Luật bình đẳng giới định nghĩa: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam

và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”

Giới do vậy là một thuật ngữ chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳvọng liên quan đến nam và nữ Là một phạm trù xã hội, giới cũng giống nhưchủng tộc, tộc người và đẳng cấp, trong một mức độ lớn, sẽ quyết định cơ hội cuộcsống của con người, xác định vai trò của chúng ta trong xã hội và trong nền kinh

tế Từ những phân tích đó, có thể khái quát định nghĩa về giới như sau:

• Giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ.Trong mối quan hệ này có sự phân biệt vai trò, trách nhiệm hành vi xã hội mongđợi và quy định cho mỗi giới, phù hợp với đặc điểm văn hóa, kinh tế, chính trị và

1

M.L Andersen: Thinking about Women, p 20

Trang 11

tôn giáo Do vậy nó luôn biến đổi theo thời gian và có sự khác biệt theo khônggian (Hoàng Bá Thịnh, 2005)

• Các đặc điểm về xã hội, liên quan đến vị trí, tiếng nói, công việc của ngườiphụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội được gọi là giới Đây là những đặcđiểm có thể đổi chỗ cho nhau, ví dụ: Phụ nữ có thể làm bộ trưởng bộ quốc phòng,nam giới có thể làm người nuôi dạy trẻ

Giới không bất biến mà thay đổi tùy theo sự biến đổi của điều kiện kinh tế, xãhội, chính tri, văn hóa, tập quán…Ví dụ: Địa vị xã hội của phụ nữ hiện nay hoàntoàn khác so với phụ nữ thời phong kiến Ngay như ở thời nay thì địa vị ngườiphụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống với phụ nữ ở đô thị Vì vậy khinói tới quan hệ giới thì cần phải xem xét đến các đối tượng cụ thể và hoàn cảnh

cụ thể của họ

( Nguồn: Bình đẳng giới và kỹ năng sống- Bộ tài liệu đào tạo dành cho nữ và nam

thanh niên hiện nay)

1.2.3 Vai trò giới.

Vai trò giới là một hệ thống chuẩn mực hành vi được đặc biệt quy gán cho đànông và đàn bà trong một nhóm hay hệ thống xã hội nhất định Theo cách phân tíchcủa Khoa học xã hội, nó có thể là một dạng của phân công lao động theo giới.Giới là một thành phần của một hệ thống giới/ giới tính có liên quan đến “hệ thốngsắp xếp mà qua đó một xã hội chuyển giao bản năng giới tính thành những sảnphẩm của hoạt động con người”.(Reiter 1975:159)

( Nguồn: http:// en.wikipedia.org/wiki/ Gender role )

• Vai trò giới là những công việc khác nhau mà phụ nữ và nam giới thực tếđang làm Những công việc này xuất phát từ những mong đợi/ trông chờ của xãhội đối với mỗi giới

Trang 12

( Nguồn: Bình đẳng giới và kỹ năng sống- Bộ tài liệu đào tạo dành cho nữ và nam

thanh niên hiện nay)

• Vai trò giới là những hành vi được học trong bất kỳ một cộng đồng xã hộinào hay một nhóm mà quy định những hành động, nhiệm vụ và trách nhiệm củanam giới và nữ giới Vai trò giới bị chi phối bởi độ tuổi, giai cấp, và bởi môitrường địa lý, kinh tế, chính trị Những biến đổi trong vai trò giới thường xảy ratương ứng với sự biến đổi kinh tế, điều kiện chính trị và tự nhiên bao gồm cảnhững hoạt động phát triển

( Nguồn: Kỷ yếu hội thảo giới- truyền thông và phát triển)

1.2.4 Xã hội hóa vai trò giới.

Theo Heslin: “Một phần quan trọng của xã hội hóa là việc học tập cách thể hiệnmột cách văn hóa vai trò giới” Do vậy xã hội hóa vai trò giới chính là việc họccác hành vi và thái độ phù hợp với một giới tính nhất định Các cậu bé học cáchlàm các cậu bé và các cô bé học cách làm các cô bé

Việc học này xảy ra ở nhiều kênh trung gian của quá trình xã hội hóa như gia đình,nhà trường, bạn bè, công việc và truyền thông đại chúng

( Nguồn: Dịch từ http://en.wikipedia.org/wiki/ socialization)

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu xã hội hóa vai trògiới trên một số phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, truyền hình…

1.2.5 Truyền thông đại chúng.

Khái niệm “truyền thông đại chúng” chủ yếu dùng để chỉ quá trình giao tiếp, thôngtin trên quy mô rộng lớn, đại chúng cả về nội dung bản tin, nguồn phát, triueenr tin

và người tiếp nhận, sử dụng thông tin

Truyền thông đại chúng là những thiết chế sử dụng những tiến bộ kỹ thuật ngàycàng tinh vi của công nghệ để thực hiện sự giao lưu tư tưởng, những mục đích

Trang 13

thông tin, giải trí, và thuyết phục tới đông đảo khán thính giả, cho dù bằng báo chí,truyền thanh, truyền hình, sách, báo, tạp chí hay bất cứ gì đó”

( Nguồn: Tonybilton và các cộng sự, “Nhập môn xã hội học”, tr.381)

Truyền thông đại chúng là một cách truyền tín hiệu bằng radio, internet hay tivi tớimột đại chúng (thính giả, độc giả hay khán giả)

( Nguồn: Từ điển wikipedia)

1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.

Xã hội hóa vai trò giới trên các phương tiện truyền thông đại chúng là một đề tàikhá mới ở Việt Nam Mặc dù vậy nó lại có một nển tảng khá vững vàng bởi cónhững tác phẩm nghiên cứu về giới và truyền hình, nhưng đa số vẫn là các nghiêncứu ở nước ngoài Trong quá trình tìm hiểu vấn đề, nhóm chúng tôi cũng đã tiếpcận với một số tác phẩm liên quan đến vấn đề về giới, vai trò giới và truyền thông

Nghiên cứu “Television and Gender role” (Daniel Chandler) Trong tác

phẩm tác giả đã phân tích và đưa ra một vài số liệu cho thấy sự khác biệttrong việc mô tả giới nam và nữ trên truyền hình và phần nào ông khẳngđịnh vai trò của truyền hình trong việc củng cố nên những khuôn mẫu vaitrò giới cho trẻ em

Nghiên cứu mang tên “Media and the gender” (John K Simon): Tác phẩm

nêu ra số liệu và một số đặc điểm của nam giới và nữ giới trên truyền hình,chân dung của nhà truyền thông theo góc độ giới

Chương 2: Xã hội hóa vai trò giới trên một số phương tiện truyền

Trang 14

ảnh phản ánh sự khác biệt giới là rất phổ biến Do đó, truyền thông đại chúng thựchiện vai trò quan trọng của mình trong việc gây dựng quan niệm về vai trò giới,góp phần đem lại cho người xem những mô hình điển hình trong một thế giới rộnglớn.

Nghiên cứu về sự xuất hiện các hình ảnh nam - nữ trên truyền thông, truyền thôngđại chúng thường rập khuôn trong sự trình bày các vai trò giới So với phụ nữ,nam giới thường theo mẫu hình năng động, quyết đoán, thông minh, tháo vát.Ngày nay, sự thể hiện vai trò giới đã đa dạng hơn và bớt đi tính khuôn mẫu so vớiquá khứ Phụ nữ và nam giới nhìn chung đã bình đẳng hơn trên tivi và phim ảnhcho dù các nhân vật nam có thể vẫn ở địa vị lãnh đạo ( Nghiên cứu của DavidGauntlett, 2003)

Hình ảnh nam – nữ trên truyền thông cũng là vấn đề quan tâm ở Việt Nam trong

10 năm trở lại được Phần lớn các nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi: Hình ảnhngười phụ nữ trên truyền thông hiện nay như thế nào? Có hay không những hiệntượng phân biệt đối xử với phụ nữ trên truyền thông? Các phát hiện cho thấy, hìnhảnh nam- nữ trên các phương tiện truyền thông vẫn được thể hiện trong nhữngkhuôn mẫu truyền thống Trong các quảng cáo thương mại, hình ảnh người phụ nữvẫn được giới thiệu như những bà nội trợ thuần túy hoặc như những biểu tượnggợi dục nhằm gây sự chú ý đối với người tiêu dùng

2.1 Xã hội hóa vai trò giới trên truyền hình.

Số lượng nam giới và nữ giới xuất hiện trên truyền hình.

Số lượng phụ nữ xuất hiện trên tuyền hình ít hơn là nam giới rất nhiều Tỉ lệ namgiới xuất hiện trên truyền hình nhìn chung so với nữ giới là 3 đến 4 nam trên 1 nữ,

70 – 80 % những nhân vật xuất hiện trong các chương trình thiếu nhi là nam giới

và trên các bộ phim hoạt hình dành cho thiếu nhi nam giới xuất hiện nhiều hơn nữgiới với tỉ lệ là 10 nam trên 1 nữ Thậm chí là trong các phim truyền hình dài tậpthì tỉ lệ này cũng là 7 nam trên 3 nữ Số lượng nam giới cũng đông hơn nữ giới

Trang 15

hình, ta nhận thấy trong đời sống hàng ngày phụ nữ đông hơn rất nhiều so với namgiới Ở góc độ này truyền hình không phản ánh được thực tế nhân khẩu học quansát được, tuy nhiên nó lại phản ánh khá rõ sự phân phối quyền lực và các giá trịcủa người nắm giữ nó.

Giới và nghề nghiệp.

Vai trò của phụ nữ trên truyền hình đa số đều bị hạn chế Bên cạnh đó vai trò củanam giới rộng hơn và thú vị hơn Phụ nữ thường xuất hiện trên truyền hình với cácvai trò như người nội trợ, người mẹ, thư ký và y tá; người đàn ông không chỉ xuấthiện với vai trò của người chồng, người cha mà còn là vận động viên, người nổitiếng và các trùm tư bản Khi nói đến phụ nữ trên truyền hình thường nhắc đếntình trạng hôn nhân hơn đàn ông Đàn ông trên truyền hình thường được miêu tảnhư những người đi làm, có xu hướng địa vị cao hơn trong xã hội và ít khi họđược mô tả khi ở nhà Phụ nữ thì thường được mô tả thành công trên các lĩnh vựcnhư công việc nội trợ trong khi đó không được hạnh phúc lắm trong đời sống cánhân của họ Đây thực sự là phân phối vai trò nghề nghiệp trên truyền hình chậmhơn so với thực tế tại các công sở

Trong những năm gần đây có sự tăng đáng kể về số lượng phát thanh viên thời sự

là nữ giới Trước đây các đạo diễn tryền hình ( phần lớn là nam giới) đã cho rằng

Trang 16

khán giả ít xem trọng phụ nữ hơn Tuy nhiên, có người cũng cho rằng sự hấp dẫn

về ngoại hình có thể đóng vai trò nhiều hơn trong việc họ lựa chọn hơn chỉ vìphát thanh vên đó là nam giới

Phụ nữ trong các bản tin và chương trình truyền hình.

Tin tức được coi là tấm gương phản chiếu thế giới Thế nhưng, kết quả nghiên cứucủa Dự án kiểm soát truyền thông toàn cầu trên khoảng 13000 bản tin của các báo,đài phát thanh và đài truyền hình ở 76 quốc gia dường như không chứng minhđược điều đó Phụ nữ hiện chiếm khoảng 52% dân số thế giới, chỉ chiếm 21%trong số các chủ đề hay được nhắc đến trong thông tin Trong khi đó tỷ lệ này là79% ở nam giới Điều đó có nghĩa cứ 5 nam giới được phỏng vấn hay nhắc đếntrong các bản tin thì mới có 1 phụ nữ

Cũng theo báo cáo, phụ nữ là trung tâm của 10% tin tức trên thế giới Thông tin vềphụ nữ trên truyền thông chủ yếu giới hạn ở những ngôi sao trong lĩnh vực nghệthuật, những nhà quyền quý hay các chuyên gia và đại diện chính quyền Chỉ có29% nội dung thông tin trên các phương tiện truyền thông là do phóng viên nữviết Trên truyền hình, phát thanh viên nữ và phóng viên nữ có xu hướng “biếnmất” khi họ nhiều tuổi hơn Hai chủ mục có phóng viên nữ nhiều hơn phóng viênnam là bản tin thời tiết trên đài phát thanh và truyền hình; tin tức về nạn đói, nhà ở

và phúc lợi xã hội Như vậy phụ nữ đang đứng cách khá xa so với vị trí của namgiới trong lĩnh vực truyền thông và thông tin

Đứng ở góc độ của người xem truyền hình, không có gì ngạc nhiên khi nhiều phụ

nữ được hỏi đã tỏ ra không hài lòng với các phương tiện truyền thông Một nghiêncứu tiến hành năm 1994 ở Anh cho biết phụ nữ cảm thấy chưa hài lòng với kháiniệm “các vấn đề phụ nữ” và dường như những vấn đề này không được chú trọngtrên các phương tiện truyền thông, trong khi phụ nữ rất cần được quan tâm

Vấn đề giới được thể hiện rõ qua việc trình bày cá hình ảnh phụ nữ và nam giớitrên phương tiện truyền thông đại chúng Một nghiên cứu về các thông tin quảng

Ngày đăng: 13/01/2016, 00:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w